PHAN TUẤN ANH
Trong nhiều năm nghiên cứu Mỹ - Latinh và G.G.Márquez, tôi có hai trăn trở:
Thứ nhất là những thảm họa tự nhiên tại đây đã diễn ra như thế nào?
Thứ hai là tại sao châu lục rộng lớn này không có những loài thú hoang dã lớn hoặc các gia súc lớn?
Trước khi bước vào những thảm họa tự nhiên ở Châu Mỹ, cũng như những giới hạn trong hệ động vật của nó, rất cần khẳng định rằng Châu Mỹ là một lục địa có sự đa dạng về mặt sinh học bậc nhất, do địa lý của nó trải dài trên nhiều vĩ độ, tạo ra vô số kiểu dạng khí hậu khác nhau. Chỉ tính riêng khu vực Nam Mỹ nói chung, Colombia nói riêng - quê hương của nhà văn Márquez, khí hậu chủ yếu ở đây là nhiệt đới ẩm, với những cánh rừng rậm nguyên sinh gần tương tự với dạng khí hậu của Việt Nam. Dĩ nhiên, Nam Mỹ còn có vô số dạng khí hậu khác như ôn đới lạnh trên dãy núi cao Andes, hay dạng khí hậu sa mạc ở Peru, Chile, cực bắc Colombia, Argentina… nhưng chiếm ưu thế vẫn là khí hậu nhiệt đới. Loại khí hậu này tạo ra hệ động thực vật vô cùng phong phú, xuất hiện những hiện tượng tự nhiên kỳ lạ, những loài động thực vật bản địa độc đáo, đó chính là cơ sở để chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phát triển mạnh tại Nam Mỹ chứ không phải Bắc Mỹ.
Xét về mặt lý thuyết khí hậu mà nói, Nam Mỹ phải vô cùng giàu có về mặt động thực vật. Trong tín niệm của người Cựu Thế giới luôn là như vậy, những người thực dân ban đầu khai thác Châu Mỹ lại càng tin về sự giàu có của tự nhiên Châu Mỹ khi họ lần đầu đặt chân đến lục địa này. “Một thuyết cho rằng có nhiều loài sống ở các vùng nhiệt đới hơn vì đồng hồ tiến hóa ở đó chạy nhanh hơn. Giống như nông dân có thể sản xuất ra nhiều vụ mùa mỗi năm hơn ở các vĩ tuyến thấp hơn, các tổ chức hữu cơ có thể sinh sản nhiều thế hệ hơn. Số lượng các thế hệ càng lớn, thì cơ hội xảy ra đột biến gene càng cao. Khả năng đột biến càng cao, thì khả năng càng lớn các loài mới sẽ xuất hiện” [13, tr.248]. Thiên nhiên Mỹ - Latinh nói chung, Colombia nói riêng là giàu có, âm u và rậm rạp, ít ra là trên bề mặt của tự nhiên. Sự phong nhiêu của thiên nhiên vùng nhiệt đới tạo ra điều kiện quan trọng cho những sự kiện kỳ diệu, siêu nhiên xuất hiện. Con người sinh sống trong một môi trường đầy những động vật kỳ lạ, những con thú hung dữ như trăn Anaconda (loài rắn lớn nhất thế giới), cá ăn thịt Piranha (cá răng đao, cá cọp), ếch thủy tinh (có làn da trong suốt có thể nhìn xuyên qua nội tạng), cá đi bộ có chân (Ambystoma mexicanum), cá phổi (Ceratodontimorpha) có thể sống trên cạn cả năm, dơi trắng Honduras, tiên hồng có mai Argentina, cá heo sông Amazon, cá sấu Orinoco ở Colombia, thần ưng Andes/kền kền khoang cổ (Vultur gryphus) (loài chim biết bay lớn nhất thế giới), cá voi lưng gù, thú ăn kiến, cá hải tượng long (Arapaima gigas) (một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới)… Danh sách này có lẽ còn kéo dài đến không có điểm dừng.
Nhiều loài động vật hoang dã bản địa Nam Mỹ đã hiện diện nhiều lần trong tác phẩm của Márquez. Nhưng đa dạng sinh học không có nghĩa là sở hữu những loài động vật lớn (cả gia súc và động vật hoang dã). Sự phong nhiêu về sinh học cũng không hẳn là thuận lợi cho nông nghiệp, định cư hay phát triển bền vững những nền văn minh. Chưa kể ở Mỹ - Latinh, có quá nhiều những thiên tai hay sự ngăn trở về mặt địa lý, và sau này là cả những chia rẽ chính trị. Có một ví dụ tiêu biểu để bạn đọc dễ hình dung, sông Amazon là con sông dài nhất thế giới, điều ấy ta đã biết, nhưng xuyên suốt con sông dài này không có một chiếc cầu nào bắc qua, mà chỉ có rừng rậm ngút ngàn hai bên bờ sông. Lý do là bởi diện tích lòng sông giữa mùa khô và mùa mưa chênh lệch quá lớn, hai bên bờ sông lại toàn đất bùn không phù hợp xây đường sá. Do đó, đi qua sông chỉ có thể lựa chọn phà hay thuyền1. Sự tách biệt, hoang vu và nguy hiểm của tự nhiên Nam Mỹ đã là một giới hạn của sự phát triển kinh tế và liên kết những quốc gia trong khu vực. Người Indian bản địa rất tôn trọng tự nhiên. Những người phụ nữ bản địa của bộ tộc Achuar xem cây cỏ như đồng loại của mình. Tư duy vạn vật hữu linh, xem mọi hiện tượng tự nhiên, mọi cá thể động thực vật đều có linh hồn, đều bình đẳng và có thể giao tiếp với con người được người da đỏ bản địa áp dụng trong nền văn hóa của mình. Đây chính là tiền đề văn hóa, tâm linh và tôn giáo quan trọng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ - Latinh.
Những người da đỏ bản địa Châu Mỹ xây dựng mối quan hệ tinh thần đặc biệt với thiên nhiên hoang dã đặc sắc của họ, theo hướng “nhân cách hóa”. Trong thế giới quan của người da đỏ bản địa, hình dạng bên ngoài của động vật chỉ là hình thức “ngụy trang”, “cải trang” khi cởi bỏ lớp áo khoác động vật đó, chúng sẽ trở nên là “người dân” như mọi cá nhân con người khác trong xã hội. Con người và động thực vật như vậy có một mối quan hệ bình đẳng, “không đối nghịch nhau”. Thế giới trong Trăm năm cô đơn cũng chính là thế giới mà người da đỏ sinh sống và quan niệm, ở đó, con người, thần linh và động vật tồn tại bên cạnh nhau một cách đồng đẳng, bình đẳng và không hề sợ hãi2. Không gian rừng rậm không phải là không gian xa lạ, nguy hiểm và đáng sợ hãi với người da đỏ bản địa, họ xem đó là một không gian “kết ghép của làng”. Người da đỏ không thực sự phân định không gian hoang dã với không gian cư trú, định cư, vì họ sống chan hòa trong tự nhiên hoang dã. Rừng rậm nhiệt đới là một loại không gian quen thuộc, “được thuần dưỡng như vườn”. Không có sự đối lập của không gian làng mạc với không gian rừng rậm. Động vật hoang dã không phải là mối nguy hiểm, đe họa, mà chúng là bạn bè, người yêu, là người thân, “là những hữu thể gần như con người” [4, tr.91]. Chúng cũng có tính cách và nền văn hóa riêng mang bản sắc của loài. Có những mối quan hệ hôn nhân “liên loài”, giữa con người và động vật. Phải chăng đó là tiền đề cho hình tượng sáng tạo của Márquez: đứa trẻ sơ sinh có cái đuôi lợn. Những hiện tượng tự nhiên, siêu nhiên được đối xử như với con người. Do đó, trong Trăm năm cô đơn, các nhân vật rất bình thản trong mối quan hệ với những bóng ma cư ngụ cùng trong gia đình Buendía như bóng ma Melquíades hay Prudencio Aguilar. Khi những cơn mưa hoa vàng ti ti xảy ra, Remedios Người đẹp bay lên trời, dòng máu José Arcadio (thế hệ 2) trườn trên đường về nhà báo tin cái chết cho mẹ… thì những nhân vật chứng kiến đều không hề hoảng sợ, lo lắng. Lối tư duy “vạn vật hữu linh” này thật ra rất gần gũi với tư duy và bản sắc văn hóa người Việt Nam. Một số ít động vật cỡ vừa được thuần hóa hoặc thuần dưỡng, thì do lối tư duy “thân thuộc, gia đình” nói trên của người da đỏ nên họ từ chối ăn thịt, để coi chúng như thành viên gia đình.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét thảm họa tự nhiên nào đã dẫn đến sự tuyệt diệt của các loài thú hoang dã lớn tại Châu Mỹ? Thiếu động vật hoang dã lớn (khoảng 148 loài) thì tất yếu dẫn đến không thể có gia súc lớn (14 loài cơ bản), bởi gia súc lớn có cội nguồn từ động vật hoang dã lớn được thuần hóa thành công qua một quá trình dài. Châu Mỹ nhìn chung không có những gia súc lớn như trâu, bò, cừu, lợn, dê, ngựa, nơi đây cũng chẳng có những động vật hoang dã lớn tầm cỡ voi, tê giác, hà mã, hươu cao cổ… Chính điều này đã tạo nên bi kịch cho vận mệnh Châu Mỹ thời cận - hiện đại. Jared Diamond trong công trình kinh điển Súng, vi trùng và thép - Định mệnh của các xã hội loài người đã vạch ra rõ chuỗi bi kịch hiện đại của Châu Mỹ, liên quan đến gia súc lớn và động vật hoang dã lớn. Châu Mỹ vốn bị tuyệt chủng các động vật hoang dã lớn từ quá sớm, từ bao giờ và nguyên nhân thì còn gây nhiều tranh luận. “Châu Mỹ trước kia hẳn đã có số lượng ứng viên (động vật hoang dã có thể thuần hóa - PTA) tương đương châu Phi, song hầu hết các loài thú lớn có vú hoang dã ở Châu Mỹ (kể cả ngựa Châu Mỹ, hầu hết các loài lạc đà và các loài khác có thể được thuần hóa nếu chúng còn sống sót) đã bị tuyệt chủng từ 13.000 năm trước” [5, tr.228]. 13.000 năm trước, thường là mốc mà các nhà lịch sử, nhân chủng học sử dụng để đánh dấu về sự di cư của người da đỏ bản địa (Indian) từ lục địa Á - Âu sang Châu Mỹ. Tức là, trước khi loài người xuất hiện ở Châu Mỹ không lâu, hoặc gần như đồng thời với thời điểm đó, các loài động vật hoang dã lớn tại đây đột nhiên bị “biến mất”.
Quan trọng hơn, việc thiếu gia súc lớn sống gần gũi với con người khiến các căn bệnh dịch lớn (từ động vật truyền sang người) gần như không xuất hiện ở Châu Mỹ, trừ bệnh giang mai vốn không gây chết người ở diện rộng3. Điều này tạo ra hệ quả người Châu Mỹ bản địa (Indian) không có kinh nghiệm với những căn bệnh dịch lớn, cơ thể họ gần như không có kháng thể với đậu mùa, dịch tả, cúm, dịch hạch, lao… như những chủng tộc người ở Cựu Thế giới có đến mấy ngàn năm làm quen, thích nghi với các căn bệnh nói trên. Do vậy, khi người da trắng ở Cựu Thế giới tiếp xúc với người Indian bản địa, những căn bệnh dịch chết người của họ đem theo đã làm các tộc người da đỏ gần như tuyệt diệt. Hơn 95% người da đỏ bản địa đã bị tiêu diệt trong một thời gian ngắn (130 năm đầu tiên tiếp xúc với người da trắng thực dân), không phải do gươm thép, áo giáp sắt, súng hỏa mai hay ngựa của những người thực dân, mà chủ yếu là bởi những con vi trùng dịch bệnh khủng khiếp. Kháng thể miễn dịch hoặc giúp sống sót qua những căn bệnh dịch, kinh nghiệm sản xuất thuốc chính là điểm mấu chốt tạo ra sự ưu việt của văn minh Cựu Thế giới (Á - Âu) so với văn minh Tân Thế giới (Châu Mỹ). Nó khiến những kẻ thực dân châu Âu có thể “khai phá”, tàn sát, thuần phục người da đỏ một cách nhanh chóng và xâm chiếm châu lục này. Điều này giải thích tại sao lịch sử không thể xảy ra điều ngược lại, những tộc người da đỏ xâm chiếm và chinh phục lục địa Á - Âu. Thiếu các gia súc lớn, thiếu kinh nghiệm (kháng thể) với các dịch bệnh lớn, bị tàn phá bởi những căn bệnh dịch - những bi kịch này được G.G.Márquez thể hiện thế nào trong Trăm năm cô đơn?
Chúng ta sẽ thử bàn sâu thêm tại sao những loài thú lớn ở Châu Mỹ lại bị tuyệt diệt dẫn đến Châu Mỹ không hình thành được những căn bệnh dịch nguy hiểm, dù nơi đây từng là quê hương của những loài khủng long khổng lồ nhất, những con voi ma mút lông dài, những con hổ răng kiếm dữ tợn? Thảm họa nào khiến chúng bị hủy diệt thời điểm ít nhất 13.000 năm trước. Có hai giả thuyết đều có liên quan đến hai sự kiện trong Trăm năm cô đơn.
Thứ nhất là một sự kiện thiên tai tự nhiên diễn ra đột xuất làm hủy hoại toàn bộ nền sinh thái. Cơn bão lốc khủng khiếp xóa sổ hoàn toàn Macondo vào cuối truyện là một gợi ý hay. “Lúc này Macondo chỉ còn là một cơn lốc dữ dội đầy bụi và rác rưởi cứ xoay tít mù nhờ cơn dông bão từng được nói tới trong Kinh Thánh đang vần vũ… thành phố những tấm gương… sẽ bị gió cuốn đi và sẽ bị xóa sạch khỏi ký ức con người” [17, tr.492]. Những thảm họa tự nhiên đột xuất và khủng khiếp như thế này không hiếm trong lịch sử Châu Mỹ tiền Columbus. Charles C.Mann từng cho rằng giữa năm 1100 đến 1300, một cơn đại hồng thủy đã xóa sổ hoàn toàn những cộng đồng Indian bản địa từ thung lũng sông Hudson đến Florida [15, tr.367]. Jack Weatherford trong công trình nổi tiếng Những món quà của người da đỏ thì cung cấp thông tin về những cơn động đất khủng khiếp trong lịch sử Châu Mỹ. Elizabeth Kolbert trong chuyên luận Đợt tuyệt chủng thứ sáu còn cho chúng ta biết về một thảm họa môi sinh khủng khiếp bậc nhất trong lịch sử sinh học của trái đất xảy ra tại Mỹ - Latinh. Trong quá khứ, một thiên thạch khổng lồ đã va vào trái đất, chỗ va chạm là nước Mexico của Mỹ - Latinh ngày nay. Sự kiện mà nhiều nhà khoa học cho rằng có thể là nguyên nhân dẫn tới sự tuyệt chủng hoàn toàn của loài khủng long, tạo ra tiền đề cho sự phát triển chiếm ưu thế trên toàn cầu của chim và thú có vú ngày nay trên trái đất. Tóm lại, diện mạo sinh học đương đại mà loài người đang chứng kiến cùng sự mất đi vĩnh viễn của vô số loài bò sát khổng lồ trong quá khứ đã diễn ra tính từ mốc thời điểm thảm họa tự nhiên ấy diễn ra.
Cha con nhà Alvarez đã đưa ra một giả thuyết mang tên họ, đó là một vụ va chạm thiên thạch đã hủy diệt khủng long cùng vô số những loài động vật lớn khác vào cuối kỷ Phấn Trắng. Sự kiện khủng khiếp này có vẻ khá gần gũi với cơn cuồng phong từng được nhắc đến trong Kinh Thánh đã hủy diệt Macondo. Rất có thể, những sự cố thiên tai đột xuất như thế này đã diễn ra ở Châu Mỹ, trước thời điểm con người di cư đến châu lục này. Một hoặc nhiều sự cố thiên tai như thế đã tiêu diệt sự tồn tại của những loài thú hoang dã lớn của châu lục này. Giả thuyết Alvarez về sự biến mất của khủng long cuối kỷ Phấn Trắng như vậy lại được đem ra để biện giải cho sự biến mất của những loài thú lớn sau này tại Châu Mỹ.
Tuy nhiên, giả thuyết thứ hai về sự biến mất của những loài thú lớn ở Châu Mỹ là đáng tin và có cơ sở khoa học vững chắc hơn, nếu ta quan sát hành vi của loài người từ tổng thể các khu vực khác. Đó chính là do sự xuất hiện của con người tại Châu Mỹ và thói quen săn bắt thú hoang lớn vô tội vạ. Trong Sapiens - Lược sử về loài người, nhà sử học, tương lai học Yuval Noah Harari đã viết khá hay về lý do của sự tuyệt chủng động vật lớn tại Châu Mỹ: “Việc định cư của Sapiens (loài người tinh khôn ngày nay - PTA) ở Châu Mỹ khó mà không đổ máu. Nó để lại đằng sau một vệt dài những nạn nhân. 14000 năm trước, quần thể động vật Châu Mỹ phong phú hơn rất nhiều so với ngày nay. Khi những người Châu Mỹ đầu tiên hành quân về phía Nam... họ bắt gặp những con voi ma mút, voi răng kiếm, những loài gặm nhấm có kích thước bằng con gấu, những đàn ngựa và lạc đà, những con sư tử to quá khổ và hàng tá những động vật to lớn khác, những loài mà cho đến ngày nay hoàn toàn không được biết đến, trong đó có những con mèo đáng sợ với răng sắc như lưỡi kiếm cong, và những con lười khổng lồ nặng trên 8 tấn và cao 6 mét. Nam Mỹ là quê hương của những bầy thú còn kỳ lạ hơn thuộc động vật có vú, bò sát và chim. Châu Mỹ là một phòng thí nghiệm vĩ đại cho những thử nghiệm về tiến hóa...
Nhưng không còn nữa. Trong vòng 2000 năm kể từ khi loài Sapiens tới đây, hầu hết các loài động vật độc nhất vô nhị này đã ra đi” [16, tr.92]. “Bắc Mỹ thiệt hại ¾ của 47 loài động vật có vú khổng lồ; Nam Mỹ mất đi 50 trong số 60 loài. Hổ răng kiếm - kiệt tác của tự nhiên đã có gần 30 triệu năm tung hoành ở Châu Mỹ nhanh chóng bị tiêu diệt bởi con người. Số phận của voi ma mút, sư tử to lớn, ngựa, lạc đà, chim, côn trùng, lười khổng lồ… đều nhanh chóng tuyệt chủng... Homo Sapiens đã làm một nửa các loài động vật có kích thước lớn của hành tinh này tuyệt chủng” [10, tr.94].
Chia sẻ quan điểm này, Elizabeth Kolbert cũng nhận định trong Đợt tuyệt chủng thứ sáu: “Trong khi đó, liên quan tới loài voi răng mấu Châu Mỹ, Cuvier cũng đúng một cách khó tin. Ông đã xác định rằng loài thú này đã bị quét sạch năm hoặc sáu nghìn năm trước. Sự diệt vong của nó nằm trong một làn sóng những sự biến mất giờ được gọi là đợt tuyệt chủng của các động vật khổng lồ. Làn sóng này trùng hợp với sự lan tỏa của loài người hiện đại và thật ra đang ngày càng được cho rằng là hậu quả của việc loài người lan rộng. Theo nghĩa này, cuộc khủng hoảng Cuvier nhận thấy xảy ra ngay ở ranh giới trước khi lịch sử được ghi nhớ lại chính là do chúng ta gây ra” [13, tr.83].
Từ đó, nông dân Châu Mỹ không có “nguồn nguyên liệu thô” động vật hoang dã để tiến hành thuần hóa thành các gia súc lớn. Việc thiếu các gia súc lớn đích thực4 đã khiến các nền văn minh của châu lục này thiếu sức kéo động vật, lông và len, sữa, đạm động vật, cũng như công cụ chiến tranh hiệu quả (như ngựa ở Cựu Thế giới). “Sự phân bố rất không đồng đều các loài tổ tiên hoang dã này giữa các châu lục đã trở thành một nguyên nhân quan trọng khiến tại sao người Âu - Á, chứ không phải của các châu lục khác, đã là những người có súng, vi trùng và thép” [5, tr.227]. Có thể nói, sự biến mất của những loài động vật lớn tại Châu Mỹ là một quá trình, không phải là sự cố thiên tai đột xuất. Quá trình ấy chính là một chuỗi những hành vi săn bắn, tàn sát động vật vô tội vạ của con người.
Đọc lại công trình vĩ đại Loài tinh tinh thứ ba của Jared Diamond, ta thấy gần như các loài động vật hoang dã lớn tại Australia, New Zealand, New Guinea… đều bị tuyệt chủng trong một thời gian khá ngắn ngủi sau khi có con người đến định cư, so với quãng thời gian cả triệu năm tồn tại và tiến hóa của những loài động vật bản địa đó. Jared Diamond lý giải quá trình tàn sát của con người đối với các loài động vật bao gồm bốn cơ chế: “săn bắt quá mức, di chuyển các loài, hủy diệt môi trường sống, và hiệu ứng dây chuyền” [9, tr.468]. Ông cũng chỉ ra những loài ngoại lai, những loài ký sinh hoặc di cư theo con người một cách ngoài ý muốn như chuột, thỏ, rắn, chó… cũng gây ra những tác hại ghê gớm đối với động vật bản địa.
Hiện thực sinh học này được phản ánh trong Trăm năm cô đơn khá rõ, nhưng phải đọc khá tinh tế mới có thể nhận ra. Khi đoàn người của José Arcadio Buendía (thế hệ 1) băng rừng đi tìm miền đất mới để lập làng, và cả khi họ quyết định dừng lại ở (địa điểm sau này là) Macondo, rõ ràng thực vật bản địa rất um tùm, hoang dã và bí hiểm. Tuy nhiên, hệ động vật thì lại vô cùng nghèo nàn chỉ với khỉ, rắn, vẹt đuôi dài. Hoàn toàn vắng bóng những động vật hoang dã lớn. Trong quá trình tôi đọc kỹ những tác phẩm khác của Márquez có hành trình giữa thiên nhiên hoang dã, tiêu biểu như Tướng quân giữa mê hồn trận, Giờ xấu hay Tình yêu thời thổ tả, tình hình nghèo nàn động vật lớn tại Châu Mỹ cũng diễn ra. Chúng ta chỉ có thể bổ sung thêm cá sấu, lợn biển, bò biển với tư cách là động vật hoang dã lớn trong tác phẩm của Márquez, mà những loài động vật này rõ ràng quá hung dữ, hoặc quá khó để có thể thuần hóa thành gia súc lớn. Không ai có thể nuôi một con cá sấu để giữ nhà, hoặc có đủ ao lớn để nuôi một con bò biển nhằm lấy thịt. Quay lại với Trăm năm cô đơn, chỉ với hai đoạn trích sau, hy vọng bạn đọc có thể nhận ra sự nghèo nàn của hệ động vật hoang dã của châu lục này.
- Khi vợ chồng Úrsula cùng bạn bè quyết định bỏ làng cũ ra đi tìm miền đất mới: “Đó là một chuyến đi kỳ dị. Khi đoàn người đi được mười bốn tháng trời, với cái bụng quặn đau vì thịt khỉ và canh rắn” [17, tr.31]. Trong hành trình 14 tháng, đoàn người đã đi qua những địa hình núi cao và rừng rậm tại Nam Mỹ, song động vật hoang dã có thể ăn được và có để săn bắt chỉ là khỉ và rắn mà thôi. Nếu ta so sánh với rừng Việt Nam (giai đoạn trước 1945) thì có thể đầy rẫy hươu, lợn rừng, nai, hoẵng, tê tê, gấu, hổ, báo, các loài chim lớn như ngỗng, vịt trời, gà rừng…
- Cụ thể hơn về hành trình tìm ra Macondo, ta có thể tham khảo trích dẫn này: “Trong thời trai trẻ của mình, ông (José Arcadio Buendía lão trượng - PTA) cùng với những người bạn đã mang vợ, con cái, gia súc cùng nồi niêu bát đĩa vượt qua dãy núi này để tìm đường ra biển, nhưng sau 26 tháng ròng rã, bọn họ đã phải bỏ cuộc và đành phải lập ra làng Macondo để khỏi phải trở về chốn cũ… là nơi có bộ cá voi gồm những con vật có nước da mềm mại, có đầu và cổ của người phụ nữ. Với ma lực của những bộ vú khổng lồ, chúng vẫn thường làm cho những người đi biển mất mạng… Cuối tuần thứ nhất, họ giết và quay thịt một con nai… bọn họ ăn thịt vẹt đuôi dài, một thứ thịt xanh lè có vị hắc của xạ hương… cây cối ngày một rậm rạp, hiểm hóc hơn, tiếng chim kêu vượn hú ngày một xa dần… những chú kỳ nhông vàng ươm” [17, tr.16-17]. Tình hình vẫn nghèo nàn về sinh học. Ngoài một con nai và những con thú biển (lợn biển, bò biển, cá heo…), chúng ta không thấy sự xuất hiện của những loài động vật hoang dã lớn ăn cỏ hiền lành có khả năng thuần hóa như bò, dê, trâu, ngựa, heo…
Như vậy, tự nhiên Châu Mỹ giai đoạn tiền Columbus vốn dĩ đa dạng sinh học, nhưng có những khiếm khuyết rất cơ bản, đặc biệt là sự thiếu vắng những loài thú lớn. Nguyên nhân chính yếu vẫn chính là sự tàn phá khủng khiếp của con người (Indian bản địa) trong quá trình định cư và di cư. Sự biến mất của những động vật lớn tại Châu Mỹ sẽ dẫn đến sự tuyệt diệt của những nền văn minh và tộc người Indian bản địa trong giai đoạn sau này, đó là một quá trình chứ không phải một sự cố thảm họa tự nhiên đột xuất. Chính xác hơn, trước khi một sự kiện thảm họa tự nhiên diễn ra, thì quá trình tàn phá trước đó đã được kéo dài và đẩy nạn nhân vốn dĩ đã vào giai đoạn suy tàn, hấp hối. Những người Indian bản địa đã tiêu diệt những loài động vật lớn trong một thời gian dài, rồi đến lượt họ tự tiêu diệt chính mình trong quá trình xây dựng nền văn minh, hoặc chờ đợi đến thời điểm những người thực dân da trắng từ châu Âu xa xôi vượt Đại Tây Dương đến “khai phá” tân thế giới.
Sự biến mất của nền văn minh Maya ở Trung Mỹ (Mexico) là một ví dụ tiêu biểu. Cho đến nay, những kim tự tháp, đền đài thành quách còn tồn tại trên núi cao và trong rừng sâu Trung Mỹ của nền văn minh Maya vẫn làm cho bất cứ ai được tham quan ngạc nhiên về mức độ tinh xảo, phức tạp, kỳ vĩ của nó. Tuy nhiên, tại sao người Maya lại “đột ngột” suy tàn và biến mất như vậy đến nay vẫn còn là bí ẩn gây ra nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Vào thập niên 1930, nhà Maya học Sylvanus G.Morley của Harvard, hẳn là nhà Maya học lừng lẫy nhất thời ông, đã đặt ra giả thuyết mà đến tận ngày nay vẫn nổi tiếng: “Maya sụp đổ vì họ vượt quá ngưỡng chống chịu của môi trường. Họ vắt kiệt nguồn tài nguyên, trở nên đói khát và lũ lượt rời khỏi các thành phố…” [15, tr.344].
Xem xét sự biến mất của Macondo, ta thấy sự tương đồng kỳ lạ với số phận nền văn minh Maya. Macondo bị hủy diệt sau một cơn lốc khủng khiếp từng được nhắc đến trong Kinh Thánh (ngày tận thế), được Márquez viết vào cuối tác phẩm Trăm năm cô đơn để trừng phạt dòng họ Buendía vì đã loạn luân và đẻ ra đứa con có cái đuôi lợn huyền thoại - chuyện ấy chúng ta đã biết và cũng đã nhắc lại nhiều lần trong nghiên cứu này. Song ngày tận thế của Macondo bị hủy diệt xóa sổ hẳn nhiên không phải là hoàn toàn do sự cố thiên tai đột xuất. Trước đó, Macondo thực tế đã tiêu điều, hấp hối sau khi gánh chịu cơn mưa dài khủng khiếp (4 năm 11 tháng 2 ngày) và đợt hạn hán lịch sử (10 năm liền). Tổng thời gian thời tiết biến đổi khắc nghiệt lên đến gần 15 năm, so với lịch sử trăm năm tồn tại của dòng họ Buendía và của Macondo thì chiếm xấp xỉ đến hơn 15%. Trăm năm cô đơn viết về sự hủy hoại chậm rãi của Macondo: “Đó là cái duy nhất sẽ còn lại của một thời quá khứ mà sự hủy diệt của nó không bao giờ trọn vẹn, bởi vì nó cứ tự hủy hoại một cách chậm chạp, tự hao kiệt ngay trong chính nó và từng phút từng phút một, nó sẽ tự kết liễu mà sẽ không bao giờ chấm dứt sự kết liễu. Thị trấn đã bước tới những điểm nút ấy của sự đình trệ… Ở thị trấn Macondo bị lãng quên ấy, nơi ngay tới cả chim chóc cũng lãng quên nó, nơi bụi và hơi nóng đã trở nên rất khó chịu đến mức thở cũng vất vả lắm” [17, tr.476-477]. Nhưng trong thực tại của tiểu thuyết, quá trình tàn phá Macondo còn xảy ra sớm hơn thời điểm những cơn hạn hán và mưa lũ đằng đẵng ấy diễn ra. Quá trình tàn phá, hủy diệt môi sinh của Macondo cần phải tính từ thời điểm Công ty Chuối của Hoa Kỳ bắt đầu xuất hiện ở thị trấn này, cùng với đó là quá trình đồn điền hóa đất đai để trồng chuối.
Công ty Chuối xuất hiện vào giai đoạn mà Aureliano Triste đã mang đường sắt và tàu hỏa về với Macondo, còn Aureliano Centeno đang ăn nên làm ra với các sản phẩm kem và nước đá. Cả Aureliano Triste lẫn Aureliano Centeno đều là những người con hoang của đại tá Aureliano Buendía5, trong những năm tháng ngài rong ruổi vì 32 cuộc chiến tranh thất bại. Những người con hoang của ngài đại tá Aureliano thuộc thế hệ thứ ba trong bảy thế hệ trải qua khoảng 100 năm tồn tại của Macondo. Hai dữ kiện này cung cấp cho ta một thông tin quan trọng, đó là Macondo đã bước vào quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa thì Công ty Chuối mới xuất hiện, điều đó cũng là tất yếu, bởi công ty này đại diện cho tư bản Mỹ và quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp.
Sự tàn phá tự nhiên Macondo, khai thác cạn kiệt những tài nguyên đất, nước, thực vật của Công ty Chuối là quá rõ ràng. “Do được phú những khả năng mà xưa kia Chúa trời mới có, họ thay đổi cung cách mưa, rút ngắn mùa thu hoạch, dời dòng sông sang phía đầu làng bên kia, đằng sau khu nghĩa địa. Cũng vào dịp đó, họ xây hẳn một chiếc lăng bằng bê tông thay cho nấm mồ cũ của José Arcadio” [17, tr.274]. Công ty Chuối đã đưa đến Macondo những chuyến tàu đầy ắp gái điếm, những công dân gốc gác Tây Ấn da đen, những khu lán trại công nhân với điều kiện vệ sinh tồi tệ và những căn bệnh dịch xã hội. Dân cư đông đúc trong một không gian hẹp, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và tự phát đã dẫn đến phá rừng, thoái hóa đất, ô nhiễm môi trường bởi rác thải, thuốc trừ sâu, sự cạn kiệt nguồn nước ngầm do tưới tiêu… tất cả đã góp phần tàn phá và hủy diệt Macondo. Một kết cục như nền văn minh Maya đã lại diễn ra với người dân Macondo.
Theo Jared Diamond, trong công trình nổi tiếng Loài tinh tinh thứ ba, loài người có hai đặc tính rất nguy hiểm, có khả năng đe dọa sự tồn vong của chính giống nòi của mình, đó chính là “xu hướng giết hại lẫn nhau và hủy hoại môi trường của chúng ta” [9, tr.12]. Tại Macondo, cả hai xu hướng này diễn ra gần như đồng thời, với việc tàn phá môi trường nặng nề nhằm lấy đất đai để làm đồn điền trồng chuối. Xu hướng đàn áp đẫm máu dẫn đến vụ “Thảm sát công nhân đồn điền chuối” với hơn ba ngàn người chết là một ví dụ sinh động cho xu hướng thích tàn sát đồng loại của loài người. Hai khuynh hướng này kết hợp lại với nhau nên đã tạo ra bi kịch cho Macondo cùng những cư dân của nó, đó là sự hủy diệt hoàn toàn.
P.T.A
(TCSH443/01-2026)
-----------------
1 https://baodantoc.vn/vi-sao-con-song-amazon-dai-nhat-the-gioi-khong-co-cau-bac-qua-1649318247350.htm
2 Những người thổ dân da đỏ không thờ cúng tổ tiên như chúng ta. Đối với người da đỏ bản địa, những linh hồn người đã chết biến mất càng sớm thì càng tốt, ngay cả trong ký ức của những người sống cũng nên sớm quên đi. Họ không sợ hãi trước thần linh và ma quỷ như người Việt Nam. Mối quan hệ giữa con người với các thực thể siêu nhiên như ma quỷ hay thần linh là bình đẳng. “Nói tóm lại, người chết không có quyền lực nào và đã được loại trừ khỏi tập thể con người” [4, tr.504].
3 Theo J.Diamond, sởi, đậu mùa và lao là các căn bệnh có nguồn gốc từ bò, cúm từ gà, vịt và lợn, ho gà từ lợn, chó, sốt rét từ gà và vịt [bảng 11.1 trong chương 9, Súng, vi trùng và thép].
4 Hai loài lạc đà không bướu bản địa Châu Mỹ là Llama và Alpaca thật ra khá nhỏ bé (Llama có trọng lượng trung bình từ 130 đến 200kg; Alpaca dưới 90kg). Chúng sống khá xa cách với con người kiểu bán hoang dã, có tính cách nhút nhát, không thân thiện, chủ yếu chỉ dùng để lấy lông và thồ hàng nhẹ, không chở được người trên lưng. Hai loài này sống chủ yếu trên những địa hình núi cao như dãy Andes (3500 đến 5000m), có số lượng cá thể cũng khá hạn chế. Theo J.Diamond, trong bảng 9.3, chương 9 trong Súng, vi trùng và thép, hai loài lạc đà này mới được thuần hóa thực sự không quá 3.500 năm tại Châu Mỹ, trong khi đó loài chó nhà có 10.000 năm thuần hóa; cừu, dê, lợn có đến 8000 năm thuần hóa và bò có 6000 năm được thuần hóa tại Cựu Thế giới.
5 Ngài đại tá Aureliano Buendía có một người con chính thức (Aureliano José) với Pilar Tecnera và 17 người con rơi - bao gồm cả Aureliano Triste và Aureliano Centeno. Tất cả những người con trai của ngài đại tá, kể cả con rơi và con chính thức đều bị giết chết công khai hoặc bí ẩn, bởi những lực lượng vũ trang của chính phủ Bảo hoàng.
_________________
Tài liệu tham khảo:
1. Benedict Anderson (2018), Cộng đồng tưởng tượng - Nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc (Lưu Ngọc An dịch), Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
2. Phan Tuấn Anh (2015), Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại, Nxb. Văn học, Hà Nội.
3. Laurence Bergreen (2019), Columbus - Bốn chuyến hải hành (Đặng Tuyết Anh dịch, Võ Minh Tuấn hiệu đính), Nxb. Thế giới, Hà Nội.
4. Philippe Descola (2021), Bên kia tự nhiên và văn hóa (Phạm Văn Quang, Võ Thị Ánh Ngọc dịch), Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
5. Jared Diamond (2007), Súng, vi trùng và thép - Định mệnh của các xã hội loài người (Trần Tiễn Cao Đăng dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội.
6. Jared Diamond (2007), Sụp đổ (Hà Trần dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội.
7. Jared Diamond (2015), Thế giới cho đến ngày hôm qua (Hồ Trung dịch), Nxb. Thế giới, Hà Nội.
8. Jared Diamond (2020), Biến động (Nguyễn Thanh Xuân dịch), Nxb. Dân trí, Hà Nội.
9. Jared Diamond (2021), Loài tinh tinh thứ ba (Nguyễn Thủy Chung, Nguyễn Kim Nữ Thảo dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội.
10. Yuval Noah Harari (2017), Sapiens - Lược sử về loài người (Nguyễn Thủy Chung dịch, Võ Minh Tuấn hiệu đính), Nxb. Tri thức, Hà Nội.
11. Yuval Noah Harari (2018), Homo Deus - Lược sử tương lai (Nguyễn Thủy Chung dịch, Võ Minh Tuấn hiệu đính), Nxb. Tri thức, Hà Nội.
12. Yuval Noah Harari (2019), 21 bài học cho thế kỷ 21 (Dương Ngọc Trà dịch), Nxb. Thế giới, Hà Nội.
13. Elizabeth Kolbert (2018), Đợt tuyệt chủng thứ sáu (Trần Trọng dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội.
14. Charles C.Mann (2019), Pháp sư và nhà tiên tri - Hai quan điểm đối lập định hình tương lai nhân loại (Tùng Vũ dịch), Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
15. Charles C.Mann (2019), 1491 - Những khám phá mới về Châu Mỹ thời kỳ tiền Columbus (Đỗ Nguyễn Nhị Hà dịch), Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
16. Charles C.Mann (2019), 1493 - Diện mạo Tân thế giới của Columbus (Đỗ Nguyễn Nhị Hà dịch), Nxb. Đại học Dân trí, Hà Nội.
17. Gabriel García Márquez (2020), Trăm năm cô đơn (Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch), Nxb. Văn học, Hà Nội.
18. Tim Marshall (2020), Những tù nhân của địa lý (Phan Linh Lan dịch), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
19. Erik Orsenna (2019), Địa chính trị của loài muỗi - Khái lược về toàn cầu hóa (Trần Thị Phương Thảo dịch), Nxb. Hà Nội, Hà Nội.
20. Jack Weatherford (2021), Những món quà của người da đỏ (Bùi Trần Ca Dao dịch), Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng.