HỒ NGỌC THIỆN
Trong bài viết này, chúng tôi trình bày biểu hiện của mỹ cảm Phật giáo trong bài thơ Chùa Hương của tác giả Tố Hữu thông qua ba phương diện chính là sự hòa đồng với thiên nhiên, sự đồng hiện của các sự kiện lịch sử trên dòng thời gian và cuối cùng là tâm thái tỉnh thức của tác giả Tố Hữu.
Xuyên suốt bài viết, chúng tôi chủ yếu làm việc với văn bản về mặt ngôn ngữ, ký hiệu, đồng thời liên hệ và dẫn giải về các tín hiệu Phật giáo mà xét thấy có ý nghĩa trong việc hiểu văn bản và làm rõ vấn đề được đặt ra. Thông qua việc khai thác sâu tác phẩm về mặt hình thức nghệ thuật cũng như so sánh đối chiếu với một số tác giả, tác phẩm khác, chúng tôi sẽ nêu bật ý nghĩa, giá trị của mỹ cảm Phật giáo đối với chỉnh thể tác phẩm và góp một cái nhìn rõ hơn về tác giả Tố Hữu trong giai đoạn sáng tác cuối cùng.
1. Mở đầu
Là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng, Tố Hữu hiển nhiên là đại diện tiêu biểu nhất của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với những vần thơ đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn đi cùng lịch sử dân tộc. Ông là người có đóng góp to lớn trong việc quy phạm hóa văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, biến nó thành tiếng nói chủ đạo của cả một thời đại qua các tập thơ Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận. Và rồi chính các sáng tác của ông về sau cũng “đã tự giải quy phạm để chuyển qua giai đoạn hậu - hiện thực xã hội chủ nghĩa” (Lã Nguyên, 2019, tr.42), một giai đoạn văn học mới đã và đang diễn ra ngay sau khi chiến tranh kết thúc.
Bài thơ Chùa Hương in trong tập thơ Một tiếng đờn (1992) của Tố Hữu cũng nằm trong xu hướng giải quy phạm tất yếu đó, trước hết là ở sự chuyển giao tư cách sáng tác của chủ thể, từ một người chiến sĩ cách mạng đến một công dân của một đất nước độc lập, hòa bình. Vì vậy ở đây ta không còn nghe tiếng nói ngân vang bốn phương ca ngợi những tượng đài kháng chiến hay tiếng nói căm giận quyết lòng quét sạch quân thù. Vỏn vẹn chỉ 4 khổ thơ và vẫn là giọng đằm thắm của Tố Hữu, bài thơ Chùa Hương là tiếng lòng an nhẹ của một người đã đi qua gian lao thử thách, đang sống trong hòa bình và nay có dịp được về thăm cảnh chùa nổi tiếng của đất nước.
Trong không gian văn hóa đậm đà mà cũng không kém phần thơ mộng của chùa Hương, những tín hiệu mỹ cảm Phật giáo đã ánh lên xuyên suốt bài thơ. Không ở dạng nguyên sơ, thuần nhất, mà hàm chứa trong mình những chiêm nghiệm sâu xa của chính tác giả, mỹ cảm ấy đã được thể hiện chủ yếu thông qua tâm thái thư thả và tỉnh thức của tác giả khi nhà thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên và bày tỏ những suy tư trong lòng mình.
2. Nội dung
Trên cơ sở nhận thức: Phật giáo không phải là nguồn cảm hứng chủ đạo trong xu hướng sáng tác của Tố Hữu giai đoạn sau chiến tranh, mà chỉ là một phần rất khiêm tốn, được thể hiện một lần duy nhất, cụ thể là trong bài thơ Chùa Hương. Chúng tôi không chủ trương tìm hiểu quan điểm về Phật giáo của tác giả Tố Hữu, mà chỉ chọn một khía cạnh của mỹ học Phật giáo là mỹ cảm để xem xét trong bài viết này.
2.1. Hòa đồng với thiên nhiên
Thiên nhiên trong cảm quan Phật giáo là không chia tách với con người, mà có quan hệ mật thiết trên nền tảng nhận thức về Tánh Không. “Đó không phải là tính không của tự nhiên hay của sự hiện hữu độc lập, mà nó có nghĩa là các pháp tồn tại nhờ vào sự tương duyên của rất nhiều yếu tố” (đoạn 3), vì thế “có một sự tương phùng rất mật thiết hoặc là sự tương quan giữa môi trường và các sinh thể đang sống trong môi trường ấy.” (đoạn 6) (Đức Đạt Lai Lạt Ma, 2020). Chính sự gắn kết tự nhiên, mầu nhiệm này làm nên cái đẹp và mỹ cảm theo tinh thần Phật giáo.
Cũng như bao cảnh chùa khác, thiên nhiên chùa Hương không phải là thiên nhiên đơn thuần, mà là thiên nhiên mang màu sắc đạo pháp, đậm phong vị thiền. Thiên nhiên ấy tất nhiên rất đẹp, rất trữ tình. Tuy vậy, nó còn là phương tiện để con người trở về với chính mình, soi chiếu nội tâm.
“Bến Đục qua rồi… suối Yến trong”
Vận dụng tên các địa danh thành vần điệu, ý tứ trong thơ là tài năng của Tố Hữu. Ở đây, tác giả chủ ý dùng cặp từ “Đục” - “trong” để tạo tứ cho bài thơ, dựa trên hai địa danh của chùa Hương Tích (Hà Nội) là bến Đục và suối Yến. Trong khi “Đục” tượng trưng cho cuộc đời bên ngoài trần tục, ô nhiễm, đầy những khổ đau, tranh đấu thì “trong” lại đại biểu cho sự thanh khiết bên trong, sự trong lành, mát mẻ, là sự cởi trói khỏi những phiền lụy. Đi từ “Đục” đến “trong” là đi từ đời đến đạo, và là một bước đi thuận lẽ tự nhiên “bĩ cực thái lai” theo cảm quan thế sự. Mặc dù đã được nhiều thi nhân của nhiều thời đại nhắc đến nhưng bến Đục và suối Yến dưới cái nhìn của nhà thơ Tố Hữu vẫn được hình dung trong một vẻ đẹp tế nhị, độc đáo.
Chúng tôi xác định câu thơ trên là bản lề tạo dựng không gian nghệ thuật chi phối dòng cảm thức thẩm mỹ của tác phẩm. Đó là một không gian sông nước, được trải nghiệm trực quan. Câu thơ không chỉ chuyển dịch không gian về mặt địa lí từ bến Đục đến suối Yến, mà còn chuyển đổi cả trạng thái tiếp nhận của bạn đọc, đồng thời thông báo sự chuyển đổi tâm thái của tác giả, về cơ bản, được xác lập từ “Đục” đến “trong”. Điểm đáng chú ý là tác giả không chủ đích thông báo. Thi sĩ chỉ để lửng một ký hiệu là dấu ba chấm (...) nằm ở giữa, và ký hiệu ấy đã làm đúng chức năng của mình, mách bảo những điều không được nói: sự tĩnh lặng của thiên nhiên, sự im bặt của ngôn từ và suy tư của tác giả cùng con nước trôi qua.
Trong dòng mạch ấy, cứ thế, không gian thiên nhiên chùa Hương yên thản hiện lên, ứng hợp với tâm hồn thi sĩ:
“Long lanh núi gấm, nước mây lồng
Mái chèo đưa khách lên tiên giới
Lặng lẽ thuyền trôi giữa sắc, không...”
Núi, nước, mây là các biểu tượng quen thuộc trong văn hóa Việt Nam. Nếu núi tượng trưng cho sự to lớn, kỳ vĩ, cứng rắn; nước tượng trưng cho sự mênh mang, luôn thay đổi, mềm mại thì mây lại gợi lên vẻ vô thường, sự biến hóa khôn lường của cuộc sống. Trước thiên nhiên ấy, con người không tránh khỏi cảm giác lạc lõng, bơ vơ khi xem mình như một đối trọng:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
(Tràng Giang, Huy Cận)
Ở đây, thiên nhiên chùa Hương cũng hiện ra hùng vỹ nhưng lại huyền diệu trong đôi mắt thi sĩ “long lanh”, chứ không làm hãi hùng, rợn ngợp con người. Thiên nhiên ấy chỉ được mô tả bằng hai tổ từ “núi gấm” và “nước mây lồng” qua phép đảo ngữ “long lanh”, nhưng như vậy là đủ để bạn đọc hình dung một không gian mà núi, nước, mây đang hòa quyện vào nhau, chuyển hóa tính chất cho nhau.
Với tâm hồn thi sĩ sẵn nhuần nhị lại thêm chứng kiến cảnh sắc thiên nhiên kỳ diệu nơi chùa Hương, Tố Hữu không sao khỏi cảm thấy mình như đang được đưa vào cảnh thần tiên:
“Mái chèo đưa khách lên tiên giới”
Trong văn học phương Đông, mô típ con người lạc vào tiên giới hay tiên cảnh rất phổ biến. Có thể kể đến chuyện người đánh cá lạc bước vào chốn nhân gian sung túc, bình hòa trong Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm hay câu chuyện về chàng Từ Thức lấy vợ tiên trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Về cơ bản, tiên giới được đại đa số miêu tả là nơi sung sướng, đẹp đẽ, là nơi mà con người sống chẳng phải lo âu, không phải chịu những bức bách do đói khát hay bệnh tật. Tuy vậy, luôn đi kèm và có xu hướng giải hóa là mô típ mong muốn trở về cuộc sống nhân gian, nhưng rồi không thể quay lại tiên cảnh.
Ở đây, nhà thơ Tố Hữu cũng thấy mình như vào được “tiên giới” do chính thiên nhiên “núi gấm”, “nước mây lồng” tạo ra. Thế nhưng không đắm mình trong đó, tác giả nhận ra:
“Lặng lẽ thuyền trôi giữa sắc, không…”
Hai chữ “lặng lẽ” điểm xuống câu thơ như cái biết, cái thấy trực cảm của chính Tố Hữu. Ông bình thản nhìn cảnh vật biến hiện, đổi thay. Cho dù là “tiên giới”, ông vẫn nhìn ra đây chỉ là “sắc, không…”. Nếu không có chánh niệm về sự vô thường của vạn vật thì nhà thơ khó lòng viết nên câu thơ như thế.
Từ “Long lanh núi gấm, nước mây lồng” đến “Lặng lẽ thuyền trôi giữa sắc, không…” là từ sự bất phân của thiên nhiên đến sự hòa đồng giữa thiên nhiên và con người, là từ sự có mặt của “khách” trong sự đối trọng với thiên nhiên đến sự hiện hữu của chỉ cái biết trực tiếp trong sự bất nhị của vạn vật. Tác giả hòa mình vào thiên nhiên, xem thiên nhiên với mình chẳng khác. Do vậy đến đây, tác giả để “thuyền trôi” theo con nước trôi, mà không dùng đến “mái chèo” đẩy nước, cản dòng.
Như vậy, thiên nhiên chùa Hương trong đoạn thơ đầu đã phản ánh bước chuyển biến tâm thái của tác giả Tố Hữu. Mỗi cảnh vật hiện ra như mỗi thiền môn, giúp tác giả gạn lọc và nâng cao tâm hồn mình. Người thơ hòa vào thế giới, thấy thế giới như thấy tâm mình. Thiên nhiên và tác giả hòa đồng trong cái nhìn lặng lẽ. Ngay tại đó phát hiện cái đẹp không lời của thiên nhiên qua tâm hồn được thanh khiết của Tố Hữu.
2.2. Đồng hiện trên dòng thời gian
Một khi đã hòa đồng vào thiên nhiên thì bao nhiêu toan tính, phiền lụy cá nhân sẽ tự nhiên tiêu biến vì giờ đây tâm hồn con người không còn bị ràng buộc hoàn toàn vào thân sắc nhỏ bé và con người đã thấy mình gắn kết trong cái bao la hơn. Với cảm nhận đó, nhà thơ Tố Hữu định tĩnh nhìn dòng trôi chảy của lịch sử:
“Ai biết ngàn xưa... thuở Lạc Hồng
Hùng Vương bộ tướng ngắm non Bồng
Dừng cương... xây nếp Thiên Trù ấy
Cho mai sau con cháu ấm lòng!
Và một hôm nào... sáng tháng năm
Rừng mơ ríu rít, Bác về thăm
Dấu hương Người quyện sương Hương Tích
Ngân tiếng chuông đồng, vọng tiếng Tâm...”
Ở đây ký hiệu dấu ba chấm (...) tiếp tục được thi sĩ vận dụng để nối kết và nới rộng thêm không gian sông nước đã được mở ra ngay từ đầu tác phẩm. Chính sự có mặt của ký hiệu này cũng gửi một thông báo quan trọng đến độc giả rằng tác giả Tố Hữu hiện vẫn đang trên chiếc thuyền xuôi theo dòng suối Yến. Điều đó có nghĩa những suy tưởng của tác giả về thời gian, về lịch sử trong hai khổ thơ này được đặt đúng trên nền tảng biểu tượng của nó - dòng sông. Dòng sông (con nước) từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây bao giờ và ở đâu cũng được xem như là biểu tượng tiêu biểu nhất về sự trôi chảy của thời gian. Nói đến dòng sông (con nước) chảy trôi là nói đến thời gian vậy.
Trên dòng nước thời gian, trước - sau chẳng thể chia tách, quá khứ - hiện tại - tương lai chẳng thể phân biệt rạch ròi. Vì vậy nhà thơ Tố Hữu dù đang trôi thuyền trên suối Yến nhưng vẫn thấy cảnh Hùng Vương cùng bộ tướng thuở Lạc Hồng đang dừng chân nơi non Bồng ngắm cảnh, cũng lại thấy hình ảnh Bác Hồ đang rảo bước qua rừng mai ríu rít tiếng chim, thăm chùa Hương vào một sáng tháng năm. Cả hai hình ảnh lịch sử ấy đồng thời cùng hiện lên trong tâm trí nhà thơ ngay lúc này. Chúng tôi đồng ý với nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh (2024) rằng: “Cảm quan về sự trôi nhanh của thời gian khiến nhà thơ cảm thấy các sự kiện lịch sử… như vừa diễn ra hôm qua, thậm chí hiển hiện trong hiện tại” (tr.85).
Từ điểm nhìn nghệ thuật trên thuyền, Tố Hữu không đứng tách mình khỏi dòng nước để quan sát. Thay vào đó, ông hòa vào dòng nước đang lặng lẽ chảy trôi. Như vậy là tác giả đang xuôi thuận theo dòng thời gian để cảm nhận về bước đi của lịch sử. Nhờ thế, sự đồng hiện của các sự kiện lịch sử diễn ra không gượng ép. Quá khứ dù cách mấy ngàn năm hay chỉ vài chục năm trước cũng chẳng còn là xa xăm hay không thể biết đến mà như con sóng sau nối con sóng trước trên dòng nước, chẳng mất đi mà hóa hiện trong nhau.
Dưới cảm quan “sắc, không…” - nhìn về bản thể của vạn vật là không, tác giả Tố Hữu không chỉ nhìn ra sự hòa điệu giữa mình và thiên nhiên, mà còn cảm nhận được tính bất phân cắt của dòng thời gian với ý nghĩa không có quá khứ, hiện tại, hay tương lai cố định, bị bó buộc. Dòng thời gian ấy tùy theo tâm thái của con người mà biến chuyển. Theo quan điểm của Phật giáo, khái niệm về thời gian chỉ tồn tại trong tâm thức của những chúng sanh còn nhiều vọng chấp, phân biệt. “Và tiến xa hơn nữa, các bộ kinh lớn của Phật giáo Đại thừa như kinh Hoa Nghiêm, hay kinh Đại Bát Nhã đã nói lên sự dung thông của ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, vì có chung một đặc tính là vô tướng.” (Hòa thượng Thích Trí Quảng, 2011, đoạn 3).
Thông qua cách nhìn này, sự đồng hiện một cách tự nhiên của các sự kiện lịch sử trong hai đoạn thơ trên có thể được giải thích bởi sự thông suốt, không chướng ngăn của thời gian. Mà tác giả Tố Hữu khi mới từ “bến Đục” qua “suối Yến trong” đã chuẩn bị tâm thái cho trải nghiệm ấy. Chính quan niệm về thời gian dung thông, chiếu thấu vào nhau đã làm nên tính thẩm mỹ bàng bạc, ẩn tàng của lời thơ, hòa quyện cùng chất sử thi được tạo lập bởi thời gian lịch sử.
Về ngôn ngữ, Tố Hữu cũng đã sử dụng những cụm từ không chỉ đích xác về mặt thời gian như “Ai biết ngàn xưa”, “một hôm nào”, và “sáng tháng năm”, tạo nên một sự lửng lơ về thời gian sự kiện. Xét riêng trường hợp “sáng tháng năm” thì tổ từ này như không chỉ nhắc đến việc Bác Hồ đến thăm chùa Hương Tích vào ngày sinh nhật năm 1958, mà còn gợi nhắc đến bài thơ Sáng tháng năm (1951) nổi tiếng của ông - cũng phác họa hình ảnh người cha già đáng kính của dân tộc:
“Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn…”
Điều này nhìn chung đã góp phần tạo cơ sở cho sự đồng hiện trên dòng thời gian về mặt hình thức văn bản.
Đến đây, trên dòng chảy xuyên suốt của con nước và thời gian, tiếng chuông đồng bỗng ngân vang thanh thoát, không biết từ quá khứ “Hồi hôm nào… sáng tháng năm” hay là ngay lúc này, đánh động tâm hồn thi sĩ:
“Ngân tiếng chuông đồng, vọng tiếng Tâm…”
Tiếng chuông là biểu tượng của tiếng gọi tỉnh thức, tiếng kêu đánh động con người khỏi mê say, lay con người thức dậy trước nỗi vô thường, tạm bợ của cuộc sống. Tố Hữu nghe tiếng chuông và rồi im lặng, trở về với thực tại nơi đây.
Tiếng chuông ngân vọng vào trong tâm là một thi tứ không xa lạ trong văn học Phật giáo. Chu Mạnh Trinh trong bài Hương Sơn phong cảnh đã để tiếng chuông trong vắt đánh thức người đang mộng mị:
“Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,
Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.”
Nếu tiếng chuông trong những vần thơ của Chu Mạnh Trinh vang lên làm “Khách tang hải giật mình trong giấc mộng” thì tiếng chuông qua lời thơ của Tố Hữu lại không được diễn giải về tác động. Điều đó đã mở ra một khoảng trống tiếp nhận cho người đọc.
Chúng tôi cho rằng tiếng chuông đồng cùng sự ngân vang của nó được đặt ở đây - tại vị trí cuối đoạn ba và trước khi vào đoạn bốn có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển đổi không - thời gian nghệ thuật, đồng thời thông báo một phát triển mới của tâm thái nhà thơ. Bước chuyển này được xây dựng trên cơ sở giọng điệu trầm tĩnh, an nhiên, đậm đà phong vị thiền cùng sự dày dặn trong thi pháp của tác giả. Hình tượng tiếng chuông chùa có thể được hình dung như là điểm cao trào, mở rộng không gian sông nước đến cùng cực, và rồi từ đó chuyển sang một miền nghệ thuật mới.
2.3. Tâm thái tỉnh thức
Từ không gian sông nước chảy trôi, bất định, Tố Hữu đã đặt chân lên không gian đất đai vững chắc. Từ thời gian bất phân với sự hiện về của các sự kiện lịch sử, thi nhân đã trở về hiện tại trong bước chân nhẹ nhõm nơi chùa Hương:
“Ôi! Trưa nay, bước từng bậc đá
Róc rách còn nghe suối Giải Oan
Ước gì đời mãi tươi xanh lá
Thanh thản Chùa Hương, cả thế gian!”
Đến khổ thơ cuối cùng này, người đọc mới được nghe cụ thể tiếng nói của tác giả sau đoạn hành trình đi thuyền với ba khổ vừa qua. Tiếng nói ấy không mơ hồ, lảng bảng mà rõ ràng và tha thiết.
Thán từ “Ôi” mở đầu đoạn thơ là xác định sự có mặt của chủ thể trữ tình đang hiện diện và cảm nhận sự vật xung quanh trong một thời điểm cũng được xác định cụ thể là “Trưa nay”. Chính hai yếu tố mang tính chất định thời gian này đã thông báo về sự chú tâm của thi sĩ vào khoảnh khắc hiện tại, chứ không còn vọng nhìn về quá khứ nữa.
Chỉ bằng một hành động rất cụ thể là “bước từng bậc đá”, hình dáng mà cũng là tâm thái của tác giả đã được biểu hiện. Tác giả bước chậm rãi lên từng bậc đá. Ông để tâm quan sát bước chân của mình. Đó chính là trạng thái tỉnh thức của thi sĩ. Nhà thơ Huy Cận trong bài thơ Đi giữa đường thơm cũng đã trải nghiệm trạng thái tỉnh thức này trong khi cảm nhận đồng thời sự có mặt của bản thân, của người bạn, cùng vạn vật chung quanh:
“Đường trong làng: hoa dại với mùi rơm...
Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm,
[…]
Chân bên chân, hồn bên hồn, yên lặng,
Người cùng tôi đi giữa đường rải nắng,
Trí vô tư cho da thở hương tình.
[…]
Trong cảnh lặng, vẫn đưa mùi gió thoảng...
Tri bâng quơ nghĩ thoáng nhưng buồn nhiều:
“Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu”.
Chân đang bước bỗng e dè dừng lại
- Ở giữa đường làng, mùi rơm, hoa dại....”
Nếu sự cảm nhận của Huy Cận lan rộng và bao trùm không gian thì Tố Hữu chỉ để tâm mình vào từng bước đi trên bậc đá. Nếu Huy Cận trải nghiệm một chút buồn nhè nhẹ, đôi lúc có sự bâng quơ suy tưởng thì Tố Hữu lại trầm tĩnh và bình an, tâm chuyên chú một điểm. Chính những đặc điểm này đã gợi lên mỹ cảm về “tâm định” cho khổ thơ. Lại nữa, mỹ cảm này cùng với hình ảnh “bậc đá” còn thiết lập không gian đại địa - cơ sở cho tâm thái tỉnh thức của thi nhân.
Trong Phật giáo, đất ngoài là một yếu tố thuộc về Tứ đại thì thường được dùng như một phép ẩn dụ về phẩm hạnh mà người tu sĩ cần thực hành theo. Đất đại biểu cho hạnh nhẫn nhục, sự nâng đỡ, không phân biệt và chấp nhận tất cả. Bên cạnh đó, đất còn được dùng trong khái niệm “Tâm Địa” với ý nghĩa là nơi sinh ra vạn pháp, vạn pháp lấy đất tâm làm cơ sở để khởi sinh.
Theo chúng tôi, chính những đặc tính của đất mà hình ảnh “bậc đá” gợi ra đã thiết lập một niềm tin tưởng, một cảm thức về vô úy (không sợ hãi) cho chính nhà thơ. Tố Hữu trở về hiện tại, đặt chân mình trên đại địa vững chãi là đặt điều kiện thiết thực cho những suy tư về cuộc đời của ông. Những chiêm nghiệm ấy không mông lung, thiếu cơ sở mà được hậu thuẫn bởi những gì thi nhân đã trải qua. Để rồi từ đây, tâm tác giả an nhiên thâu nhận sự có mặt của tiếng suối, mọi điều phiền muộn vì thế như được cuốn trôi:
“Róc rách còn nghe suối Giải Oan”
Sự tĩnh lặng của tâm, sự an định trong từng bước chân đã mở ra cánh cửa để Tố Hữu nghe được rõ ràng tiếng suối róc rách. “Giải Oan” không còn cố định như một địa danh, mà thực sự đang diễn ra: giải oan cho những ai có thể nghe tiếng suối, giải oan cho những mất mát, những đổ vỡ, phiền lụy.
Tố Hữu, bằng tấm lòng trong sáng khi nghe được tiếng suối Giải Oan, đã cất lên lời ước nguyện cho cuộc đời:
“Ước gì đời mãi xanh tươi lá
Thanh thản chùa Hương, cả thế gian!”
Đó là tiếng nói quen thuộc chúng ta đã nhiều lần được nghe từ thi sĩ. Tác giả không mơ ước cao xa, không mơ ước cho bản thân mình mà chỉ ước cho đời “mãi xanh tươi lá”. Câu thơ khiêm tốn và xúc động. Chúng tôi cho rằng chính Tố Hữu biết nguyện ước ấy thật khó diễn ra vì cuộc đời không thể mãi một màu xanh tươi, mà phải luôn biến chuyển trong sự xoay vần sinh diệt:
“Mới bình minh đó, đã hoàng hôn
Đang nụ cười tươi, bỗng lệ tuôn
Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy
Khuấy động lòng ta biết mấy buồn!”
(Một tiếng đờn)
Thế nhưng thi sĩ vẫn “Ước gì” bằng một tiếng nói trong veo, hồn nhiên như trẻ con. Đi qua nhiều biến cố và thăng trầm, giờ còn đọng lại nơi thi sĩ là những gì giản đơn và chân thật nhất:
“Ôi! Kiếp trăm năm được mấy ngày
Trời xanh không gợn bóng mây bay
Gian nan vẫn thủy chung bè bạn
Êm ấm tình yêu mỗi phút giây!”
(Một tiếng đờn)
Đây chính là âm hưởng nổi bật trong sáng tác của Tố Hữu giai đoạn Một tiếng đờn và Ta với ta. Trong không gian chùa Hương, âm hưởng ấy có phần đổi khác bởi sự chiêm nghiệm của thi nhân chịu ảnh hưởng ít nhiều của cảm quan Phật giáo. Dẫu vậy, Tố Hữu vẫn là Tố Hữu, nhà thơ vẫn luôn hướng mình về đời sống trong sự gắn bó thủy chung, trong tình yêu vẹn tròn. Nghe tiếng suối Giải Oan nơi chùa Hương Tích như một lần nữa tác giả được nghe lại âm thanh của sự biến chuyển, đổi thay. Nhưng với tâm thái tỉnh thức, tác giả không chỉ cảm thấy chính tâm mình thanh thản, chùa Hương thanh thản mà cả thế gian cũng đều như thế:
“Thanh thản chùa Hương, cả thế gian!”
Chính mỹ cảm của tâm thái tỉnh thức được diễn bày trong đoạn thơ cuối cùng này đã liên kết dòng cảm thức được phát triển ở các đoạn thơ trước, đồng thời làm trọn vẹn những cảm nhận tinh tế, sâu xa của tác giả Tố Hữu khi trải nghiệm trực quan chuyến thăm chùa Hương. Từ tâm thái tỉnh thức ấy, tác giả đã soi thấy và chắt lọc lòng mình qua những tương tác với thiên nhiên dù chỉ là những cảnh vật đơn sơ như bậc đá, tiếng suối. Tuy vậy, với vốn sống, cùng cảm quan Phật giáo được xác lập ngay từ đầu và trải đều cả bài thơ, những tương tác đó là đủ để tác giả chạm vào chiều sâu của suy tưởng và nhận thức trong sự tĩnh lặng và bình an.
3. Kết luận
Kết thúc tác phẩm, tiếng vĩ thanh vẫn còn đâu đây trong sự hòa quyện giữa các mỹ cảm của sự hòa hợp, đồng hiện và tỉnh thức. Tác giả Tố Hữu bằng sự dày dặn trong thi pháp đã viết nên một bài thơ gọn gàng nhưng có dư vị, mở ra một cảm thức thẩm mỹ về sự thanh lọc, định tĩnh trong tâm. Nhờ mỹ cảm Phật giáo, người đọc đã có cơ hội nhìn nhận sâu hơn về tâm tư của tác giả Tố Hữu trong khi khảo sát mối liên hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức tác phẩm. Mỹ cảm Phật giáo đã nâng cao hiệu quả của sự truyền tải và tiếp nhận thi phẩm.
Thông qua chuyến thăm chùa Hương này, một lần duy nhất và cụ thể cảm quan Phật giáo được Tố Hữu chủ đích thể bày trong thơ. Phải nói rằng với những thăng trầm, những bước đường chông gai mà thi sĩ đã trải qua thì những cảm nhận mang màu sắc thiền, những mỹ cảm Phật giáo được gợi lên trong bài thơ không gượng gạo mà thật sự chân thành. Dù là thế, cội gốc đằng sau vẫn là niềm suy tư, chiêm nghiệm riêng của thi sĩ.
Sau cùng, qua những phân tích và dẫn bày ở trên, chúng tôi cho rằng chính mỹ cảm Phật giáo đã làm cho những suy tư của Tố Hữu có được tính chất cô đọng và sâu sắc, làm cho chỉnh thể tác phẩm đạt được sự hài hòa, cân đối giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Một phần nào đó, xét trong giai đoạn sáng tác cuối cùng của Tố Hữu, mỹ cảm Phật giáo đã góp phần làm nên sự đa dạng trong xu hướng viết về đời sống, về những trải nghiệm dung dị trong cuộc sống bình thường của thi sĩ. Điều này, nhìn chung, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về gương mặt văn hóa của Tố Hữu, bản tính thi sĩ thuần hậu của ông, bên cạnh một Tố Hữu của dòng văn học cách mạng chói lọi, hào hùng.
H.N.T
(TCSH59SDB/12-2025)
___________________
Tài liệu tham khảo:
Đức Đạt Lai Lạt Ma. (2020, tháng 3 ngày 23) Quan niệm của đạo Phật về thiên nhiên. Phật giáo Việt Nam. https://phatgiao.org.vn/quan-niem-cuadao-phat-ve-thien-nhien-d40697.html
Hòa Thượng Thích Trí Quảng. (2011, tháng 11 ngày 12). Quan niệm thời gian theo kinh Pháp Hoa. Báo Giác Ngộ. https://giacngo.vn/quan-niem-thoigian-theo-kinh-phap-hoa-post15561.html
Lã Nguyên. (2019). Phê bình ký hiệu học: Đọc văn như là quá trình tái thiết ngôn ngữ. Nxb. Phụ Nữ.
Trịnh Bá Đĩnh. (2024). Ký hiệu học văn chương, Biểu tượng và Văn bản nghệ thuật. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.