Tạp chí Sông Hương - Số 451 (T.09-26)
Vỹ Dạ - nơi sông Hương lắng dòng
08:32 | 28/09/2026

NGUYỄN KHOA DIỆU HÀ

Những lúc nhớ dòng sông và thèm ngắm cái màu nước sông Hương thay đổi trong ngày, tôi ghé quán cà phê quen ngồi nhìn thật gần ngã ba nơi dòng nước mềm mại rẽ đôi bao quanh cồn Hến.

Vỹ Dạ - nơi sông Hương lắng dòng
Ngôi nhà chính của Cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị tại Châu Hương Viên - Ảnh: T.V.Dũng

Ghé nhiều thành khách quen, ông Thành chỉ khúc sông trước mặt: “Hồi tui còn nhỏ, mùa hè đi học về là nhảy ùm xuống sông tắm, bơi qua cồn Hến rồi bơi đến cái cồn đất nhỏ kia nước chỉ ngang bụng.” Ông kể chuyện, đôi mắt từng trải ánh lên nét cười hồn nhiên. Mái tóc đã bạc mà kỷ niệm thì vẫn xanh. Mới hay sự gắn bó của con người với bất cứ dòng sông quê nào cũng được tính bằng cuộc đời.

Tôi nhìn dòng nước và nghĩ về tự nhiên đã kiến tạo nên cuộc đất này. Hàng ngàn, hàng vạn năm qua, đất cát mỗi mùa lụt về ngang cồn Hến là đọng lại làm xuất hiện thêm nhiều cồn đất nhỏ. Địa hình lòng sông như thế làm cho dòng chảy sông Hương ở khúc này chậm hẳn lại, mặt nước bình lặng như mặt hồ nằm im soi bóng mây trời. Nhiều lúc tôi tự hỏi sông Hương có thật sự êm đềm như vậy không? Nếu viết một bản trường ca về sông Hương thì những chương đầu tiên sẽ là tiếng thác ghềnh ầm ào, tiếng suối róc rách và tiếng rừng già âm u khi dòng sông khởi nguồn từ đại ngàn Trường Sơn huyền thoại, đi qua gần 70 con thác lớn, nhỏ. Đoạn ngang qua miền đất xanh thẳm trúc tre này là chương bình lặng nhất để chuẩn bị cho dòng sông đổ ra biển. Cùng với cồn Hến, đất đai vùng này thuộc về Vỹ Dạ.

Lịch sử cho biết làng cổ Vỹ Dạ thành lập năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông. Ba mặt của làng đều giáp sông: sông Hương ở phía Bắc, sông Như Ý ở phía Tây và sông đào Lại Thế ở phía Đông, mỗi năm mùa lụt về để lại ven sông những bãi bồi phù sa màu mỡ, lau lách mọc dày nên thuở xa xưa làng có tên là Vy Dã - nghĩa là cánh đồng lau sậy (“Vy” là lau sậy, “Dã” là cánh đồng). Đây là ngôi làng đặc biệt trong những ngôi làng hiếm hoi ở Huế lấy cây cỏ đặt tên làng. Cũng có nhiều tên gọi khác nhưng chung quy cũng xoay quanh ý nghĩa “lau sậy”, như Vỹ Dã hay Vy Dạ. Theo cách đọc trại của người Huế, lâu dần Vy Dã thành Vỹ Dạ và tên gọi Vỹ Dạ được giữ cho đến bây giờ. 

Khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chọn xây dựng kinh thành ở vị trí ngày nay thì Vỹ Dạ trở thành vùng phụ cận. Cùng với Kim Long, Gia Hội, Vỹ Dạ là vùng đất được các ông hoàng và các quan triều Nguyễn chọn lập phủ đệ, xây biệt thự vườn. Những ngôi nhà rường với kiến trúc cung đình đã đưa Vỹ Dạ trở thành miền phủ đệ nổi tiếng của Huế với phủ của các ông hoàng triều Nguyễn như Tăng Duệ Hoàng Thái tử, Kiến An Vương, Diên Khánh Vương, Thiệu Hóa Quận Vương, Tuy Lý Vương, Kiến Tường Công, Phong Quốc Công... Nổi bật trong đó là phủ của Tuy Lý Vương, hoàng tử thứ 11 con vua Minh Mạng, một người thông minh và thơ hay. Cùng với phủ đệ hoàng gia, Vỹ Dạ còn gắn liền với họ Nguyễn Khoa, một dòng họ nổi tiếng về khoa bảng ở Huế. Ở đây còn hai ngôi nhà rường cổ của hai anh em cụ Nguyễn Khoa Đạm - Tham tri Bộ Học, Thượng thư trí sự thời vua Thành Thái và em trai là Nguyễn Khoa Tân - Thượng thư Bộ Hộ, sung Cơ Mật Viện đại thần tặng Đông các Điện Đại học sĩ thời vua Duy Tân; biệt thự Mai Trang của cụ Nguyễn Khoa Toàn - người vẽ mẫu tượng đồng Đức Phật hiện tôn trí ở chùa Từ Đàm, khu nhà vườn của ông Nguyễn Khoa Tùng và phu nhân là Đạm Phương nữ sử - một bậc anh thư hào kiệt của Huế nửa đầu thế kỷ XX mà tư tưởng tiến bộ của bà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Năm 1907, đường Thuận An (nay là đường Nguyễn Sinh Cung) được tráng nhựa thì con đường trở thành trục “xương sống” của Vỹ Dạ. Mười năm sau, Đập Đá được xây dựng và trở thành cửa ngõ đường bộ dẫn về Vỹ Dạ. Từ đây xuôi về hướng biển Thuận An hơn 2 km, điểm cuối của Vỹ Dạ tiếp giáp với Tây Thượng (phường Mỹ Thượng). Ranh giới về mặt địa lý là như thế nhưng về văn hóa, người Huế thường hay nói “vùng Vỹ Dạ”, hàm ý kéo dài thêm mấy trăm mét nữa, xuống đến chợ Mai với phủ của ông hoàng Định Viễn Quận Vương Nguyễn Phúc Bính - hoàng tử thứ sáu của vua Gia Long - người lập nên chợ Gia Lạc vào dịp Tết, ngày nay vẫn còn; có Châu Hương Viên của cụ Nguyễn Phúc Ưng Bình, hiệu Thúc Giạ Thị (cháu nội của Tuy Lý Vương); có biệt thự của cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy; chùa Ba La Mật của Viên Giác đại sư Nguyễn Khoa Luận; nhà thờ cụ Hương An Nguyễn Khoa Tự; nhà thờ cụ Tôn Thất Gián. Sự kéo dài “mạch phủ đệ” ông hoàng triều Nguyễn từ Vỹ Dạ xuống Tây Thượng làm cho “vùng văn hóa Vỹ Dạ” trở nên đặc biệt. Đây là vùng kiến trúc cung đình và dân gian đan xen, hài hòa trong sắc xanh của cây lá; hoàng gia và thường dân kính trọng và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong nếp sống và tính cách. Những ông hoàng đức độ, uyên bác mà lối sống thì khiêm tốn, bình dị đã làm cho Vỹ Dạ trở thành vùng đất thi phú, nghệ thuật mà ai cũng muốn ghé thăm. Cảnh đẹp, người tài thì đất Huế nhiều lắm nhưng sức thu hút của Vỹ Dạ vi diệu ở chỗ, đây là đất “ẩn tàng kinh luân”. Vỹ Dạ có những con người tài hoa, ngang tàng mà hóm hỉnh, hoàng gia mà bình dân, gói cả thế gian trong một nụ cười: “Vỹ Dạ thôn có lão vương tôn là Thúc Giạ/ Ưng ca, ưng hát, ưng giã gạo, hò khoan”. Ông hoàng Ưng Bình không mặc áo gấm, ông giới thiệu về mình và quê hương Vỹ Dạ như thế. 

*

Nhà tôi ở Bến Cạn, bến đò làm địa giới phân chia Vỹ Dạ và Tây Thượng. Cả quãng đời niên thiếu tôi đi học tại trường Vỹ Dạ (người dân Huế còn gọi là Thế Dạ), những ngôi nhà vườn xanh Vỹ Dạ cũng “đi” vào hồn tôi. Đó là những phủ đệ ẩn mình trong một thế giới cỏ cây thơm mát bốn mùa: hoàng mai, hải đường, mộc, cau, vải lệ chi, nhãn, măng cụt. Những chiếc cổng phủ kiểu thức cung đình đứng trầm mặc, thời gian in trên mái ngói gợi một màu quý phái, uy nghiêm. Hơn năm mươi năm qua lại con đường Thuận An - Nguyễn Sinh Cung, Vỹ Dạ trong tôi cũng kết mảng trầm tích. Tôi sống trong “vùng văn hóa Vỹ Dạ”, đi chợ Vỹ Dạ (chợ Mới) hàng ngày, qua về Đập Đá những ngày mưa lụt, đưa bạn về thăm “thôn Vỹ”, thăm nhà cô giáo Hoàng Thị Kim Cúc - người con gái Vỹ Dạ “lá trúc che ngang mặt chữ điền”, nguồn cảm hứng trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” nổi tiếng của Hàn Mặc Tử. Cho nên khi một người quen hờn dỗi: “Chừ làm chi còn Vỹ Dạ nữa mà bảo tui về thăm” làm tôi buồn mấy ngày. Gần một thế kỷ đã trôi qua, Vỹ Dạ bây giờ khác xa thời năm 1937 Hàn thi sĩ tương tư “người em Vỹ Dạ” và để lại bài thơ tuyệt tác. Nhưng trục đất vẫn còn đó, sông Hương vẫn còn đó thì linh khí của Vỹ Dạ không hề mất đi. Nhiều ngày lang thang tìm dấu tích xưa của Vỹ Dạ, vào thăm những ngôi nhà cổ, tôi nhận ra một vùng Vỹ Dạ trầm tích vẫn đó. Đây là nơi sông Hương lắng dòng, là một “vùng văn hóa” đặc biệt trong hành trình hơn 700 năm lịch sử của mảnh đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế.

Ông Vĩnh Phú, hậu duệ đời thứ năm của ngài Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh, đón tôi vào thăm phủ Tuy Lý - người Vỹ Dạ thường gọi phủ Ba Cửa. Chiếc cổng kiểu cách cung đình sơn màu hồng đậm lộng lẫy, uy nghi mà vẫn gần gụi. Xây dựng năm 1847, kiến trúc phủ Tuy Lý ngày nay còn khá nguyên vẹn và được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Tôi ngắm chân dung ngài Tuy Lý trong chiếc áo dài vải đen giản dị: vầng trán cao, đôi mắt sáng, thẳng thắn, nghiêm nghị mà nhân từ. Ngài đã chọn tên làng Vy Dã đặt tên hiệu cho mình và cũng là tên của gần như toàn bộ trước tác thơ văn của ngài. Bộ “Vy Dã hợp tập” của Tuy Lý Vương gồm 12 quyển (5 quyển văn, 6 quyển thơ và 1 tự truyện). Dưới mái nhà này, những đêm sâu Vỹ Dạ, một ông hoàng đã lắng nghe tiếng vườn khuya rồi thao thức nghĩ về những người dân Vỹ Dạ hiền lành, nghèo khó. Tình yêu đất và người Vỹ Dạ đã vượt lên thân phận hoàng gia, chỉ còn lại tình người với người, thấu hiểu và thương yêu, như trong bài thơ “Nói về nhà nông” của ngài: “... Bước bước dẫm sương móc/ Lối mòn như mỡ chao/ Trâu to ăn cỏ bãi/ Trâu nhỏ nẹp bờ ao/ Mạ cấy dưới đồng trũng/ Nước chuyền lên ruộng cao/ Suốt ngày gian khổ thế/ Già cả nhọc làm sao.”

Tôi nhìn những mộc bản và trước tác bằng tiếng Hán của ngài nằm im lìm trong tủ kính, trước đây từng ấm hơi người và bây giờ thì hồn thơ văn ấy đã thấm vào đất đai, cây cối Vỹ Dạ. Nắng chiều nghiêng nghiêng trên bức tường xưa, nơi còn ghi lời dạy của ngài: “Chữ hiếu làm đầu. Cái học vô cùng”. Thời gian như dừng lại trong không gian này.

Ông Vĩnh Phú dẫn tôi ra vườn chỉ một nền nhà trước đây là nhà Tả của phủ: “Tui nghe người lớn kể lại trước đây nhiều cuộc họp của những người yêu nước chống Pháp đã diễn ra trong ngôi nhà này. Hồi ấy ôn Bửu Đáp giữ nhà thờ, ôn tổ chức những cuộc họp ở đây và ở nhà của ôn phía bên kia đường”. Ông Vĩnh Phú có khuôn mặt giống ngài sơ của mình, nụ cười cũng thật hiền, đó là ông giáo mới về hưu sau bốn mươi năm dạy học ở vùng đầm phá Tam Giang và Phú Vang. Ông kể: “Người ta gọi ngài là “ông hoàng hiếu”, bởi lẽ sinh thời, ngài tự tay bưng cơm nước hầu mẹ, mẹ thời xong ngài mới xuống dùng cơm. Người ta cũng gọi ngài là “ông hoàng áo vải” vì thường ngày ngài chỉ mặc áo dài vải, mỗi khi có việc vào Đại Nội ngài mới mặc áo dài gấm. Những lúc có việc cần ra ngoài, ngài thường dặn lính hầu canh chừng không có dân qua lại ngài mới đi ra, bởi thấy ngài bà con mình thường đứng lại chắp tay xá chào, ngài sợ mất thời gian và phiền hà bà con”.  

*

Vỹ Dạ là vùng đất đặc biệt, vùng ngoại ô mà lại rất gần Đại Nội, là vùng dân ở cạnh hoàng gia nên cũng chứng kiến nhiều biến động lịch sử của Huế. Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi đất nước hoàn toàn rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn dần mất hết thực quyền và những cuộc khởi nghĩa chống Pháp của văn thân, sĩ phu yêu nước khắp nơi lần lượt thất bại vẫn có một dòng tư tưởng yêu nước, chống Pháp chảy mạnh mẽ và không dứt trên mảnh đất này mà khởi đầu là từ những ông hoàng, những gia đình hoàng tộc.

Tôi ghé thăm Châu Hương Viên của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877 - 1961). Nhà xưa đã được dựng lại, bến nước sông xưa vẫn còn đây, tưởng như mặt nước tĩnh lặng kia đang vọng lại tiếng hò mái nhì trong đêm sông Hương năm nào: “Chiều chiều trước bến Văn Lâu/ Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm/ Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông?/ Thuyền ai thấp thoáng bên sông/ Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”. Tâm tình ấy của cụ Ưng Bình trước vận mệnh đất nước đã nói hộ tiếng lòng của người dân Huế nên bài hò mái nhì lan tỏa nhanh chóng, trở thành bài ca dao được đọc lên khắp nơi. Cuộc khởi nghĩa chống Pháp do vua Duy Tân lãnh đạo bị thất bại (1916), cụ Ưng Bình đau buồn khi vua bị lưu đày biệt xứ, Trần Cao Vân, Thái Phiên và một số đồng chí bị xử chém, cụ đã mượn phép tỷ và hứng trong Kinh Thi để viết nên câu hò mà sau này cũng thành ca dao: “Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược/ Nước chảy ngược con cá vược lội ngang./ Thuyền em xuống bến Thuận An/ Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi”.

Nhà cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị và nhà cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy (1881 - 1968) cũng ở gần nhau. Hai cụ là chủ soái và phó soái của hội thơ Hương Bình thi xã nổi tiếng những năm đầu thế kỷ XX của Huế. Trong ngôi nhà xưa mát rượi dưới tán cây nhãn già, tôi thắp nén nhang trước di ảnh của cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy, người kể chuyện kinh đô thất thủ bằng thơ: “Tháng năm Ất Dậu tối hăm ba/ Súng nổ vang trời giặc Pháp qua/ Ngoài phố cửa nhà tan nát sập…”.

Bên cạnh cụ Thảo Am là di ảnh nhà báo cách mạng Nguyễn Khoa Bội Lan (1911 - 2014), con gái của cụ. Trong hồi ký về cha mình, nhà báo Nguyễn Khoa Bội Lan kể về những bài thơ ủng hộ Việt Minh của cha và những người bạn thơ của cha trong Hội thơ Hương Bình thi xã. Bất chấp mật thám dòm ngó, thơ văn của cụ Thảo Am vẫn vang lên, dựng lại tình hình xã hội lúc bấy giờ với lòng dân đã hướng về cách mạng, ủng hộ Việt Minh: “Cụ Hồ Chí Minh thiệt tình yêu nước/ Bao nhiêu năm bôn ba hải ngoại tính trước lo sau/ Nay chớp thời cơ đẩy mạnh phong trào/ Đuổi xâm lăng diệt phát xít dựng lại ngọn cờ đào của tổ tiên”; “Việt Minh là việc của mình/ Anh chị em ơi mau mau cầm cờ vác gậy mà đi biểu tình với bà con”.

Đó là không khí ở Vỹ Dạ và cũng là ở Huế những ngày trước cách mạng tháng Tám. Tôi đứng ở ban công ngắm cây nhãn già, mùa này nhãn đang ra hoa tỏa mùi thơm dịu nhẹ, ngẫm về tiếng lòng của một thế hệ văn sĩ, trí thức Huế đau đáu trước vận mệnh đất nước mà thương cảm và tự hào.

*

“Ngôi nhà vườn chuối”, đó là tên gọi do giới văn nghệ sĩ trong cả nước hẹn nhau khi ghé thăm nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm ở Vỹ Dạ sau khi ông rời các chức vụ và về nghỉ hưu năm 2006. “Trở về nhà/ Nói cười trong gian bếp cũ”. Vườn trồng nhiều chuối, một mảng màu xanh mát rượi, hiền hòa, dân dã. Sau nhiều trận bão lớn, bây giờ vườn chuối không còn, thay vào đó là những cây ăn quả tán lá xanh tươi, đúng chất nhà vườn Vỹ Dạ. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là con trai của nhà cách mạng Hải Triều Nguyễn Khoa Văn và là cháu nội của ông Nguyễn Khoa Tùng và bà Đạm Phương nữ sử - một nhân vật lịch sử, văn hóa nổi bật nửa đầu thế kỷ XX ở Huế. Cuộc đời ba thế hệ trong gia đình bà Đạm Phương gắn liền với dòng chảy của lịch sử vùng đất Huế từ trước năm 1930 cho đến thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và ngày đất nước thống nhất.

Bà Đạm Phương nữ sử (1881 - 1947) có khuôn mặt thật đẹp với đôi mắt sáng tinh anh, mái tóc đen nhánh. Bà tên thật là Nguyễn Phúc Công Nữ Đồng Canh, tự Quý Lương, hiệu Đạm Phương, là ái nữ thứ hai của Hoằng Hóa Quận Vương Nguyễn Phúc Miên Triện và là cháu nội của vua Minh Mạng. Vào thời ấy bà đã thông thạo Hán văn, Pháp văn và Quốc ngữ. Năm 1901, bà được tuyển chọn làm nữ quan coi sóc việc lễ nghi cho hậu cung nên được gọi là Đạm Phương nữ sử. Thông minh và có tư tưởng độc lập, tự do cho dân tộc, bà sớm tiếp xúc với các nhà yêu nước hoạt động ở Huế thời kỳ ấy như các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và một số đảng viên Cộng sản tiền bối như Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa do vua Duy Tân lãnh đạo, nhân sĩ, trí thức Huế vẫn nuôi dưỡng tinh thần kháng Pháp và khi có cơ hội là bùng lên như phong trào đấu tranh đòi ân xá cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Châu Trinh năm 1925. Tại lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh ở Huế, bà Đạm Phương thay mặt cụ Phan Bội Châu đọc điếu văn, chứng tỏ bà là người rất được cụ Phan Bội Châu tín nhiệm. Được sự khuyến khích của cụ Phan, bà thành lập Nữ công Học hội (15/6/1926) - được xem là tổ chức Hội Phụ nữ đầu tiên của Việt Nam - lan tỏa khắp ba miền với 18 hội cơ sở, khai mở phong trào phụ nữ cả nước tích cực hoạt động xã hội. Sự xuất hiện của Đạm Phương nữ sử bên cạnh các chí sĩ yêu nước cùng với tinh thần tiến bộ của Nữ công Học hội đã giúp phụ nữ cả nước vững tin tham gia vào những công việc mà hàng trăm năm trước chỉ dành riêng cho nam giới. Đó là sự giải phóng về định kiến và nâng cao vị trí xã hội cho phụ nữ. Tầm nhìn ấy của bà là sự tiên phong, là ánh sáng trí tuệ góp phần chuẩn bị cho những đổi thay sẽ xảy ra trong thế kỷ mới - thế kỷ XX - trên đất nước Việt Nam. Chính vì thế, không chỉ là trường học, Nữ công Học hội được xác nhận là phong trào yêu nước trước những năm 1930.

Ngày 13/6, trong ngôi nhà vườn Vỹ Dạ đầy nắng, nơi bà Đạm Phương từng ngồi viết bao điều tâm huyết, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm tổ chức kỷ niệm 100 năm thành lập Nữ công Học hội (1926 - 2026) và giới thiệu bộ sách Đạm Phương nữ sử toàn tập gồm những sáng tác tiểu thuyết, thơ văn, từ khúc, câu đối, biên khảo, dịch thuật của bà đến đông đảo giới học thuật và bà con trong họ Nguyễn Khoa. Sách do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành. Đây là nguồn tư liệu quý giá đối với giới nghiên cứu lịch sử, văn hóa khi tìm hiểu về tầng lớp trí thức có tư tưởng cách mạng, tiến bộ và phong trào yêu nước ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.

Ngôi nhà “vườn chuối” là kiểu nhà truyền thống Huế với ba gian, quét vôi màu vàng. Gian giữa, nơi trang nghiêm nhất, là nơi thờ tự ông bà. Còn lại trong nhà là các câu đối chữ Hán cùng với sách và sách. Từ ngôi nhà này, hai người con trai của bà là Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều) đã tham gia cách mạng ngay từ những ngày đầu tiên, vào Đảng, bị bắt tù đày vẫn một lòng kiên trung đi theo cách mạng. Nhà báo Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, nhà lý luận Mác-xít hàng đầu Việt Nam, người đã viết những bài tranh luận nổi tiếng về hai chủ đề “Duy tâm hay duy vật” và “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” làm dậy sóng báo giới thời ấy, câu nói cuối cùng của ông trước khi mất trên giường bệnh (ngày 6/8/1954 tại Hà Lũng - Thanh Hóa) vẫn là một tấm lòng với đất nước: “Hòa bình muôn năm, cách mạng thành công”.

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là thế hệ thứ ba trong gia đình đi theo cách mạng. Ông là nhà thơ thành danh trong dòng văn chương kháng chiến chống Mỹ với đỉnh cao là trường ca Mặt đường và khát vọng sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên. Huế những năm tháng ấy, phong trào đấu tranh đô thị lên cao với khẩu hiệu tập trung là chống Mỹ, chống chiến tranh, đòi hòa bình. Từ chiến khu gửi về, Mặt đường và khát vọng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là lời Tổ quốc kêu gọi: “Hãy đến đây làm người lính trung kiên/ Trong đội ngũ những người đi cứu nước”. Lời thơ ấy tiếp thêm sức mạnh cho bạn bè ông, cho những thanh niên làng Vỹ Dạ đang ngày đêm tranh đấu quyết liệt trong phong trào đô thị, là niềm tin về ngày thống nhất đất nước không còn xa nữa.

*

Nếu tính từ ngã ba Bằng Lãng - nơi sông Hương bắt đầu có tên gọi - chảy xuôi về biển thì đến đoạn ngang qua Vỹ Dạ là điểm giữa của chặng đường. Khúc sông này dòng chảy rất chậm, sông như trầm tư đời mình. Sau bao thác ghềnh, những cuồng nộ, yên ả, hoan ca, buồn vui rồi cũng lắng lại nơi này. Từ Đập Đá, tôi nhìn ra khoảng sông rộng trước bến đò Gia Hội, nơi ngày trước cụ Phan Bội Châu từng neo thuyền ngắm cảnh, lòng bất giác tự hỏi, đêm trăng nào trên sông Hương, người chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã xúc động khi nghe tiếng hò mái nhì man mác: “Đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá/ Đò về Vỹ Dạ thẳng ngã Ba Sình/ Lờ đờ bóng ngã trăng chênh/ Tiếng hò xa vọng nhắn tình nước non”, câu hò ấy làm cho cụ thấy “có mình” trong sông Hương như thơ cụ viết: “Hương ơi, e phải mày không/ Sông ấy hóa ra mình có…”. Tôi tin cụ cùng ánh trăng - dòng sông - câu hò - tâm sự yêu nước đêm ấy là tri âm gặp tri âm và cụ đã thấy “có” mình trong tất cả với Huế, với dòng Hương.

Người Vỹ Dạ cũng “có” mình trong sông Hương. Có trong sự đằm đẹ, hiền lành như nước cũng có trong sự mạnh mẽ, quật cường của sông Hương mùa lụt, nên con người Vỹ Dạ, đã nói là làm, đã theo là theo đến cùng. Một thế hệ thanh niên Vỹ Dạ, sinh trong thập niên 1940, nghe lời sông núi đã lên đường, đó là những người bạn cùng thời với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm như nhà thơ Nguyễn Đính (bút hiệu Trần Vàng Sao), họa sỹ Bửu Chỉ. Các anh là những hạt nhân nổi bật trong phong trào đô thị Huế, bị đánh đập, bị tù đày vẫn không lùi bước. Khi đất nước hòa bình, các anh trở về cuộc sống đời thường, tiếp tục làm thơ, vẽ tranh, công danh không màng tới. Nước sông Hương hiền hòa mà kiêu hãnh đã bồi đắp nên tính cách những người con Vỹ Dạ như các anh. 

Trong số ấy có một người con Vỹ Dạ “lòng như nước sông Hương” là nhà thơ Trần Vàng Sao. Ông tên thật là Nguyễn Đính, tham gia phong trào đấu tranh đô thị cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Trần Vàng Sao là một điển hình khác của Vỹ Dạ: dân dã, hiền lành, nhìn lúc nào cũng nhút nhát nhưng thơ ông chảy tràn mạnh mẽ một đời sống chân thật. Tôi đi cùng nhà thơ Võ Quê, một “chiến sĩ xung kích” trong phong trào đấu tranh đô thị Huế, về Vỹ Dạ. Đông Xuyên, con trai nhà thơ Trần Vàng Sao đón chúng tôi trong ngôi nhà mới khang trang. Đông Xuyên khoe: “Nhà ni do Vĩnh Xuân Quang con của họa sỹ Bửu Chỉ vẽ. Con và Quang là bạn thân của nhau”. Thế hệ cha đã có một tình đồng chí cùng chung lý tưởng, thế hệ con bây giờ cũng tiếp nối tình bạn thân, người Vỹ Dạ giúp nhau, thật đẹp. Nhà thơ Võ Quê và tôi thắp nhang viếng nhà thơ Nguyễn Đính, nụ cười ông vẫn móm mém, hiền hậu. Trước di ảnh của ông, Đông Xuyên đặt chiếc cúp hình ngòi bút nền đỏ với dòng chữ màu vàng Giải thưởng sách quốc gia. Đông Xuyên xúc động: “Năm 2021, tập thơ Bài thơ của một người yêu nước mình của ba con được trao giải B Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ 4. Giải thưởng đến sau khi ba con mất 4 năm, con rất vui. Cảm ơn các bác đã nhớ đến ba con!” Đông Xuyên cho biết sẽ xây thêm một gian nhà để trưng bày kỷ vật của nhà thơ Trần Vàng Sao và treo những bức tranh Bồ Đề Đạt Ma do ông vẽ, đó là mái nhà để người yêu mến đến thăm ông khi về Vỹ Dạ. Tôi nhìn mãi nụ cười hiền của người đã đi qua nhiều hiểu lầm, cô đơn, cuộc sống có lúc cay nghiệt vẫn một lòng với đất nước: “Tôi yêu đất nước này chân thật/ Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi/ Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi/ Và yêu tôi đã biết làm người/ Cứ trông đất nước mình thống nhất”. Một cuộc đời trọn vẹn với lý tưởng, với thơ và giải thưởng này cũng là một sự trọn vẹn với “một người yêu nước mình”. Nhà thơ Võ Quê luôn dành tình cảm quý mến ông: “Chọn bút hiệu Trần Vàng Sao - một ngôi sao vàng năm cánh trong trái tim một thanh niên yêu nước, còn gì kiên định và trong sáng hơn”. Nhớ có lần đi cùng Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Huế về trao tặng thưởng cho tác phẩm Gọi tìm xác đồng đội của ông mà vì ốm ông không đi dự. Chiều ấy, nhà thơ Trần Vàng Sao ngồi trước hiên nhà, gió mát rượi thổi từng cơn, ông chân chất trong bộ đồ bà ba màu nâu, miệng cười móm mém nhận quà. Tôi vào nhà ngắm những bức tranh Bồ Đề Đạt Ma ông vẽ, hồi ấy ông đã vẽ khá nhiều tranh Bồ Đề Đạt Ma, treo khắp nhà. Những bức tranh rất sống động, nhất là đôi mắt của Bồ Đề Đạt Ma như đang nhấp nháy nhìn.

Vỹ Dạ là vùng đất lạ lắm, đất hiền, người cũng hiền mà đi làm cách mạng thì dữ dội và mạnh mẽ vô cùng. Hồi nhỏ, mỗi lần đi học ngang qua Vỹ Dạ, tôi đều nhìn vào ngôi biệt thự sân vườn rất rộng với hai cây hải đường cổ thụ trước sân và cây măng cụt lão mà cành tán rộng che mát cả một khoảng đất rộng. Đó là nhà của cụ Tham Thuyên, cũng là nhà của họa sỹ Bửu Chỉ. Sau này nhờ công việc, tôi được chị Nguyễn Thị Tường Vy - vợ của họa sỹ Bửu Chỉ - dẫn vào thăm nhà và ngắm những tác phẩm cuối đời của anh. Cái giá vẽ bằng gỗ lim và chiếc tủ nhỏ đựng màu của anh vẫn còn đó, trên chiếc bàn gỗ cỡ lớn vẫn bày biện những món đồ sứ cổ mà anh yêu thích, trên chiếc ghế vẫn vắt chiếc áo da ngày anh mặc cuối cùng. Chị Tường Vy cho biết, mùa hè có khi anh ngồi vẽ ở trường lang phía sau, ở đó nhìn ra thấy một bến nước, sông Hương đoạn này khá rộng. Ở Huế, những nhà ở cạnh sông đều có một cái bến, tôi tin chắc họa sỹ Bửu Chỉ cũng đã từng bơi, lặn trên khúc sông này như tuổi thơ những đứa con trai, con gái nhà ở cạnh sông đều biết bơi. Đất phù sa bồi dày cho khu vườn phía sau. Tôi hình dung những ngày hè, tiếng ve kêu râm ran và gió từ sông Hương thổi lên mát rượi, rồi những ngày mưa lụt, màu nước sông bạc xa xa ngoài kia, trong khung cảnh ấy... họa sỹ Bửu Chỉ vẽ. Ngắm lại những bức tranh bút sắt và mực đen về đề tài chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình mạnh mẽ, quyết liệt của anh thấy thấp thoáng có nét mềm của nước. Họa sỹ Bửu Chỉ tham gia phong trào phản chiến ở Huế và các đô thị, anh vẽ tranh trong tù, vẽ giữa những cuộc tranh đấu, được báo chí nước ngoài in góp phần đưa tiếng nói đấu tranh cho hòa bình, tự do của Việt Nam đến với thế giới. Những bức tranh của họa sỹ Bửu Chỉ kết hợp với những ca khúc phản chiến của người bạn thân Trịnh Công Sơn đã đem Huế - Vỹ Dạ đến với thế giới. Và sau cùng, tên tuổi của họa sỹ Bửu Chỉ gắn liền với tên làng của anh “Bửu Chỉ ở Vỹ Dạ”.

Trở lại với dòng nước sông Hương, từ mùa hè năm 2008 đã không còn nhiễm mặn sau khi đập Thảo Long được xây dựng. Cuộc sống ngày càng phát triển, nước máy đến tận nhà nhưng trên những bến sông ở Vỹ Dạ, vẫn còn những mẹ, những chị rửa rau cho gánh hàng buổi sáng hay giặt chiếu, giặt màn; chiều hè trẻ con vẫn theo cha nhảy ùm xuống sông tắm mát. Người dân Huế vẫn uống nước sông Hương đầu nguồn. Trong ngôi nhà ở khu vườn chuối, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn tiếp bạn thơ văn ở mọi miền về thăm, trong những cuộc gặp ấy luôn có người bạn hiền Trần Vàng Sao: “Bạn cũ đến chơi/ Chép miệng sống cũng tạm được/ Phải cái hơi móm/ Cười trống trơ như Đỗ Phủ/ Nhìn nhau thương con mắt/ Còn lung lay ngọn lửa rừng/ Thời bom đạn”. Bạn bè uống chung một dòng nước nên thương nhau thiệt. Đất Vỹ Dạ này, đúng là nơi dòng sông lắng đọng, thủy chung. Cuối đời mỗi con người, chuyện kể nào cũng rưng rưng.

*

Chinh đưa tay đẩy thanh củi đang cháy sém, ánh lửa hồng soi rõ khuôn mặt Chinh với mái tóc điểm bạc lòa xòa trước trán và làn da nâu giòn, khỏe mạnh. Ba người bạn thời tiểu học, Chinh - Khuê và tôi ngồi nghe tiếng nước trong hai thùng bắp luộc sôi lụp bụp. Trời dần sáng, mặt nước sông Hương phẳng lặng như một tấm thảm nhung màu xanh lam, ngỡ như đưa tay ra là chạm được vào tấm thảm nước ấy.

Lò nấu bắp của nhà Chinh nằm ngay bên cạnh bến đò Cồn. Chinh thường dậy sớm từ 4 giờ sáng để nấu bắp: “Nhìn mặt sông yên lặng rứa thôi mà Chinh nghe được cả tiếng nước chảy đó Hà”. Chinh nói tự nhiên, mà tôi sửng sốt. Chỉ những người mà nước sông Hương thấm vào máu mới nghe được âm thanh vi tế ấy khi trên mặt sông gần như là sự yên lặng hoàn toàn. Nhà Chinh ở Cồn Hến này đã mấy đời, nghề nấu bắp trái có từ thời mạ Chinh. Hồi những năm 1980, mạ Chinh thường đi thuyền ghé các bãi biền ven sông Hương mua bắp. Dòng sông ban đêm tối thui, người trên thuyền phải hát, hò để các thuyền tránh nhau. Một buổi khuya trời gió lớn, chiếc đèn dầu nhỏ tắt, thuyền của mạ Chinh gặp tai nạn và bà đã nằm lại trên dòng sông cùng với mấy bao tải bắp, trái còn ứa nhựa tươi. Chinh nghỉ học, thay mạ giữ lửa cho lò bắp đã hơn bốn mươi năm rồi. Bây giờ thì tôi hiểu, Chinh nghe được tiếng nước sông Hương vì trong dòng nước ấy có một phần buồn thương của mạ Chinh.

Đi thăm biền bắp của Chinh, Khuê giảng giải cho tôi cách trồng bắp của người xưa ở Cồn, gọi là “trỉa bụi”. Người ta trỉa năm, sáu hạt bắp giống trong cùng một lỗ, khi cây con lớn chừng bảy lá thì tìm nhổ cây yếu, để lại ba cây khỏe mạnh:

- Cha ông mình nói ba cây chụm lại nên hòn núi cao thiệt đúng nghe. Bụi bắp ba cây sẽ mạnh hơn, cây dựa vào nhau mà cản được gió mưa, làm cỏ bắp cũng dễ, vun được đất vào gốc nên trái sẽ to hơn. Khuê nói rành rẽ.

- Nói như chuyên gia trồng bắp hí. Tôi cười.

Một thoáng lặng yên trong mắt Khuê.

- Mười tuổi đã theo ôn nội đi trồng bắp, rồi ba làm chủ nhiệm hợp tác xã, theo ba đi khắp. Cực lắm. Đất cồn ni thấm vào mình từ nhỏ.

Khuê kể tôi nghe những ngày bắp mới ra bông, trong sương sớm, cả cồn đất thơm ngát mùi hương dịu nhẹ, như là hương cau vào mùa. Phấn hoa bắp nhẹ bay trong gió, dưới ánh mặt trời nhìn có màu như kim tuyến, bám vào tóc, vào má. Tôi hình dung bạn mình trong vẻ đẹp với hoa bắp ở tuổi mười sáu mơ mộng và bây giờ nét duyên vẫn còn. Khuê là cô giáo mầm non, hơn ba mươi năm gắn bó với nghề, thiếu bằng cấp nên không được vào biên chế, bây giờ nghỉ hưu với mức lương hơn 3 triệu đồng/ tháng. Cầm cục đất mềm trong tay tôi hít một hơi dài, nghe có vị ngọt trong mùi thơm hăng hăng của đất phù sa. Khuê hớn hở:   

- Cồn Hến sắp cất cánh rồi, dự án xây cầu bắc qua Cồn Hến kinh phí hơn hai ngàn tỷ đồng đã được phê duyệt, báo đưa tin sẽ khánh thành vào năm 2030. Mừng quá mừng luôn!

Cồn Hến - nơi có nhà của hai người bạn tôi - là một phần của Vỹ Dạ nên thơ.

Tôi đi cùng Khuê quanh Cồn Hến. Cồn Hến bây giờ khác xa cái thời cách đây mấy chục năm tôi đi học. Nhà cao tầng, nhà xây kiên cố nhiều hơn, các con đường đều được đúc xi măng, quang cảnh chung quanh sáng rỡ hơn trước rất nhiều. Những lò hến vẫn đỏ lửa dù nghề cào hến trên sông Hương của bà con ở Cồn đã chấm dứt từ cách đây gần hai chục năm bởi vấn nạn hút cát lòng sông đã làm mất mái nhà của hến. “Đi mua hến từ nơi khác về nấu chơ em, nghề mình làm răng bỏ được” - chị Châu Thị Nở - năm nay gần tuổi 60, nói với tôi bằng nụ cười chân thật.  

- Chiếc thuyền kỷ niệm nghề cào hến còn không anh Cường?

- Anh vừa mới bán cho Hà Nội trưng bày em ơi, họ năn nỉ quá. Với lại anh để thuyền dầm mưa dãi nắng lâu ngày cũng hư.

Tôi quen anh Lê Văn Cường cách đây đúng mười hai năm khi làm phim “Đời hến”. Con hến ở Cồn rất đặc biệt, chỉ to bằng “ngón tay của cô Ba trong Nội” mà thơm ngon lạ lùng. Anh Cường cho biết: “Con hến ngon nhờ con nước. Nước sông Hương ngon nên hến Cồn ngon”. Ôi, sông Hương - sông mẹ hiền - cho phù sa làm nên bắp Cồn, cho thêm con hến, con cá, con tôm nuôi sống đời dân nghèo. Mẹ sông Hương ban tặng từ xa xưa, khi cồn Hến này còn hoang vu, chưa có người ở, cá tôm nhiều lắm, đêm đêm người đi soi tôm cá nên mới có tên gọi cồn Soi. Rồi có đôi vợ chồng đến dựng lều sinh sống, rồi dân cư kéo đến, quần tụ thành làng được tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Chuyện xưa tích cũ tôi nghe kể trong dịp dự lễ Rước Hến vào hai ngày 14, 15 tháng 6 âm lịch. Hôm ấy, anh Cường đánh trống lễ, anh nghiêm trang và thành kính vô cùng. Con hến ở Cồn không còn, nghề cào hến cũng hết nhưng cái ơn sâu dày từ thuở hàn vi cho đến nay bà con vẫn ghi nhớ. Đó là lễ nghĩa của những người sống nhờ vào sông.

Cồn Hến là một phần đất thiêng của Vỹ Dạ. Trong phong thủy của kinh thành Huế, thế rồng chầu - hổ phục, thì Cồn Hến là “Tả thanh long”, Cồn Dã Viên là “Hữu bạch hổ”. Trên Cửu đỉnh, hến cũng là một trong 162 sản vật được vua Minh Mạng cho khắc ở Dụ đỉnh. Thời hiện đại bây giờ cũng có, nhà văn - MC kiêm đầu bếp nổi tiếng thế giới Anthony Bourdain đã giới thiệu món cơm Hến trên kênh truyền hình CNN của Mỹ. Và như thế Cồn Hến - Vỹ Dạ cũng đã ra thế giới bằng con đường ẩm thực.

*

Vỹ Dạ tràn đầy trong tôi nên tôi muốn bạn mình về thăm Vỹ Dạ. Tôi sẽ đưa bạn đến những nơi chốn xưa mà mỗi câu chuyện là một mảng trầm tích của đất và người. Hãy ghé nhà may Minh Tân, nguyên trước là khu nhà vườn của hoàng thân Ưng Úy, người được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư mời tham gia kháng chiến từ Việt Bắc vào năm 1949. Hai vợ chồng cụ từ giã Vỹ Dạ lên đường ngay, tin vẫn còn trên trang nhất báo Cứu Quốc ngày 12/11/1949: “Cụ Ưng Úy làm Trưởng ban Vận động tòng quân tại Liên khu 4”. Tôi sẽ đưa bạn ghé thăm nhà cụ Nguyễn Phúc Bửu Đáp, con của cụ Ưng Ân - Thượng thư Bộ Lại triều đình Huế. Trong thời chống Pháp, nhà cụ Bửu Đáp là nơi gặp gỡ, họp bàn của cách mạng. Hay thăm nhà ông Nguyễn Khoa Thị, nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng về tạm lánh khi tham gia phong trào bãi khóa đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Châu Trinh năm 1927 tại Huế. Một địa chỉ nữa, nhà ông Lê Văn Yên với ảnh thờ cụ Lê Văn Miến, người thầy đã hướng học trò Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước, nay ảnh cụ Miến có ở Bảo tàng Hồ Chí Minh Huế. Những lớp người xưa anh hùng, hào kiệt, bóng họ mãi còn in trên bầu trời Vỹ Dạ.

Chiều nay tôi dạo một vòng ven sông Như Ý. Nước sông Như Ý bây giờ xanh trong rất mực “một dòng xanh xanh, một dòng tràn mênh mông...”. Vỹ Dạ bây giờ khác xa thời của 50 năm trước. Vỹ Dạ dài rộng hơn, mạnh mẽ hơn khi có thêm hai phường sáp nhập là Thủy Vân và Xuân Phú. Đường sá, cầu cống xây dựng nhiều hơn, nhà đẹp cũng nhiều hơn. Vỹ Dạ nằm trên trục phát triển thành phố về hướng Đông nên tương lai rộng mở. 

Lại ghé vào quán quen, từ bên kia Cồn Hến vang tiếng cười trong trẻo của trẻ em, bỗng nhớ ánh đèn của lớp xóa mù chữ dành cho dân vạn đò Cồn Hến được thắp lên bên ấy ngay sau ngày đất nước thống nhất. Ngọn lửa Prometheus khai sáng cho nhân loại, ánh đèn của những lớp học bình dân cũng đã khai sáng cho nhiều thế hệ dân vạn đò, cùng với chính sách đưa dân lên bờ, những con người thuyền chài ấy nay đã có cuộc sống bình yên, ổn định như bao người.

Sông Hương nơi đầu nguồn có đi qua một làng Cà Tu, bà con gọi sông là A Pàng, có nghĩa là “đời người”. Khúc lắng dòng ở Vỹ Dạ là trầm tích một đời sông mà cũng hiện hữu trong bao đời người.

N.K.D.H
(TCSH451/09-2026)

_________________________

Thông tin tư liệu trong bài viết tham khảo từ sách:
- Truyền thống văn hóa và đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, nhân dân phường Vỹ Dạ 1930 - 2020, Nxb. Thuận Hóa, 2023.
- Đạm Phương Nữ Sử toàn tập, tập 1, Nxb. Thuận Hóa, 2026.

 

 

Các bài mới
Các bài đã đăng