NGUYỄN VĂN TOÀN
Ngày 31/10/2025, Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã thông qua nghị quyết vinh danh và cùng tham gia Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 1784). Năm 2026 này là đúng 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
Tối 31/7/2026, tại xã Lê Quý Đôn (tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tỉnh Hưng Yên long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn; đón nhận Nghị quyết của UNESCO vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh của ông và Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Rạng rỡ văn hiến Việt Nam”. Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh điều làm nên giá trị trường tồn của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là sự uyên bác hiếm có, số lượng và tầm vóc của các trước tác mà chính là nhân cách của một trí thức lớn: Học rộng nhưng luôn coi trọng thực tiễn; tiếp thu tinh hoa bên ngoài nhưng giữ vững bản sắc dân tộc; làm học thuật gắn với trách nhiệm xã hội; làm quan gắn với việc chăm lo cho dân, cho nước.
Gia thế
Lê Quý Đôn tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Ông sinh tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên).
Lê Quý Đôn xuất thân trong gia đình khoa bảng. Cha ông là Lê Trọng Thứ (1693 - 1783), làm đến chức Thượng thư Bộ Hình.
Lê Trọng Thứ xuất thân từ một gia đình thuộc dòng họ Lý, có tổ bốn đời từng làm quan đến chức Binh bộ Thượng thư. Tổ ba đời của Lê Trọng Thứ là Phúc Thiện công được hưởng tập ấm với hàm Công bộ Thượng thư về làm quan ở huyện Diên Hà. Sau Phúc Thiện công đổi ra họ Lê để về dạy học và định cư ở làng Diên Hà.
Cha của Lê Trọng Thứ là Phúc Lý công. Phúc Lý công vốn học rộng, biết nhiều nhưng vì tránh nạn nên phải xuống làng Vị Dương (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) để dạy học. Sau mấy năm dạy học ở Vị Dương, Phúc Lý công trở về làng Diên Hà sinh sống và dạy dỗ con em trong vùng rồi sinh ra Lê Trọng Thứ.
Năm 18 tuổi, Lê Trọng Thứ đỗ Sinh đồ (Tú tài). Năm 27 tuổi, Lê Trọng Thứ thi đỗ Cử nhân. Năm 1724, Lê Trọng Thứ thi đỗ Tiến sĩ, được bổ nhiệm vào Hàn lâm viện, nơi tập trung các trí thức lớn phụng sự triều đình.
Lê Trọng Thứ là người vốn sống giản dị, thanh bạch, ghét sự xu nịnh, tranh giành chốn quan trường nên chẳng bao lâu ông đã bị triều đình điều đi làm giám sát ở Hải Dương. Sau vì dâng sớ vạch tội đám quan lại tham nhũng, năm 1731, Lê Trọng Thứ bị cách chức cho về quê nhà. Từ đây, Lê Trọng Thứ trở về quê mở lớp dạy học. Năm 1740, Trịnh Doanh lên ngôi chúa, nghe theo lời can gián của một số trung thần đã ra sắc chỉ khôi phục chức tước cho Lê Trọng Thứ. Năm 66 tuổi, khi đang làm chức Hữu Thị lang Bộ Hộ, Lê Trọng Thứ xin nghỉ hưu, được vua Lê, chúa Trịnh đồng ý. Ít lâu sau, Lê Trọng Thứ lại được vời ra làm quan lần thứ hai và thăng đến chức Thượng thư Bộ Hình. Lê Trọng Thứ về nghỉ hưu hẳn ở tuổi 80, mất năm 1783.
Trương Thị Ích (mẹ của Lê Quý Đôn) là con gái Tiến sĩ Trương Minh Lượng làm quan Hoằng Phái hầu. Quan Hoằng Phái hầu Trương Minh Lượng đã gả con gái của mình là Trương Thị Ích cho chàng Cống sinh nhà nghèo là Lê Trọng Thứ. Lê Trọng Thứ đã trở thành ông Nghè tân khoa năm Giáp Thìn (1724). Hai năm sau khi thi đỗ, Lê Trọng Thứ đã cùng Trương Thị Ích sinh ra Lê Quý Đôn.
Bối cảnh đất nước
Lê Quý Đôn sinh sống, làm việc trong khoảng thời gian Đàng Ngoài có nhiều biến động. Trước đó, trong giai đoạn 1627 - 1672, hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đánh nhau 7 lần nhưng không phân thắng bại, phải lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Từ năm 1726 đến 1782, thời Lê Quý Đôn sinh sống là giai đoạn cai trị của năm đời chúa Trịnh là chúa Trịnh Giang (tại vị từ năm 1729 đến năm 1740), chúa Trịnh Doanh (tại vị từ năm 1740 đến năm 1767), chúa Trịnh Sâm (tại vị từ năm 1767 đến năm 1782), chúa Trịnh Cán (tại vị năm 1782) và chúa Trịnh Tông (tại vị từ năm 1782 đến năm 1786). Chúa Trịnh Giang ăn chơi sa đọa, độc đoán khiến triều đình khủng hoảng. Chúa Trịnh Doanh và Trịnh Sâm sau đó nỗ lực cải tổ nhưng không ngăn được sự suy thoái. Năm 1782, chúa Trịnh Sâm mất, nạn kiêu binh (quân tam phủ) nổi dậy làm loạn kinh thành Thăng Long, khiến Đàng Ngoài suy kiệt hoàn toàn. Vua Lê từ lâu chỉ còn danh nghĩa, quyền lực thực tế nằm trong tay các chúa Trịnh. Ở Đàng Ngoài, hàng loạt cuộc khởi nghĩa lớn nổ ra ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ như khởi nghĩa Nguyễn Cừ, Hoàng Công Chất, Lê Hữu Kiều, Nguyễn Danh Phương. Ở Đàng Trong, khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ từ năm 1771. Quân Trịnh ở Đàng Ngoài nhân cơ hội Đàng Trong rối ren đã đem quân đánh chiếm Thuận Hóa - Quảng Nam (năm 1774 - 1776). Quân Tây Sơn xóa bỏ chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào năm 1777.
Hai năm sau khi Lê Quý Đôn mất, vào năm 1786 quân Tây Sơn vượt sông Gianh ra Bắc lật đổ chúa Trịnh.
Sự nghiệp quan trường
Từ nhỏ, Lê Quý Đôn nổi tiếng là thần đồng. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú nêu rõ: “Năm 12 tuổi, ông học khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử, không sách nào là không thông suốt”1. Năm 13 tuổi, ông theo cha lên kinh đô học thầy là Tiến sĩ Lê Hữu Kiều.
Năm 17 tuổi (1743), trong kỳ thi Hương, Lê Quý Đôn đỗ đầu. Năm 26 tuổi (1752), trong kỳ thi Hội, ông đỗ đầu. Cũng năm 1752, trong kỳ thi Đình, ông đỗ Bảng nhãn (khoa thi này không có Trạng nguyên). Thành ra, từ thi Hương, thi Hội, thi Đình, ông đều đỗ đầu (tam nguyên). Sau đó, Lê Quý Đôn ra làm quan và giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình. Quan lộ của ông trải nhiều chức vụ từ địa phương tới Trung ương.
Sau khi đỗ Tam nguyên Bảng nhãn, Lê Quý Đôn bắt đầu sự nghiệp quan trường tại Viện Hàn lâm với chức vụ Hàn lâm viện Thị thư vào năm 1752. Ít lâu sau, ông được bổ nhiệm chức Hàn lâm Thừa chỉ sung Toản tu Quốc sử quán. Năm 1756, ông được cử giữ chức Liêm phóng sứ ở Sơn Nam. Sau khi đi liêm phóng về, Lê Quý Đôn được biệt phái sang phủ Chúa giữ chức Chưởng phiên binh và cử đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa. Sau đó, ông thăng chức Thị giảng viện Hàn lâm, phụ trách hỗ trợ các học sĩ trong việc biên soạn sách vở và các văn kiện quan trọng.
Năm 1759, dưới triều vua Lê Hiển Tông, Lê Quý Đôn được cử đi sứ nhà Thanh để báo tang khi Thái Thượng hoàng Lê Ý Tông qua đời. Khi sứ đoàn của ta đi qua các châu, phủ ở Trung Quốc đều bị gọi là “Di quan di mục” (tức “quan lại mọi rợ”). Bất bình, Lê Quý Đôn đã viết thư cho Tổng đốc Quảng Châu để phản đối. Với lời văn chặt chẽ, đanh thép của ông, triều đình Mãn Thanh buộc phải ra lệnh bỏ danh từ khinh miệt này và gọi sứ đoàn nước ta là An Nam cống sứ.
Trong thời gian đi sứ nhà Thanh, Lê Quý Đôn hoàn thành nhiệm vụ bang giao đồng thời thúc đẩy sự giao lưu học thuật, tiếp thu những tri thức khoa học và thiên văn tiến bộ từ nhà Thanh. Ông đã có các cuộc gặp gỡ và trao đổi tri thức với những học giả Triều Tiên, qua đó thể hiện tinh thần học hỏi và giao lưu quốc tế sâu sắc. Khi về nước, ông được bổ nhiệm chức Học sĩ của Bí thư các. Năm 1764, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Đốc đồng trấn Kinh Bắc và chưa đầy một năm sau, ông chuyển sang làm Tham chính xứ Hải Dương. Sau đó lần lượt được bổ nhiệm những chức vụ cao hơn như: Hữu thị lang Bộ Công (1769), quyền Đô ngự sử (1770).
Khi được sai đi khám duyệt hộ khẩu ở Thanh Hóa (1770) trở về, Lê Quý Đôn tâu xin tha bớt các thuế thổ sản, thủy sản và thuế thân còn thiếu, được chúa Trịnh thi hành. Ông tâu trình 4 việc được chúa Trịnh rất khen ngợi (sửa đổi đường lối bổ quan, sửa đổi chức vụ của các quan, sửa đổi thuế khóa của nhà nước, sửa đổi phong tục của dân).
Vào năm đại hạn (1773), Lê Quý Đôn tâu trình 5 việc, đại ý trong đó có việc “lấy đức mà khoan sức dân”, được chúa Trịnh “nghe theo, cho làm Bồi tụng giữ việc dân chính”. Năm 1775, Lê Quý Đôn được thăng chức Tả thị lang Bộ Hộ rồi được cử vào Thuận Hóa giữ chức Hiệp trấn Tham tán quân cơ. Ở miền đất mới này, ông vừa lo sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, thiết định luật lệ, vừa lo sản xuất, phát triển kinh tế và giáo dục ở địa phương. Năm 1778, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Hành tham tụng. Ít lâu sau, ông sung chức Quốc sử quán Tổng tài rồi được cải bổ giữ chức Hiệp trấn xứ Nghệ An (1783). Sau đó, ông về triều để thăng chức Công bộ Thượng thư.
Nhà bác học lớn thời phong kiến
Lê Quý Đôn là một nhà bác học có kiến thức uyên bác. Ông đã viết 40 công trình nghiên cứu có giá trị trong các lĩnh vực lịch sử, địa lý, thơ, văn, ngôn ngữ, triết học, kinh tế, xã hội, nông học, tổng loại… Tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ sự nghiệp trước tác của ông là sự khẳng định và đề cao đất nước, con người Việt Nam, đề cao nền văn hóa, văn hiến của dân tộc.
Về sử học, Lê Quý Đôn có hai tác phẩm lớn: Đại Việt thông sử và Phủ biên tạp lục. Ngoài ra, ông cũng có các tác phẩm có giá trị sử học là Bắc sử thông lục và Kiến văn tiểu lục.
Ở Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn ghi chép một số những câu triết ngôn và hành vi của một số nhân vật lịch sử Trung Quốc và Việt Nam nhằm khuyên răn, giáo dục người đương thời; ghi chép các lễ văn, chế độ của các triều đại Lý, Trần, Lê; ghi chép tên những nhân vật đã làm những bài bia, bài minh ở các chùa, quán, các triều Lý, Trần và giới thiệu, phê bình một số thơ văn; ghi chép về tài ba, phẩm hạnh, tiết tháo, văn học... của một số nhân vật lịch sử; ghi chép về núi sông, thành quách, sản vật, thuế khóa, đường sá... các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang; ghi chép về các nhà sư Việt Nam từ thời Bắc thuộc cho đến thời Hậu Lê; ghi chép về các đền miếu thờ các thiên thần, nhân thần và hai mươi sáu chuyện nhỏ; đính chính một số câu đối, câu văn của người Trung Quốc và chép mười bốn mẩu chuyện về các nhân vật triều Trần, triều Lê...
Bắc sử thông lục (ghi chép đầy đủ về việc đi sứ phương Bắc) là tác phẩm Lê Quý Đôn biên soạn sau chuyến đi sứ sang triều đình nhà Thanh (Trung Quốc). Ông viết tác phẩm này bằng văn xuôi chữ Nôm đầu tiên. Sau đó 28 năm, vua Quang Trung mới thảo chiếu bằng văn Nôm.
Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn là một công trình sử học lớn, được viết theo thể kỷ truyện. Đây là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử sử học Việt Nam viết theo thể này. Thể kỷ truyện là thể loại lấy tiểu sử và cuộc đời nhân vật làm trục chính để phản ánh sự kiện lịch sử theo dòng thời gian.
Tác phẩm Đại Việt thông sử ra đời vào năm 1749, khi Lê Quý Đôn mới 23 tuổi. Ông đã hệ thống hóa lịch sử dân tộc từ buổi đầu vua Lê dựng nước đến cuối thời Lê sơ. Ông đã đặt con người vào trung tâm, phác họa nên những bức chân dung nhân vật lịch sử toàn diện, có nguồn gốc xuất xứ, mặt mạnh mặt yếu; hai khía cạnh vai trò lịch sử lẫn cuộc sống đời thường đều được ông lưu tâm.
Lê Quý Đôn đã dựa vào sách Đại Việt sử ký toàn thư để viết Đại Việt thông sử nhưng có bổ sung nhiều tài liệu mà các bộ sử khác không có. Ông cho biết mình đã “tìm cả các sách tạp, các bản sót, các liệt truyện, các dã sử, văn khắc vào bia vào đỉnh, gia phả của các thế gia, cùng là bản sao chép của các học giả Bắc triều”. Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn đã đặt nền tảng cho lối viết sử có tính học thuật cao của Việt Nam thời trung đại. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú (1782 - 1840) nhận định: “Sách này của Lê công, kỹ lưỡng đầy đủ, đáng làm toàn sử cho một đời”.
Phủ biên tạp lục được viết trong thời gian Lê Quý Đôn làm quan Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hóa (1776), dựa trên các tài liệu lưu trữ của chính quyền chúa Nguyễn và sự nghiên cứu thực địa của Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục có nghĩa là “ghi chép việc vỗ yên dân ở vùng biên cảnh”. Tác phẩm này là tập hợp ghi chép, khảo sát và hệ thống hóa nhiều thông tin quan trọng về kinh tế, xã hội của xứ Đàng Trong, từ cuối thế kỷ XVI cho đến thời kỳ Lê Quý Đôn tại nhiệm. Lê Quý Đôn đã phản ánh những khó khăn và thách thức mà người dân ở các vùng đất mới phải đối mặt, đồng thời đưa ra những nhận định và đề xuất nhằm cải thiện đời sống của họ. Đặc biệt, đây là tài liệu quý ghi chép về địa lý, các hoạt động khai phá, chiếm lĩnh và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết: “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào, các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà…”2.
Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn mô tả đặc điểm và hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải thực thi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rằng: “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiến, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về…”3.
Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn là bộ sách được coi như một bách khoa thư các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội.
Tác phẩm Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn là bộ sưu tập thơ văn từ các triều đại trước, là nguồn tư liệu quý cho nghiên cứu văn học và giúp làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. Toàn Việt thi lục ghi chép chọn lọc khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời Lý - Trần đến đời Lê. Bên cạnh đó, tác phẩm Quần thư khảo biện của Lê Quý Đôn được viết dưới dạng các bài luận. Ông đã tóm tắt nội dung và đưa ra những bình luận sâu sắc về ý nghĩa, giá trị của các tác phẩm cổ điển.
Ở nước ta, Lê Quý Đôn là người đầu tiên có sách riêng bàn về Kinh thư của Khổng Tử. Trong Kinh thư diễn nghĩa, ông giữ nguyên thứ tự 58 thiên của Kinh thư, xen kẽ ông thêm vào 342 tiết (đoạn) bình giải. Ông diễn giải Kinh thư chỉ ra rằng vua phải làm gương cho các quan, làm gương cho dân. Vua bảo điều hay thì dân làm theo, vua có trách nhiệm chăm lo đời sống cho dân. Đối với quan lại thì vua tài giỏi sáng suốt phải đào tạo, sử dụng hết nhân tài không bỏ sót. Đây là một tác phẩm phản ánh rõ tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn; trong đó chứa đựng những phân tích sâu sắc về nguyên lý quản lý, thể hiện tham vọng cải tổ chính quyền và chấn hưng đất nước.
Về sự nghiệp sáng tác thơ văn, các tác phẩm trong Quế Đường thi tập, Quế Đường văn tập của Lê Quý Đôn luôn bộc lộ lòng tự hào, tự tôn dân tộc.
Các giai thoại
Một lần đang tắm ao cùng bạn, cậu bé Lê Quý Đôn gặp một vị quan đến thăm cha mình. Khi vị khách hỏi đường, cậu bé Lê Quý Đôn nhanh trí đố chữ khiến ông không khỏi bất ngờ. Vào đến nhà, nghe kể lại sự việc, người cha nghiêm khắc định phạt Lê Quý Đôn vì cho rằng quá nghịch ngợm. Thấy Lê Quý Đôn lanh lợi, vị khách bèn ra đề bài: “Rắn đầu biếng học” và phải làm thơ Nôm, thể thất ngôn bát cú, với ý tự răn mình chăm học. Chỉ trong chốc lát, Lê Quý Đôn liền ứng khẩu:
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học lẽ không tha.
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
Lằn lưng cam chịu vết roi tra.
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
Bài thơ khiến vị khách hết sức kinh ngạc. Bài thơ độc đáo khi Lê Quý Đôn đã dùng tên nhiều loại rắn trong các câu thơ, đáp ứng đúng yêu cầu đề bài, tuân thủ đúng niêm luật của thể thơ. Thêm nữa, việc lồng ghép vùng đất Trâu, Lỗ là quê hương của Khổng Tử và Mạnh Tử, ngụ ý rằng sẽ siêng học theo đúng đạo Khổng, Mạnh.
Không chỉ nổi tiếng với tài ứng đối, nhiều giai thoại còn kể về trí nhớ đặc biệt của Lê Quý Đôn. Tương truyền, khi còn nhỏ, Lê Quý Đôn từng xem qua cuốn sổ ghi nợ của một bà cụ bán nước. Ít lâu sau, quán nước bị hỏa hoạn, cuốn sổ cũng cháy theo. Trước sự lo lắng của bà cụ, cậu bé Lê Quý Đôn đã nhớ lại gần như đầy đủ tên những người còn nợ cùng các khoản ghi trong sổ để chép lại. Khi đối chiếu, các khoản ghi đều không sai lệch.
Trong chuyến đi sứ nhà Thanh, sau khi đọc một bộ sách quý trong thư trai của một học sĩ Trung Hoa, Lê Quý Đôn trở về nước và ghi chép lại gần như toàn bộ nội dung từ trí nhớ. Chủ nhân thư trai vô cùng kinh ngạc, ví ông như sao Văn Khúc (Biểu thị sự thông minh, ham học hỏi, thi cử đỗ đạt và có kiến thức uyên bác) của phương Nam.
Tương truyền, sau khi đã cáo quan về quê chuyên tâm đọc sách và biên soạn trước tác, khi đoàn sứ thần nhà Thanh sang Đại Việt và dùng một câu đố bằng chữ Hán để thử tài triều đình, nhà vua đã cho người mời Lê Quý Đôn vào kinh trợ giúp. Sau khi xem câu đố, Lê Quý Đôn nhanh chóng hiểu được ẩn ý và giúp triều đình giải đáp thấu đáo. Theo lời truyền tụng, vị sứ thần sau đó đã đứng dậy vái bốn vái để bày tỏ sự kính trọng đối với tài học của vị học giả nước Nam.
Đánh giá về Lê Quý Đôn
Đánh giá về tài năng của Lê Quý Đôn, quan tham tụng Bùi Huy Ích của nhà Lê - Trịnh, khẳng định: “Học vấn sâu rộng, văn chương lỗi lạc, thông minh nhất đời, trước tác không mệt. Nước Nam ta trong khoảng hai trăm năm nay mới có một người như thầy”4.
Năm 1759, trong thời gian đi sứ nhà Thanh, Lê Quý Đôn mang theo một số tác phẩm của mình cho nhiều nho thần Trung Quốc xem. Họ rất thán phục. Đề đốc học chính tỉnh Quảng Tây Chu Bội Liên, một học giả nổi tiếng đời Thanh đã nhận xét rằng: “Nước tôi có nhiều nhân tài, nhưng những người có tài như sứ quân đây chỉ được một vài người”5.
Lê Quý Đôn qua đời vào ngày 11/6/1784 tại quê mẹ ở làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Vua Lê cho bãi triều ba ngày để tỏ lòng thương tiếc một bậc hiền tài.
Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú nhận xét về Lê Quý Đôn rằng: “Ông có tư chất khác đời, thông minh hơn người mà (vẫn) giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách. Bình sinh (ông) làm sách rất nhiều. Bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng trên đời”6.
Trong bài viết “Con người và sự nghiệp của Lê Quý Đôn” (12/1976), Giáo sư Văn Tân đã nhấn mạnh tầm vóc của Lê Quý Đôn: “Lê Quý Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở thành người “tập đại thành” mọi tri thức của thời đại. Có thể nói, toàn bộ những tri thức cao nhất ở thế kỷ thứ XVIII đều được bao quát vào trong các tác phẩm của Lê Quý Đôn”7.
Giáo sư - Tiến sĩ Vũ Văn Quân (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận xét: “Lê Quý Đôn là một tấm gương sáng về lao động học thuật. Tư chất thông minh trời phú, các chức vụ, công việc, lĩnh vực, địa bàn mà ông đã trải qua là những điều kiện tốt để hoạt động trước tác của ông thuận lợi. Nhưng như thế là chưa đủ để Lê Quý Đôn có được sự nghiệp văn hóa, khoa học đồ sộ và có giá trị lâu bền nếu thiếu đi niềm đam mê, một tư duy hệ thống, tính thực chứng và phê phán, ý thức bảo tồn di sản lịch sử - văn hóa của dân tộc, thâu nhận với tinh thần bách khoa thư tri thức nhân loại, phẩm chất khiêm tốn, học hỏi và học tập không ngừng. Ông để lại cho hậu thế tinh thần hiếu học, độc lập tư duy và trách nhiệm của trí thức trước thời cuộc. Tư tưởng của ông vượt thời gian, trở thành nền tảng cho việc xây dựng xã hội học tập, tôn trọng tri thức và khuyến khích sáng tạo. Ngày nay, di sản của Lê Quý Đôn để lại vẫn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ, khẳng định rằng tri thức chân chính luôn là sức mạnh bền vững của dân tộc”8.
N.V.T
(TCSH451/09-2026)
---------------------------
1 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.465.
2 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch Viện Sử học; Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007, tr 154.
3 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr 155.
4 Nguyễn Thanh Điệp, “3 thầy giáo Việt khiến ngoại bang kính nể”, báo Nghệ An điện tử, xuất bản ngày 5/11/2018.
5 Nguyễn Thanh Điệp, “3 thầy giáo Việt khiến ngoại bang kính nể”, tlđd.
6 Phan Huy Chú, “Lịch triều hiến chương loại chí”, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.465.
7 Dẫn theo: Lê Hồng Khánh, “Lê Quý Đôn, danh nhân văn hóa thế giới: 200 năm mới có một người như thế”, báo Thanh Niên điện tử, xuất bản ngày 9/11/2025.
8 Vũ Văn Quân, “Lê Quý Đôn - nhà bác học uyên bác của Việt Nam”, báo Quân đội nhân dân điện tử, xuất bản ngày 8/2/2026.