TRẦN BẢO ĐỊNH
Trên làng văn hiện nay, PGS.TS Bùi Thanh Truyền vừa là nhà sư phạm, nhà nghiên cứu có uy tín với nhiều trang viết đóng góp đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu văn học.
Từ văn học thiếu nhi đến lý thuyết hậu hiện đại, từ thành tựu lý luận phê bình thời kỳ Đổi Mới đến văn xuôi đương thời và ông, tích cực tham gia bằng sự nghiêm cẩn học thuật cũng như tấm lòng đầy nhiệt huyết của một nhà giáo dục. Chuyên luận Môi trường kêu cứu văn chương đáp lời (Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, ấn hành năm 2026) đã tiếp tục thể hiện sự nỗ lực truyền cảm hứng, trọng ý thức trách nhiệm, vững vai trò nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu. Bằng tình yêu dành cho văn học Nam Bộ, tập sách này khơi mở niềm thao thức, trăn trở của PGS. TS Bùi Thanh Truyền trước vấn nạn môi trường sinh thái - “Bất bình tắc minh” (Hàn Dũ) và qua đó, ông khẩn thiết góp thêm tiếng gọi đạo đức sinh thái trong đời sống hôm nay.
1. Dấu ấn nổi bật của trang viết ấy là nét đẹp nhân văn, sự tôn vinh tinh thần và lối sống “hòa ái”, “bền vững” của văn học sinh thái Nam Bộ cũng như văn hóa bình dân Nam Bộ. Qua việc khảo sát nghiên cứu của PGS. TS Bùi Thanh Truyền cùng nhiều cộng sự tâm huyết - nếp sống hòa ái bền vững vừa là một biểu hiện mang tính tư tưởng trong sáng tạo văn học, vừa là một khía cạnh của hằng số văn hóa Nam Bộ. Từ sáng tạo văn học đến thực hành nghiên cứu, những hình tượng con người lao động thân thương gần gũi, chân thật với lối sống sẻ chia, chan hòa với đồng loại cũng như với thiên nhiên tạo vật. Môi trường kêu cứu văn chương đáp lời chứng minh rằng đạo đức sinh thái Nam Bộ đích thực biểu hiện nhất quán từ thực tiễn đến sáng tạo văn học vốn đã: “được hình thành từ sự chưng cất của mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa mỗi cá nhân với cõi sống qua thăm thẳm thời gian, những trang viết mang tinh thần sinh thái vùng đất phương Nam tích cực góp phần nuôi dưỡng tâm thức về đồng bằng, miệt vườn, sông nước. Kết quả bước đầu của văn học sinh thái Nam Bộ là minh chứng về sự nhạy cảm, bản lĩnh, cái tâm cùng trách nhiệm công dân của nghệ sĩ với thực trạng xã hội. Nó góp phần kiến tạo một cuộc sống hòa ái, vững bền cho con người trên tinh thần bình đẳng, trân quý “cõi trọ” của mình” (tr.6).
Theo nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền và cộng sự, văn học Nam Bộ từ thời kỳ Đổi Mới đã cho thấy ý thức lương tri sâu sắc trong mối quan hệ với tự nhiên (tr.8). Công trình với tầm nhìn phát triển bền vững, đã tham gia kiến tạo môi trường sinh thái nhân văn không chỉ cho hôm nay mà còn cho thế hệ tương lai. Đặc biệt là thông qua những bài học sinh thái và nguyên tắc đạo đức sinh thái, nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền thúc đẩy chức năng giáo dục của sáng tạo văn học, khuếch trương sức mạnh cảm hóa của văn chương đối với tâm hồn con người. Rõ hơn, nhà nghiên cứu họ Bùi khiến cho bạn đọc không khỏi bận tâm: rồi chúng ta hôm nay sẽ để lại di sản như thế nào cho thế hệ mai sau? Nhân loại hiện nay sẽ để lại cho thế hệ sau một môi trường ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt, suy giảm đa dạng sinh học,... hay quê hương đẹp tươi an hòa, tất cả tùy thuộc vào cách nghĩ cách sống của mỗi cá nhân ngay lúc này. Với những thao thức như vậy, tập sách tạo hiện bức chân dung của PGS. TS Bùi Thanh Truyền, đó là sự kết hợp hài hòa giữa nhà học thuật và nhà sư phạm, giữa nhà văn và nhà phê bình.
Tâm huyết trong công trình của PGS.TS Bùi Thanh Truyền cùng cộng sự hòa chung niềm thôi thúc, quyện với tính cấp bách thời đại. Trước thực trạng thiên nhiên bị tàn phá, hủy diệt, con người hơn bao giờ hết phải hành động nhanh, quyết liệt theo những cách thức khác nhau hiệu quả tức thời. Và, người cầm bút thông qua trang viết có thể tham gia tích cực hồi đáp tiếng kêu cứu của tự nhiên. Nghiên cứu của nhà sư phạm Bùi Thanh Truyền và cộng sự hành động hồi đáp kịp thời đúng lúc cho mục tiêu chung của nhân loại trong kỷ nguyên này - mục tiêu phát triển bền vững mà Liên Hợp Quốc nêu ra.
Bên cạnh đó, nét đẹp nhân văn còn biểu hiện ở nghĩa thầy trò và tình nhân ái văn chương - Chữ trọn Nghĩa, người đi trước nâng bước thế hệ sau và thế hệ sau cho thấy tinh thần “tôn sư trọng đạo” đáng quý. Nhà giáo Bùi Thanh Truyền bày tỏ sự trân trọng đối với nỗ lực cộng tác mang chỉ dấu tâm huyết, chân tình của tập thể các tác giả Nguyễn Thị Thúy An, Hoàng Thị Tú Anh, Hồ Tú Ân, Tô Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nguyễn Thị Kim Tiến và Lê Minh Tú. Có thể nói, chuyên luận Môi trường kêu cứu văn chương đáp lời thể hiện đủ cả nét đẹp sư phạm lẫn tinh thần cầu học và học đi đôi với hành. Công trình đưa hoạt động nghiên cứu cắm rễ sâu vào thực tiễn đời sống, kích hoạt nghiên cứu học thuật văn học từng bước kết đoàn bền vững.
2. Bên cạnh nét đẹp nhân văn, chân dung học thuật của PGS. TS Bùi Thanh Truyền còn hiện lên qua tầm nhìn đa chiều trong thực hành nghiên cứu. Tầm nhìn nghiên cứu của ông hài hòa giữa tính bản địa và tính toàn cầu. Trong những vấn đề của sinh thái trong văn chương Nam Bộ đầu thế kỷ XXI, có những vấn đề chung của toàn cầu, đồng thời có những vấn đề đặc thù của Nam Bộ và Đông Nam Á. PGS. TS Bùi Thanh Truyền đã chứng minh một cách thuyết phục qua những tác phẩm văn học Nam Bộ trải dài trên phạm vi rộng về không gian và thời gian. Trong đó, ông nhấn mạnh: “Những phản ứng đối với tình trạng khủng hoảng môi trường, thậm chí ở quy mô toàn cầu đi nữa, thường mang tính địa phương như một tất yếu với những biểu hiện văn hóa khác nhau. Biến đổi khí hậu và những tác động của nó lên văn hóa, xã hội, lịch sử tại Nam Bộ là đề tài mang nhiều ý nghĩa thời sự, nhân văn trong văn học phương Nam, nhất là những năm đầu thế kỷ XXI khi vấn nạn môi trường, nguy cơ sinh thái đã vượt ra bên ngoài một thời điểm, một không gian, một tổ chức, ngành nghề cụ thể, trở thành vấn đề của cả vùng đất, quốc gia và khu vực” (tr.10).
Kỳ vọng của nhà nghiên cứu là hòa vào dòng chảy chung bằng bản sắc riêng. Nỗ lực của tập sách này cũng như nghiên cứu văn học đã hòa vào nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, nhằm tạo nên sức mạnh tổng lực mang tính thời đại để cứu lấy thiên nhiên. Tại đây, bạn đọc nhìn thấy chân dung nhà nghiên cứu trong tư thế cởi mở, hội nhập, hài hòa giữa dòng chảy chung và màu sắc bản địa. Nhất là, qua nghiên cứu của ông, căn tính văn hóa Nam Bộ được phát huy thêm, làm phong phú thêm địa hạt văn học sinh thái ở trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.
Tiếp cận nghiên cứu từ góc nhìn thể loại - tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn - nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền triển khai lời hồi đáp trước hết bằng sự nhận diện. Nhận diện chấn thương môi trường đa cấp độ, nhiều sắc thái, từ đó ông tiến đến đa cực hóa diễn ngôn sinh thái mà đúng hơn là thời sự hóa diễn ngôn trần thuật. Trang viết của ông thúc đẩy tính đối thoại và nỗ lực triết luận, hòng làm sâu sắc thêm nhận thức sinh thái và thực hành đạo đức của con người với tự nhiên. Bên cạnh đó, ông phát hiện thế mạnh của tiểu thuyết trong việc khắc họa những vấn nạn sinh thái. “Nhờ thế mạnh trộn hòa, chồng lấn các giọng điệu, phong cách ngôn ngữ đặc trưng của thể loại, tác phẩm đã đề cập đến hàng loạt thảm họa môi trường ở nông thôn, đô thị một cách thản nhiên mà vẫn đau đáu, văn chương lai láng mà vẫn nóng bỏng chất thời sự. Truyện vì thế mang đậm tính hiện thực và ý nghĩa nhân văn” (tr.82).
Khám phá, phân tích điểm nổi bật của văn học Nam Bộ - không gian sống miệt vườn, sông nước, nghĩa tình - những trang viết của nhà giáo Bùi Thanh Truyền cho thấy từng con chữ bật ra từ nỗi đau thiên nhiên. Hòa trong nỗi đau ấy là niềm trăn trở khôn nguôi của một tâm hồn ý thức sâu sắc trách nhiệm của người cầm bút. Cùng với sự xói mòn của tự nhiên, nhà nghiên cứu họ Bùi còn thao thức trước tình cảnh biến đổi văn hóa. Bởi, tự nhiên và văn hóa con người nối liền mạch sống, sự sụp đổ của cái này tức thời ảnh hưởng biến đổi đến cái kia và ngược lại. Nhất là “làn sóng đô thị hóa cũng nhấn chìm, cuốn phăng nhiều giá trị văn hóa truyền thống của làng quê. Những liếp dừa, hàng cau, rặng tre, hàng bạch đàn bị đốn, thân cành ngổn ngang. Đất bây giờ là tiền, là nước mắt, là máu” (tr.109). Sức nóng đô thị hóa theo đúng nghĩa đen và để áp chế, người ta chuyển sang dùng điều hòa nhưng có lẽ cái mát ấy không thể so với làn gió nhẹ thoảng đưa hương bưởi hương cau trong một đêm quê thanh vắng yên bình. Trong dòng chảy đô thị hóa đó, người ta cảm thấy như đã mất một cái gì rất sâu, rất nền tảng tận đáy tâm hồn. Sự mất mát đó như lời kêu gọi mãi cứ đau đáu trong tâm hồn và tràn chảy qua trang viết thấm đẫm khát khao yêu thương.
3. Với tầm nhìn đa chiều, công trình Môi trường kêu cứu văn chương đáp lời còn bộc lộ một dự phóng xa và rộng. Dự phóng này góp thêm một khía cạnh nữa cho chân dung học thuật của nhà giáo Bùi Thanh Truyền. Cốt tủy của dự phóng này là một niềm thổn thức và nỗi đau xót trước vết thương sinh thái ngày càng trầm trọng. Chính nỗi niềm này càng kích hoạt mong muốn khao khát đề xuất phương hướng sống bền vững cho tương lai. Trên nền tảng nhận thức như vậy, bạn đọc có thể cùng tham gia vào dự phóng về một cuộc “cách mạng xanh” trong sáng tạo và nghiên cứu văn học. “Nỗ lực để thiên nhiên cất lên tiếng nói là một cuộc “cách mạng xanh” trong văn xuôi phương Nam, một đóng góp đáng kể cho quá trình tiến hóa của sinh quyển Nam Bộ cũng như cho sự phát triển của hệ sinh thái Việt Nam và Đông Nam Á. Vượt qua vị thế bên lề, thứ yếu, văn học vùng đất này đã góp phần kiến dựng triết lý tân tự nhiên của thế kỷ XXI: con người là một phần của tự nhiên vì thế phải biết sống bình đẳng, tế nhị, hòa điệu với tự nhiên hơn là vô cảm, phá phách hoặc tìm mọi cách để chiến thắng tự nhiên” (tr.10).
Dự phóng nghiên cứu của PGS. TS Bùi Thanh Truyền thực sự làm rõ thêm giá trị văn học Nam Bộ, đồng thời nâng tầm văn học Nam Bộ trong bối cảnh văn học khu vực. Từ triết lý tân tự nhiên, công trình kêu gọi xây dựng lại nền tảng đạo đức sinh thái. Một nền tảng đạo đức sinh thái hằng có trong sinh hoạt đời sống của mỗi người bình dân Nam Bộ, bấy giờ được tái hiện trong sáng tạo văn học, để rồi ngòi bút phê bình kích hoạt thêm sức mạnh chuyển hóa của nền tảng đạo đức ấy, làm thay đổi nhận thức của mỗi bạn đọc hiện nay. Nền tảng đạo đức này vừa lưu giữ những hằng số văn hóa Nam Bộ trong sáng tác văn học; vừa phát huy tính thời đại thích nghi với những tình thế mới trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Với ngôn từ đơn sơ mà nồng nàn tình cảm, sâu nặng về tình hơn là thiên về lý, nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền không nhắm đến thuyết phục bạn đọc bằng lý trí mà mong mỏi cảm hóa lòng người bằng sự nặng tình rất Nam Bộ, rất Cửu Long. Vì thế, đạo đức sinh thái Nam Bộ không trở thành nguyên tắc mang tính bắt buộc, áp chế mà hiện diện như một tấm chân tình, một niềm luyến thương sâu thẳm trong mỗi trái tim. Từng con chữ vì thế thấm và ngấm vào tận tâm hồn; như cơn mưa gột rửa bao bụi bặm cơ giới của đời sống công nghiệp; làm tâm hồn ta quay trở về một buổi trưa hè với tiếng cu gáy trên đọt tre đong đưa.
Đúng như tên gọi tập sách, sự đáp lời của PGS. TS Bùi Thanh Truyền là sự rung động, cảm thương cho những niềm đau sinh thái của văn học Nam Bộ. Nhà nghiên cứu và nhà giáo Bùi Thanh Truyền bồi hồi thương cảm cho tiếng kêu thương của môi trường, vang vọng trong những sáng tác văn xuôi Nam Bộ. “Với đội ngũ người viết hôm nay, tác phẩm khởi đi từ trái tim đau bởi hàng ngày chứng kiến bao thảm trạng của môi trường cùng với đó là bi kịch tương ứng của nhân loại” (tr.60). Không chỉ thổn thức trắc ẩn với thiên nhiên, nhà giáo Bùi Thanh Truyền còn xót xa trước cảnh sống của chính con người - Vâng, chính con người, ông nhìn thấy ở đó mối quan hệ nhân quả giữa việc khai thác thiên nhiên vô độ - nhân tai và những thiên tai, thiên nhiên đáp trả; hậu quả tàn khốc con người đang phải gánh chịu. Công trình nghiên cứu của ông có thể ví như tấm gương soi giúp người đọc có thể lấy đó nhìn lại chính mình để con người nhận thức sâu sắc về hành vi của mình với thiên nhiên.
Đâu đó trong xã hội ta vẫn thấy những trái tim khao khát quay trở về thiên nhiên, muốn sống xanh và sống đẹp với thiên nhiên. Vì thế, nghiên cứu của PGS. TS Bùi Thanh Truyền thực sự kịp thời khêu sáng thêm khao khát ấy. Những nỗi niềm gửi gắm trong tập sách này tham gia thiết thực vào đời sống và như thế nhà nghiên cứu, nhà giáo họ Bùi đã thực hiện được trách nhiệm của mình với đời sống đương thời. Thực hành nghiên cứu của PGS. TS Bùi Thanh Truyền cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa ý thức trách nhiệm và tấm chân tình dành cho thiên nhiên, cho văn học Nam Bộ.
4. Tấm chân tình ấy cũng chính là khía cạnh trong chân dung học thuật của PGS. TS Bùi Thanh Truyền. Công trình Môi trường kêu cứu văn chương đáp lời vừa là tấm lòng vừa là nỗi ưu tư của nhà giáo và trách nhiệm nhà nghiên cứu trước tình trạng sinh thái bị tàn phá kiệt quệ. Tập sách vang vọng nỗi niềm của một nhà sư phạm trước tiếng kêu cứu của thiên nhiên. Và, trước tình cảnh như vậy, trái tim con người đích thực không thể không thổn thức, không thể không đáp lời. Sự hồi đáp biểu hiện thông qua cộng hưởng với sáng tạo văn học. Cộng hưởng để rồi tự phản tỉnh và kêu gọi lan tỏa sự phản tỉnh. “Sự phản tỉnh về vai trò, chức năng văn học, của nghệ sĩ trước sự lâm nguy của môi trường, phê bình sinh thái đã phát triển nhanh chóng và trở thành chuyên ngành nổi bật của nghiên cứu văn học ngày nay, một hướng phê bình văn học mang tính toàn cầu. “Đối tượng, phương pháp cũng như trọng tâm nghiên cứu phê bình sinh thái không bất di bất dịch mà ngày càng mở rộng và phức tạp. Tuy vậy, sứ mệnh của nó là bất biến: góp phần thay đổi thái độ của nhân loại với tự nhiên”” (tr.14 - 15).
Khuynh hướng phê bình sinh thái minh chứng cho khả năng phản tỉnh của con người. Nhưng với đời sống nhộn nhịp bộn bề hôm nay, sự phản tỉnh có nguy cơ bị vùi lấp. Và do đó, sự lan tỏa của tập sách này càng trở nên có ý nghĩa. Nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền đã kích hoạt thêm khả năng phản tỉnh của phê bình sinh thái, khuếch trương sức cảm hóa của văn chương Nam Bộ. Về phía ngược lại, sự phản tỉnh trở thành đặc trưng nhận thức trong phong cách nghiên cứu của ông.
Phản tỉnh về thảm trạng sinh thái bắt nguồn từ lối sống của con người, vấn đề sinh thái thực chất là vấn đề con người. Một trong số thực tiễn chứng minh tác động sâu sắc đến biến đổi sinh thái: quá trình đô thị hóa. Chuyên khảo Môi trường kêu cứu văn chương đáp lời của nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền di chuyển từ chỗ nắm bắt trang văn, phơi bày thực trạng sinh thái, lý giải nguyên nhân và sau nữa thể hiện tầm nhìn cân bằng đời sống con người và thiên nhiên. Trong việc lý giải nguyên nhân, nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền sử dụng hình tượng “thành phố tiêu thụ” trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng tăng. Qua đó, nhà nghiên cứu lý giải chủ nghĩa tiêu dùng chính là nguyên nhân đẩy con người đến chỗ đối đầu với thiên nhiên. “Thành phố trong cơn cuồng vọng của chủ nghĩa tiêu dùng đã nảy sinh ma lực đẩy con người, thiên nhiên đến vực thẳm hủy diệt. Giữa niềm hạnh phúc làm chủ khoa học kỹ thuật, niềm hân hoan bởi ảo tưởng thống trị tự nhiên, bởi sự tăng trưởng kinh tế, bởi lợi ích trước mắt mà công cuộc hiện đại hóa mang lại, con người vẫn luôn cảm thấy lẻ loi, thất vọng về thực tại. Khi chủ nghĩa tiêu dùng lên ngôi, sống trong tâm thế chạy đua với đồng tiền, coi thiên nhiên là công cụ tất yếu để phục vụ cho những ham muốn tột cùng, con người dần đánh mất đạo đức sinh thái và lâm vào những xúc cảm bi quan của sinh thái tinh thần” (tr.66).
Từ góc nhìn xã hội đi vào nội tại mỗi cá nhân, nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền mổ xẻ cái tôi tiêu thụ và dục vọng khôn cùng của con người. Không chỉ có thiên nhiên, với cái tôi tiêu thụ, con người còn đánh mất những giá trị nhân văn khác. Trong số đó, niềm tin tưởng và lòng trắc ẩn trở nên khan hiếm trong đời sống hôm nay. Giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, cái tôi tiêu thụ ngày càng củng cố chủ nghĩa cá nhân, thậm chí cực đoan hóa chủ nghĩa cá nhân, theo đó làm gia tăng ý thức chiếm hữu. Con người ta ngày càng muốn có nhiều, có nhiều hơn nữa; sở hữu càng nhiều càng tốt. Nhưng, lòng tham không đáy đó cũng là vực thẳm của đời người. Việc sống của con người rốt cuộc bị thu gọn lại thành quá trình làm nô lệ cho lòng tham. Đà biến đổi này không chỉ gây thảm trạng cho thiên nhiên mà chính bản thân con người cũng phải đối diện thường trực với thách thức của việc sống còn. Nhất là sự sống còn trong các đô thị hiện đại. Đô thị hóa qua văn xuôi Nam Bộ đã gợi mở những ưu tư cần thiết để lay động tâm hồn con người, kêu gọi con người thay đổi tự thân, hạn chế hoặc kiềm hãm cái tôi tiêu thụ để cứu lấy môi trường. Nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền nhấn mạnh: “Bức tử tự nhiên, môi trường sống, con người trở thành nạn nhân của chính mình, ngày càng đi đến bờ vực cái chết - và cay đắng nhất là chết ngay trong khi vẫn đang tồn tại - do chính sự thờ ơ, vô cảm, thiếu tôn trọng tự nhiên của mình tạo ra. Thẳng thắn và mỉa mai, nhà văn đã phê phán hiện tượng “Cái tôi tiêu thụ” (Consumer Self) nhằm khẳng định thế giới này không chỉ tồn tại mỗi vật chất; những giá trị vô hình của đời sống như tình yêu, niềm tin, an yên mới là đích đến của con người. Chỉ có nỗ lực “xanh hóa” không gian sống, người dân đô thị mới có cơ hội sống cân bằng, bền vững trong tương lai” (tr.67).
Từ sáng tạo văn học đến phê bình văn học, ý thức phản tỉnh đã trở thành một khía cạnh chân dung học thuật của nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền. Bao hàm trong ý thức phản tỉnh này, đó là nỗi ưu tư, niềm thao thức, nhận thức về trách nhiệm, vai trò và tiếng thúc giục phải hành động; nhất là cái nhìn ngược lại chính bản thân mỗi con người. Với những vị trí khác nhau trong đời sống, sự phản tỉnh của tập sách này giúp bạn đọc nhìn lại để nhìn sâu hơn vào chính đời sống bản thân. Từ đó, bạn đọc nhìn rộng ra xung quanh, nhìn hướng đến tương lai. Nhờ đó, trải nghiệm sống của mỗi người sâu sắc, vững bền và hoàn thiện hơn.
5. Nhìn vào cốt tủy của ý thức phản tỉnh, tập sách của PGS. TS Bùi Thanh Truyền đặt trên nền tảng tư tưởng và truyền thống văn hóa sâu bền. Để khuếch trương khả năng cảm hóa của văn chương, nhà nghiên cứu Bùi Thanh Truyền dựa trên tư tưởng sinh thái và đạo đức truyền thống. Ông nhìn thấy nguyên nhân thảm trạng sinh thái: sự suy thoái đạo đức của con người. Cụ thể, đó là lòng tham. Lòng tham không đáy của con người đã biến thiên nhiên từ một bà mẹ hiền trở thành đối thủ hung bạo. “Sự lạm dụng tự nhiên không thương tiếc, làm biến dạng, phá hỏng môi trường sống, phá vỡ sự cân bằng sinh thái đã khiến con người phải chịu hậu quả khôn lường từ những cơn thịnh nộ của tự nhiên. Người mẹ vĩ đại ấy đã không đủ bao dung trước dục vọng của con cái. Đâu còn là cha trời, mẹ đất, bạn cây, tình sông, nghĩa núi, tự nhiên giờ đã trở thành đối thủ của con người” (tr.61).
Ý thức chiếm hữu là biểu hiện của dục vọng. Lòng ham muốn của con người không có điểm dừng. Con người muốn chiếm hữu hoàn toàn những tài nguyên thiên nhiên không thuộc về mình và bất cần biết bị tàn phá thì cuộc sống con người sẽ tan hoang. Dẫu nhìn thấy tận mắt sự “thâm”, nhưng con người cũng không thể hạn chế lòng “tham”. Lúc đó, lòng tham chính là huyệt mộ của con người. Tư tưởng sinh thái trong chuyên khảo của PGS.TS. Bùi Thanh Truyền đồng thời là tư tưởng trong giáo dục. Những chia sẻ trong tập sách cũng là bài học sinh thái, để mỗi người tự phản tỉnh, tự nung rèn và chuyển hóa.
Qua chuyên khảo Môi trường kêu cứu văn chương đáp lời, độc giả nhận ra chân dung học thuật của nhà sư phạm Bùi Thanh Truyền. Đó là chân dung kết hợp của nét đẹp nhân văn, tầm nhìn đa chiều, dự phóng xa rộng, ý thức phản tỉnh và tư tưởng sinh thái đậm màu sắc văn hóa truyền thống Nam Bộ. Tập sách cũng cho thấy phong cách nghiên cứu của ông kết hợp với tác phong của nhà giáo khoa. Mang nhiều giá trị học thuật, song nghiên cứu của ông cũng đủ gần gũi để tác động đến rộng rãi độc giả. Cách viết dung dị, chân thành giúp nội dung nghiên cứu còn đọng lại sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Tóm lại, ý nghĩa của việc nghiên cứu không dừng lại ở những trang viết nặng chữ nghĩa mà ở khả năng tác động vào lòng người. Sự tác động này, có thể làm thay đổi phần nào lối sống con người, nhất là con người trong bối cảnh đô thị công nghiệp. Thông qua công trình này, nhà nghiên cứu, nhà sư phạm Bùi Thanh Truyền cùng cộng sự kỳ vọng xây dựng nền tảng ban đầu bền vững nhằm hạn chế thực trạng khủng hoảng sinh thái Nam Bộ.
T.B.Đ
(TCSH450/08-2026)