HOÀNG LONG
Trong lịch sử, khi đứng trước một bước ngoặt lớn lao của thời đại, người ta bắt buộc phải lựa chọn một con đường. Con đường đó nhiều khi là độc đạo, hiu hắt ẩn dật để giữ một thứ bản sắc riêng; nhiều khi lại là một dòng chảy thời đại để thay đổi rũ bỏ con người cũ nhằm làm nên một cuộc cách mạng cho bản thân mình và cho cả đất nước.
Lịch sử luôn là thầy dạy của cuộc đời và những bài học xương máu còn nguyên đó để thức tỉnh và soi sáng chúng ta. Trong trường hợp Nhật Bản, đặc biệt giai đoạn chuyển mình canh tân đất nước thời Minh Trị, con đường hân hoan và cũng đầy khổ nạn của tầng lớp trí thức thật như một tấm gương soi chiếu để hậu thế biết ơn và thấu hiểu cái giá phải trả của sự phát triển, đặc biệt ở những ngã rẽ khúc quanh lịch sử, khi phải đứng trước ngã ba đường. Trong bài viết này, chúng tôi chú tâm tìm hiểu con đường văn học của hai tác gia hàng đầu thời Minh Trị là Natsume Soseki và Mori Ogai như một sự “ôn cố tri tân” hy vọng gợi mở cho chúng ta những suy ngẫm và lựa chọn cách sống của mình trong thời đại công nghệ AI đang thách thức nhân loại, đòi hỏi chúng ta phải đặt lại câu hỏi muôn thuở về văn chương và định mệnh con người.
1. Bối cảnh lịch sử thời Minh Trị
Có thể nói sự tỉnh thức khiến nhu cầu canh tân đất nước nung nấu bùng vỡ là vào cuối thời Mạc Phủ. Khi người Nhật nhìn thấy hạm đội hắc thuyền (kurobune 黒舟) của đô đốc Matthew C. Perry tiến vào cảng Uraga (Tokyo), cả người dân Nhật Bản và chính quyền Mạc Phủ hiểu rằng đã đến lúc cần phải thay đổi để bắt kịp Tây phương. Và một làn sóng đi tham quan, học hỏi và du học Âu Mỹ bắt đầu làm nền tảng cho thời Minh Trị lẫy lừng trong lịch sử.
Thời Minh Trị (明治時代) kéo dài từ năm 1868 đến năm 1912. Bắt đầu từ năm 1868, Nhật Hoàng Minh Trị tiến hành công cuộc cải cách duy tân khiến Nhật Bản phát triển rực rỡ về kinh tế, khoa học kỹ thuật, không những đuổi kịp các nước tư bản phương Tây về sau này mà còn cùng với các nước Mỹ, Đức Pháp, Ý âm mưu phân chia quyền lực thế giới khiến xảy ra hai cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) và chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945).
Tinh thần Minh Trị có thể tóm tắt ngắn gọn trong ba câu then chốt là “Phú quốc cường binh” (富国強兵), “Văn minh khai hóa” (文明開化) và “Hòa hồn Dương tài” (和魂洋才) nghĩa là “Binh giàu nước mạnh”, “Khai hóa văn minh” và “Tinh thần Nhật Bản với kỹ thuật Tây phương”. Nếu như “phú quốc cường binh” và “văn minh khai hóa” là lời kêu gọi nỗ lực học hỏi phương Tây thì “Hòa hồn Dương tài” lại là một lời nhắc nhở về bản sắc dân tộc. Đúng như Claude Lévi-Strauss đã hiểu ra khi đọc quyển sách “Nghiên cứu về lịch sử trí tuệ thời Tokugawa Nhật Bản” của Maruyama Masao rằng vào thời Minh Trị nếu như Nhật Bản muốn đứng bình đẳng với phương Tây không phải để đồng nhất mình với phương Tây mà để tìm cách tự vệ tốt hơn trước phương Tây mà thôi”1.
Khái niệm “Hòa hồn Dương tài” (和魂洋才) là biến thể của “Hòa hồn Hán tài” (和魂漢才) đã có từ trước. “Hòa hồn Hán tài” được tạo ra ở thế kỷ 9 nhằm hướng sự chú ý vào tinh thần độc đáo sáng tạo và truyền thống văn hóa Nhật Bản từ xưa. Cũng giống như vậy, khái niệm “Hòa hồn Dương tài” đã được mở rộng vào thời Minh Trị khi du nhập tri thức và kỹ thuật Tây phương vào Nhật Bản với quy mô lớn. Nó được thể hiện qua cách nói của Sakuma Shozan (佐久間象山) “tinh thần Đông phương và kỹ thuật Tây phương” (Touyou no seishin to seiyou no gijutsu 東洋の精神と西洋の技術). Từ “Hòa hồn Dương tài” biểu thị quá trình dung hợp kỹ thuật phương Tây với văn hóa truyền thống trong lịch sử văn minh Nhật Bản thời cận đại mà chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh tinh thần Nhật Bản. Và bản năng tự vệ trước sự quá đà trong việc tiếp thu văn minh Tây phương đã làm cho bao nhiêu học giả phải e ngại, tiêu biểu nhất chính là Natsume Soseki.
2. Trường hợp Mori Ogai và Natsume Soseki, hai ngã rẽ cùng thời đại
Từ khi dân trí được mở mang thêm thì văn hóa nghệ thuật cũng nhân đó mà cường thịnh. Các nhà văn thời này chịu ảnh hưởng chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa lãng mạn thuộc các nền văn học Anh, Pháp, Đức.
Người khởi xướng mở màn cho sự phát triển tiểu thuyết hiện đại Nhật Bản là Futabatei Shimei với tác phẩm “Phù vân” (浮雲 Ukigumo) và Tsubouchi Shoyo (Bình Nội Tiêu Dao 坪内逍遥) với tác phẩm “Tiểu thuyết thần tủy” (小説神髄). Nếu như tiểu thuyết “Phù vân” (được viết vào những năm 1887 - 1889) đóng vai trò khai phá nghệ thuật miêu tả tâm lý cho tiểu thuyết Nhật về sau này thì công trình nghiên cứu “Tiểu thuyết thần tủy” đã mở đường cho văn học Nhật Bản hiện đại. Cho đến khi đó, văn học chỉ được xem có vai trò khuyến thiện trừng ác hay giải trí đơn thuần và các nhà tri thức không mặn mà gì lắm với văn chương. Thế nhưng Tsubouchi Shoyo (坪内逍遥) trong quyển sách kinh điển “Tiểu thuyết thần tủy” (小説神髄) đã nhận định lợi ích lớn nhất của tiểu thuyết là nâng cao phẩm giá con người chứ không phải để phục vụ những đam mê trần tục. Theo tác giả, lợi ích của tiểu thuyết có thể chia ra làm hai loại là trực tiếp và gián tiếp. Lợi ích trực tiếp là nhằm thỏa mãn cảm xúc của độc giả như là một phương tiện giải trí cho con người. Ngoài ra tiểu thuyết còn là một cẩm nang của cuộc sống. Lợi ích gián tiếp của tiểu thuyết là nâng cao phẩm cách, khuyên răn đạo đức, bổ khuyết cho sử sách và làm phong phú mô hình văn chương. Tại sao nâng cao phẩm cách được đưa lên hàng đầu? Tác giả khẳng định lại quan niệm của mình về tiểu thuyết “không phải là thứ để phục vụ đam mê trần tục của con người. Nó khao khát giải trí cho con người bằng cách hướng đến những thị hiếu tinh tế hơn”. Tuy nhiên “thị hiếu cảm xúc trang nhã và tinh tế là thuộc tính cao quý nhất chỉ thấy ở những con người ưu đẳng về văn hóa”. Cho nên “phương diện nghệ thuật trang nhã này (tức tiểu thuyết) được dùng để tác động đến những cảm xúc mỹ học của một con người, khuấy động những xúc cảm tinh tế, dần dần xua đuổi nhục cảm và hút suy tư của anh ta ra khỏi thế giới thường nhật, đưa anh ta đến chỗ nhận thức được dạng thức tinh tế hơn của cái đẹp thì anh ta sẽ trưởng thành hơn và sớm thoát khỏi bể đắm mê”2. Đó cũng là giá trị đích thực của nghệ thuật nói chung. “Chính điều này khiến nghệ thuật trở nên rất quan trọng dù thiếu giá trị thực tiễn. Như vậy một người yêu thích nghệ thuật sẽ thường xuyên gia tăng sự tao nhã cho thị hiếu thẩm mỹ của mình và tính cách của anh ta sẽ không ngừng trở nên tinh tế”.
Dưới ảnh hưởng của tác phẩm “Thần tủy của tiểu thuyết”, văn học viết và dịch thời Minh Trị đã có sự chuyển biến và khởi sắc mạnh mẽ. Đương thời, trên văn đàn có bốn dòng văn học chính. Dòng văn học theo chủ nghĩa tự nhiên, dòng văn học duy mỹ, dòng văn học cao sang (dư dụ phái 余裕派) và dòng văn học quý tộc của nhóm Bạch hoa (Shirakaba 白樺). Không nói đến nhóm Bạch hoa vì nhóm này chủ trương những giải pháp mang tính không tưởng để dung hòa thực trạng xã hội với đặc quyền của giai cấp mình; nhóm duy mỹ và chủ nghĩa tự nhiên ảnh hưởng nhiều bởi văn học Pháp như Émile Zola và Baudelaire; chỉ riêng có nhóm cao sang là thuộc về bản xứ, cố gắng cảnh tỉnh sự du nhập và tiếp thu quá đà của văn minh Tây phương. Hai đại diện tiêu biểu nhất cho nhóm này không phải là ai khác mà chính là Natsume Soseki và Mori Ogai.
Natsume Soseki (夏目漱石 Hạ Mục Thấu Thạch) sinh năm 1867 tại Tokyo. Năm 1890, ông nhập học trường đại học Tokyo. Sau khi tốt nghiệp, ông giảng dạy Anh ngữ tại các trường ở Matsuyama và Kumamoto. Năm 1896, ông lập gia đình. Năm 1900, Soseki sang Anh Quốc du học và đến năm 1903 trở về nước, bắt đầu giảng dạy văn học Anh tại trường Đại học Tokyo. Năm 1905, Soseki viết và xuất bản quyển tiểu thuyết đầu tiên “Tôi là con mèo” (吾輩は猫である). Nội dung tác phẩm là những lời nhận xét hóm hỉnh của con mèo nhà giáo viên Kushami về những người khách đến chơi. Tác phẩm này ra đời khiến cho tên tuổi Natsume Soseki ngay lập tức trở nên nổi tiếng. Đến năm 1907 ông bỏ hẳn công việc giảng dạy để chuyên chú vào việc sáng tác văn chương. Ông đã viết rất nhiều tiểu thuyết như “Cỏ mọc ven đường” (道草), “Cậu ấm” (坊ちゃん), “Ánh sáng và bóng tối” (明暗), “Gối cỏ” (草枕), “Tam tứ lang” (三四郎), “Cánh cửa” (門), “Nỗi lòng” (心), “Từ đó về sau” (それから). Soseki mất năm 1916, năm bốn mươi chín tuổi. Đến năm 1984, chân dung của ông được xuất hiện trên tờ một ngàn yên.
Sanshiro (Tam Tứ Lang 三四郎) và “Từ đó về sau” (それから), “Cánh cổng” (Mon 門) là bộ ba tác phẩm thời kỳ đầu của văn hào Natsume Soseki (Hạ Mục Thấu Thạch 夏目漱石). Ngay từ những tác phẩm này đã cho thấy sự băn khoăn day dứt của tác giả về con đường hiện đại hóa mà Nhật Bản đang đi. Cốt truyện Sanshiro xoay quanh một chàng sinh viên nhà quê ở Kumamoto, Kyushu lên Tokyo học đại học. Ngay từ trên chuyến đi, Sanshiro đã cùng một cô gái xuống tàu trọ đêm ở Nagoya và bị chê là “nhát gái”, rồi sau đó tình cờ được gặp gỡ với giáo sư Hirota. Khi lên Tokyo cả một thế giới xa lạ quyến rũ và đầy phức tạp mở ra trước mắt Sanshiro khiến bao nhiêu tự tin của chàng sụp đổ tan tành. Chàng làm quen thêm được nhà nghiên cứu Nonomiya, cũng là một người bà con với mình, chuyên nghiên cứu về áp lực ánh sáng và cô em gái bệnh tật của Nonomiya là Yoshiko. Ngoài ra còn một người bạn học là Yojiro. Trên tất cả là nàng Mineko với vẻ đẹp ngất ngây hiện thân cho tất cả những gì thuộc về phồn hoa đô hội. Nàng vốn là bạn gái của Nonomiya. Sanshiro luôn có cảm giác bị nàng nhìn thấu suốt, không sao có thể đuổi bắt kịp bóng hình nàng. Dường như chàng luôn bị hụt hơi, không sao diễn tả tâm tình của mình cho Mineko hiểu. Cuối cùng Mineko đi lấy chồng. Chồng nàng là một người bạn của anh trai nàng, vốn đã từng hỏi cưới Yoshiko.
Tác phẩm khắc họa sự trưởng thành của tầng lớp thanh niên cuối thời Minh Trị, với những dằn vặt chọn lựa giữa truyền thống và hiện đại, giữa chiều sâu của nghệ thuật với xô bồ hỗn độn của văn minh kỹ thuật, giữa lý tưởng và hiện thực cuộc đời. Như Natsume đã phác họa một ngã ba đường rẽ đến ba thế giới mà Sanshiro phải chọn lựa.
Đầu tiên là thế giới hương xa của quá khứ với người mẹ nơi quê nhà và cô nàng Omitsu quê mùa vốn được hứa gả cho Sanshiro. Cõi này thật bình yên lặng lẽ, là chốn dung thân cuối cùng cho Sanshiro. Thật ra đó là quá khứ mà chàng muốn chối bỏ.
Thế giới thứ hai là thế giới yên bình của học thuật với sách vở, nghiên cứu, thư viện của giáo sư Hirota và Nonomiya. Nơi này không biết gì về thế giới hiện thực nhưng có thể trốn thoát hỏa ngục trần gian. Họ ung dung tự tại hưởng thụ tri thức và sống trong nghèo đói. Sanshiro đang bước vào ngưỡng cửa thế giới thứ hai này.
Thế giới thứ ba là một mùa xuân tràn sức sống với tiếng cười đùa, rượu sâm panh. Trên tất cả đó là thế giới của sự tôn vinh cái đẹp. Đối với Sanshiro thế giới này sâu sắc nhất, đang hiện diện ngay trước mắt nhưng vô cùng khó tiếp cận. Điểm khó tiếp cận đó lại như ánh sét nơi trời cao tít tắp. Chàng cảm thấy mình có thể trở thành chủ nhân để lấp đầy khoảng trống và phát triển viên mãn. Nhưng thế giới đó lại chặn mọi ngả đường mà đáng lẽ Sanshiro được tự do thâm nhập. Không cần phải nói thêm thì hình bóng của Mineko lấp đầy thế giới tươi đẹp này.
Sau khi so sánh ba thế giới, Sanshiro rút ra kết luận là phải đưa mẹ lên thành phố, kết hôn với một cô gái xinh đẹp và cống hiến hết mình cho sự nghiệp học hành.
Thế nhưng liên tục những sự kiện phức tạp của Tokyo đã làm Sanshiro hướng dần về phía người mẹ nơi quê nhà và hiểu được rằng thế giới thứ ba với hình bóng Mineko vĩnh viễn không bao giờ bước vào được.
Có thể nói Sanshiro tượng trưng cho Nhật Bản đang trong quá trình hiện đại hóa, nỗ lực chạy theo văn minh kỹ thuật phương Tây nhưng luôn cảm thấy cách xa tầm tay với. Nonomiya, giáo sư Hirota và Yojiro tượng trưng cho những người đứng bên lề dòng chảy, khiếp sợ trước hiện thực và tìm quên trong sách vở, sống trong tháp ngà của riêng mình, tự nhận chịu nỗi cô đơn thần thánh. Yojiro đã dùng từ “bóng tối vĩ đại” để xưng tụng giáo sư Hirota nhưng cũng nói lên phần nào u uẩn của lớp người này.
Mineko là tượng trưng cho văn minh kỹ thuật Tây phương và phần nào là sự nhiễm độc của nỗi rực rỡ hời hợt xô bồ, xa khuất cội nguồn văn hóa truyền thống Nhật Bản.
Chi tiết kết thúc truyện Mineko đi lấy chồng thật tinh tế. Nó vừa phản ánh đúng được tâm lý người phụ nữ hiện đại vươn cao vừa nói lên được phần nào niềm cay đắng của tác giả khi cho rằng Nhật Bản sẽ không bao giờ đuổi kịp Tây phương. Nói như giáo sư Hirota thì cho dù có chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nhật Nga, cho dù có trở thành một cường quốc đệ nhất thì “chúng ta vẫn chẳng làm nên được điều gì khác biệt”, cũng vẫn chỉ những bộ mặt ấy, một thể trạng yếu ớt như thế này. Chỉ có núi Phú Sĩ là đáng tôn thờ nhưng nó lại là tạo phẩm của thiên nhiên, không phải do con người hiện đại tạo nên. Cái nhìn chứa đầy bi quan sâu sắc này đã theo suốt Natsume Sokeki cho nên những tác phẩm về sau lúc nào cũng mang một nỗi niềm u uất. Đối lập hoàn toàn với Mori Ogai vốn hân hoan chấp nhận cái mới và sẵn sàng đi theo dòng chảy thời đại, Soseki có vẻ đứng nhìn từ xa với một sự lặng lẽ giữa chấp nhận và chối từ.
Bản thân Sanshiro và chính Soseki cũng thừa nhận mình là kẻ theo chủ nghĩa nhàn hạ. Nguyên văn của Natsume Soseki dùng từ “đê hồi” (teikai 低回) hay “teikai shumi” (低回趣味) mà theo Quảng Từ Uyển giải thích là “sở thích chìm đắm vào cảnh giới thi ca cái đẹp Đông Phương với tinh thần cao sang, tránh xa những khổ cực đời thường” (世俗的な苦労を避けて、余裕ある気分で東洋的な詩美の境に遊ぼうとする趣味). Chính vì vậy đường lối văn chương của Natsume Soseki được gọi là “phái đê hồi” (低回派) hay “phái cao sang” (dư dụ phái 余裕派).
Tác phẩm này là nguồn cảm hứng để cho nhiều nhà văn thế hệ sau học tập. Ngay cả “Rừng Na Uy” của Murakami Haruki cũng có thể xem là nối dài của “Sanshiro” với cuộc sống và những trăn trở thời sinh viên mà Soseki đã khắc họa. Sự trung thực với chính mình khi sáng tác đã tạo nên tầm vóc của Soseki với những tác phẩm chân thực, không chỉ vẽ lên nhiều nỗi băn khoăn của thanh niên trước ngưỡng cửa đời như “Sanshiro” (三四郎) hay “Cậu ấm ngây thơ” (坊ちゃん) mà còn phản ánh được những bi kịch dằn vặt của nghệ sĩ hay con người thường tình chúng ta trong hiện thực cuộc đời khắc nghiệt như trong “Gối cỏ” (Kusamakura 草枕), hay “Nỗi lòng” (Kokoro 心)…
Trái ngược hoàn toàn với Natsume Soseki, Mori Ogai là người hân hoan chọn lựa con đường tiếp thu văn minh Âu hóa (ít nhất trong những thời kỳ đầu). Cũng như Soseki, Mori Ogai (1862 - 1922) đi du học Đức, tiếp thu văn minh Tây phương và tích cực truyền bá những tư tưởng thời đại. Chính Mori Ogai là người khởi xướng tạp chí văn học “Phên dậu” (しらがみ草紙) và dịch tác phẩm “Faust” lừng danh của Goethe ra Nhật ngữ.
Tuy là một nhà văn và dịch giả nổi tiếng nhưng Mori Ogai đã từ bỏ nghiệp văn chương để làm một bác sĩ phục vụ trong quân ngũ. Ông chỉ trở lại viết văn sau khi đã nghỉ hưu. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Nhạn” (雁) (Ngỗng trời), một câu chuyện tình nhẹ nhàng mà cay đắng của một tình yêu không thành. Nhưng ngay trong tác phẩm này, chúng ta thấy nhân vật chính Okada đã bỏ nàng Otama ở lại phía sau trên đường đi du học Đức, một điều ám chỉ rằng cần phải để quá khứ phía sau và đi tới học hỏi văn minh phương Tây.
3. Quan điểm khác biệt về cái đẹp qua đôi mắt nghệ thuật của Unkei3 và Rodin4
Cả Mori Ogai và Natsume Soseki đều là tác gia hàng đầu thời Minh Trị, có nhiều điểm tương đồng nhưng khác nhau trong thái độ sống và sự lựa chọn. Điều đó thể hiện rõ qua các tác phẩm và phản chiếu vào cả cuộc sống riêng tư. Trong khi Mori Ogai đi du học ở Đức, hòa nhập với văn minh Tây Âu một cách hài hòa, về nước làm đến Tổng trưởng tổng cục quân y lục quân, đặt tên các con mình theo tiếng Đức thì Natsume Soseki tuy đi du học Anh và là học giả lỗi lạc về văn chương Anh ngữ lại luôn cảm thấy lạc lõng ở Tây phương và khi về nước chỉ chuyên tâm viết văn. Đối với Natsume Soseki những cú shock văn hóa như người Anh không biết thưởng thức vẻ đẹp của tuyết đọng trên mái nhà hay rêu phong trên cây cổ thụ đều gây cho ông một nỗi bàng hoàng. Ngay cả trong cách dùng từ và phiên dịch cũng thế. Giai thoại nổi tiếng nhất về Natsume Soseki là yêu cầu sinh viên dịch câu “Anh yêu em” (I love you) sang tiếng Nhật trong một giờ Anh ngữ. Vào thời Minh Trị trai gái yêu nhau không nói với nhau như vậy. Khi dịch câu này thường dịch giả phải dịch thành “anh rất coi trọng em” (大切に思います). Riêng Natsume Soseki dịch thành “trăng đêm nay đẹp quá” (月が綺麗ですね). Chữ “trăng” “tsuki” (つき) trong tiếng Nhật đọc nhanh rất gần với “suki” (すき) nghĩa là “yêu mến” khiến cho người nói có thể giãi bày nỗi lòng mình một cách thầm kín, tinh tế mà vẫn mang cốt cách thanh nhã rất Đông phương. Câu này đã trở thành một dật thoại kinh điển thời Minh Trị. Điều này cho thấy rằng sâu thẳm trong Soseki, ông vẫn là một con người phương Đông thuần túy.
Tiêu biểu nhất cho những dằn vặt và suy tư của Natsume Soseki về nghệ thuật và cuộc đời là đoản thiên “Mười đêm mộng” (夢十夜). Trong mười giấc mơ rời rạc, Soseki nhìn lại di sản quá khứ truyền thống của mình từ giấc mộng đầu tiên chôn người con gái đẹp và ngồi chờ nàng một trăm năm, đến một samurai phải tự sát vì không thể giác ngộ, người cha chìm xuống sông đen mất tích, người tù binh không thể gặp được người yêu lần cuối cùng trước khi bị chém đầu. Trong giấc mơ thứ ba, nhân vật tôi thấy mình cõng một đứa trẻ lên sáu, vốn là con mình. Đứa trẻ bị mù nhưng vẫn chỉ đường tường tận. Tôi muốn quẳng đứa bé đi cho khuất mắt. Nhưng đứa trẻ càng lúc càng nặng dần và nói rằng chính “tôi” đã giết nó một trăm năm về trước. “Con đường trở nên tối dần. Vạn vật như chìm trong mộng mị, tôi đi như thể mộng du. Đứa trẻ dính chặt trên lưng tôi, soi tỏ quá khứ, hiện tại và tương lai như một tấm gương ẩn chứa mọi điều bí mật. Đó lại là đứa con tôi. Nó lại bị mù nữa. Thật không sao chịu đựng nổi” (路はだんだん暗くなる。ほとんど夢中である。ただ背中に小さい小僧がくっついていて、その小僧が自分の過去、現在、未来をことごとく照して、寸分の事実も洩らさない鏡のように光っている。しかもそれが自分の子である。そうして盲目である。自分はたまらなくなった)5. Đứa con chính là di sản quá khứ, là gánh nặng mà những tri thức thời Minh Trị phải mang trên vai dù muốn dù không để mà đi tới trên con đường lịch sử. Văn hóa Nhật Bản có thể là gánh nặng nhưng cũng chính là tài sản kế thừa mà những người như Natsume Soseki cố gắng xoay xở để sống còn trong thời đại mới.
Trong giấc mộng đêm thứ sáu, tôi đến xem Unkei khắc hình hộ pháp ở Hộ Quốc Tự (Gokokuji). Tôi về làm theo nhưng “tôi giác ngộ ra rằng cái cây thời Minh Trị không thể chôn ông Hộ pháp bên trong được. Đó là lý do mà Unkei còn sống đến ngày nay” (ついに明治の木にはとうてい仁王は埋まっていないものだと悟った。それで運慶が今日まで生きている理由もほぼ解った).
Có nghĩa chỉ có riêng dân tộc Nhật Bản mới có thể sáng tạo và sản sinh ra những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc của riêng Nhật Bản. Những con người tri thức nửa vời không còn tinh thần Nhật Bản thuần túy thì không thể tạo ra kiệt tác. Di sản của văn hóa truyền thống là còn mãi mãi. Quả là một cái nhìn thâm trầm nhưng cũng đầy chua chát của Natsume Soseki.
Đối với Mori Ogai, sự hòa hợp giữa văn hóa Nhật Bản và Tây phương là điều hoàn toàn có thể xảy ra được. Trong tác phẩm đầu tay “Nàng vũ công” (Maihime) đã viết lên mối giao tình của mình với văn hóa Đức qua việc khắc họa mối tình một chàng sinh viên Nhật với cô vũ công Elise. Khi chàng trai Ota Toyotaro về nước bị cuốn vào những lề thói quê hương cũ, chàng nhớ tiếc khôn nguôi đời sống tự do nước ngoài. Trùng hợp ngẫu nhiên với Soseki trong giấc mộng thứ sáu về nhà điêu khắc Unkei, tác phẩm “Hanako” của Mori Ogai lại viết về nhà điêu khắc lừng danh Rodin vẫn nhìn ra vẻ đẹp của nàng vũ công Nhật Bản Hanako, một nét đẹp Đông phương thuần túy mà ngay cả đồng hương của nàng còn không nhận ra như một sự đối lập với quan điểm của Soseki về cái đẹp. Mori Ogai đã để cho Rodin nói một câu như thể hiện chính quan điểm của mình: “Thân thể con người nếu chỉ nhìn hình dáng thì chẳng có gì thú vị cả đâu. Thân thể là tấm gương phản chiếu linh hồn. Phải nhìn được ánh lửa bên trong toát ra từ hình hài thì mới thú vị chứ” (人の体も形が形として面白いのではありません。霊の鏡です。形の上に透き徹つて見える内の焔が面白いのです)6.
Quan niệm này cũng rất gần với cách nhìn của nhà thơ lỗi lạc Rumi “hình dáng bóng đèn có thể khác nhau nhưng ánh sáng là một” (The lamps are different, but the Light is the same). Cho dù con người đến từ quốc gia đầy vẻ hương trời xa xứ lạ như Nhật Bản thì cái đẹp vẫn toát ra mà cặp mắt bậc thầy tinh tường của Rodin lập tức nhận thấy và phác họa. Cũng như Mori Ogai đã nhận ra rằng mình vẫn có thể tiếp thu kiến thức khoa học và văn hóa Âu Tây để làm phong phú thêm vẻ đẹp tâm hồn mình, làm Nhật Bản văn minh hơn và văn hóa trở nên đặc sắc hơn nữa.
Nhưng có thật sự là cuộc hôn phối giữa Nhật Bản và Đức Quốc có thể tựu thành hay không khi đứa con của Toyotaro và Elisa sinh ra không biết ngày mai, còn người mẹ Elisa thì điên loạn, người cha Toyotaro lạc lõng giữa đời? Còn Natsume Soseki, ông cho rằng gánh nặng truyền thống của dân tộc Nhật khiến cuộc tương giao Đông Tây gần như không thể tựu thành. Trong tác phẩm “Mười đêm mộng” chúng ta có thể thấy nhà điêu khắc Unkei thời Kamakura vẫn còn sống đến thời Minh Trị vì không ai có thể đục được bức tượng Hộ pháp tuyệt đẹp như thế hay gánh nặng của quá khứ chính là đứa con đã trở thành tảng đá ngàn cân đè nặng trên vai tôi. Đối với Soseki, cho dù tiếp nhận văn minh là điều bắt buộc đi nữa thì con người không thể và không nên rũ bỏ căn cước thân phận và truyền thống văn hóa của chính mình.
Càng về cuối đời, những tác phẩm nổi tiếng nhất của Natsume Soseki càng tìm về những vẻ đẹp Đông phương truyền thống, những nhân vật của ông lúc nào cũng nặng nề u uẩn với một tâm sự giấu kín riêng mang. Sự u uẩn của vị tiên sinh trong tác phẩm “Nỗi lòng” (Kokoro 心) chỉ phơi bày khi ông chấp nhận kết thúc cuộc đời tự sát để cùng với cái chết của Thiên Hoàng Minh Trị chấm dứt một thời đại huy hoàng đã trôi qua. Còn Mori Ogai sau khi chứng kiến nhiều cảnh trái ngang của chốn quan trường, văn chương của ông cũng không còn mang nhiều tinh thần khai sáng như giai đoạn đầu tiên nữa mà dần dần trở nên bàng quan (傍観), vui chơi (遊び) và cam phận (あきらめ). Có lẽ vì thế mà cuối đời Mori Ogai chuyển sang viết tiểu thuyết lịch sử. Khi đã đủ một khoảng thời gian để nhìn lại, cả Soseki và Mori Ogai đều nhận thấy phải cần thêm nhiều thời gian nữa cho cuộc tương hợp Đông Tây trên bình diện văn hóa và tư tưởng chứ không chỉ thuần túy về văn minh và kỹ thuật. Trong tác phẩm “Đang trùng tu” (普請中) được Mori Ogai viết năm 48 tuổi có câu nói lừng danh khi viên ngoại giao Watanabe gặp lại người yêu cũ, một cô gái ngoại quốc trên sự hoang tàn của Tokyo sau khi kết thúc chiến tranh Nhật Nga “Đây là xứ Nhật Bản mà” (ここは日本だ). Câu nói thể hiện đúng tinh thần Nhật Bản cố gắng vươn lên thành cường quốc trước sự đổ nát của nhiều giá trị vật chất và tinh thần truyền thống. Hay như trong tiểu thuyết lịch sử Shibue Chusai (渋江 抽斎), Mori Ogai đã cảnh báo về cuộc duy tân hấp tấp có thể làm tổn thất những giá trị truyền thống cao đẹp của Nhật Bản không sao bù đắp được. Có lẽ sự dằn vặt và nỗ lực kiếm tìm cái đẹp và ý nghĩa sống không chỉ cho bản thân và còn vì sự thao thức cho vận mệnh Nhật Bản đã khiến cho tầm vóc của cả Soseki và Mori Ogai vươn cao và xuyên qua lòng thời đại.
Không chỉ nỗ lực sáng tác và dịch thuật, ngay từ lúc sinh thời Natsume Soseki và Mori Ogai đều chú tâm dìu dắt thế hệ trẻ. Chính Natsume đã nhận ra tài năng và khuyến khích văn tài của Akutagawa Ryunosuke, bậc thầy truyện ngắn thời Taisho (Đại Chính) như một sự tiếp nối của con đường hiện đại hóa văn chương của mình.
4. Giá trị và bài học lịch sử
Nghiên cứu trường hợp của Natsume Soseki và Mori Ogai trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động như thời Minh Trị, chúng ta nhận ra việc chấp nhận cái mới không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió mà đi cùng với sự thay đổi là bao nhiêu băn khoăn và day dứt giữa chấp nhận và chối từ. Không phải thấy điều gì mới lạ, hay đẹp là chạy theo bất chấp tất cả. Chúng ta cần phải có con mắt phán xét từ quan điểm lập trường nhân sinh của mình và nền văn hóa của dân tộc. Phải biết tôn trọng chính mình trước khi đòi hỏi người khác tôn trọng. Tuy đi theo những ngã rẽ khác nhau nhưng giá trị văn học của văn hào Mori Ogai và Natsume Soseki để lại đã trở thành di sản lớn lao của văn học Nhật Bản cận và hiện đại.
Sau hơn một trăm năm thế giới trải qua một thời đại toàn cầu hóa (globalization) vũ bão và các nhà nghiên cứu bắt đầu lo sợ một thế giới phẳng quá mức cào bằng hết những đặc sắc riêng của từng nền văn hóa. Người ta bắt đầu kêu gọi trở về với địa phương hóa (localization) và địa phương hóa toàn cầu (glocalization) để làm sao có một sản phẩm, dịch vụ có thể đáp ứng cả tiêu chuẩn toàn cầu và tiêu chuẩn của một địa phương cụ thể. Quả nhiên hoa tulip thì rất đẹp nhưng nếu thế giới này chỉ toàn hoa tulip thì thật tẻ nhạt biết bao nhiêu. Thế giới luôn cần cả những loài hoa khác biệt, kể cả một bông hoa dại tím ngát đung đưa trong nắng chiều. Và lúc này biết đâu chúng ta lại cảm phục trực giác thiên tài của Natsume Soseki và Mori Ogai về vấn đề địa phương hóa và địa phương hóa toàn cầu. Nhật Bản có thể cống hiến nhiều nhất cho nhân loại khi chính mình riêng biệt độc đáo nhất. Nền văn hóa đặc trưng của xứ đảo quốc vẫn không ngừng gây kinh ngạc cho con người thế giới hiện đại để chúng ta phải luôn tán dương rằng thế giới này sở dĩ đẹp đẽ vì có đủ sắc màu đa dạng, trong đó có những sắc màu riêng biệt độc đáo của xứ sở Phù Tang mà dưới đây là một hình ảnh tiêu biểu: quán cà phê Starbucks ở Kyoto với rèm che cửa truyền thống Noren và kiến trúc Nhật Bản. Khách uống cà phê trên chiếu tatami trong không gian đậm đặc văn hóa Nhật Bản như một trà thất. Một sự kết hợp hài hòa cả Đông phương và Tây phương, cả truyền thống và hiện đại chỉ riêng ở xứ Phù Tang. Đây phải chăng là một tấm gương điển hình mà chúng ta có thể thán phục và học hỏi “nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc” trong việc hòa nhập mà không hòa tan bản sắc riêng biệt của chính mình?
Và chính người Nhật cũng không bao giờ quên cống hiến của những con người thời đại Minh Trị. Một minh chứng tiêu biểu cho điều đó là vào ngày 29 tháng 6 năm 2000, nhật báo Asahi Shimbun7 công bố kết quả điều tra về những nhà văn Nhật Bản có ảnh hưởng nhất đến công chúng từ thế kỷ mười đến thế kỷ hai mươi. Trên cơ sở điều tra hai mươi ngàn năm trăm chín mươi sáu người, người ta đã chọn được năm mươi nhà văn tiêu biểu, đứng đầu là Natsume Soseki. Tác giả Murakami Haruki đứng thứ mười hai. Văn hào Mori Ogai đứng thứ mười sáu.
Dưới đây là danh sách mười hai nhà văn được yêu thích theo thứ tự:
1. Natsume Soseki 夏目漱石
2. Murasaki Shikibu 紫式部
3. Shiba Ryotaro 司馬遼太郎
4. Miyazawa Kenji 宮沢賢治
5. Akutagawa Ryunosuke 芥川龍之介
6. Matsuo Basho 松尾芭蕉
7. Dazai Osamu 太宰治
8. Matsumoto Seicho 松本清張
9. Kawabata Yasunari 川端康成
10. Mishima Yukio 三島由紀夫
11. Arishima Takeo 有島武雄
12. Murakami Haruki 村上春樹
Với kết quả này, nhật báo Asahi đã viết một bài vinh danh ông “Văn hào Soseki, siêu vượt thời đại” (漱石文豪時代を超越). Quả đúng là Natsume Soseki đã vượt qua thời đại của mình để cất lên tiếng nói cho toàn nhân loại. Và người Nhật cũng không bao giờ quên những người con ưu tú của dân tộc mình.
Cho đến ngày hôm nay, bài học lớn nhất mà chúng ta nhận được từ cuộc đời đầy cảm hứng của hai văn hào hàng đầu thời Minh Trị chính là cả sự khao khát say mê và nỗi do dự trước ngưỡng cửa khước từ đều để lại những kiệt tác. Điều quan trọng nhất là phải trung thực với chính bản thân mình, với con người mình. Không vì tác động hào nhoáng bên ngoài hay cơn cuồng nộ của cách mạng mà thay đổi bản tính, cho dù là đối với cá nhân hay dân tộc cũng vậy. Dù trong hoàn cảnh nào cũng phải kiên trì giữ vững nguyên tắc, bảo vệ giá trị mình tin tưởng cho dù có ngược dòng đám đông, xa quyền lực và danh vọng, chấp nhận hiu hắt để toàn vẹn thân tâm. Đó không chỉ là sứ mệnh và niềm kiêu hãnh của người cầm bút mà còn thể hiện dũng khí của những con người thời Minh Trị duy tân trước ngọn ba đào của lịch sử.
H.L
(TCSH451/09-2026)
-------------------
1 Claude Lévi-Strauss, Mặt khác của trăng, Khảo luận về Nhật Bản, Nguyễn Duy Bình dịch, Nxb. Thế giới, 2018, tr.65.
2 Tsubouchi Shoyo, Chân tủy của tiểu thuyết, bản dịch của Trần Hải Yến, Nxb. Thế giới, 2013, trang 115.
3 Unkei (Vận Khánh 運慶) (? - 1223) một nhà điêu khắc tượng Phật sống vào thời Kamakura (1185 - 1333). Ông điêu khắc tượng Phật theo phong cách tả thực. Những tác phẩm của ông còn lại đến ngày nay có tượng Đại Nhật Như Lai ở Viên Thành tự và tượng Hộ pháp ở cửa nam Đông Đại Tự.
4 Auguste Rodin (1840 - 1917) điêu khắc gia và họa sĩ nổi tiếng người Pháp. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là bức tượng “Người suy tư”.
5 Trích từ nguyên tác trên trang mạng aozora: https://www.aozora.gr.jp/cards/000148/files/799_14972.html
6 Trích từ nguyên tác truyện ngắn “Hanako” (花子) trên trang mạng aozora: https://www.aozora.gr.jp/cards/000129/files/42226_18459.html
7 Nguồn: http://info.asahi.com/guide/soseki/contest.html
________________
Tài liệu tham khảo:
1. Claude Lévi-Strauss, Mặt khác của trăng, Khảo luận về Nhật Bản, Nguyễn Duy Bình dịch, Nxb. Thế giới, 2017.
2. Vĩnh Sính, Nhật Bản cận đại, Nxb. Lao động, tái bản 2014.
3. Tsubouchi Shoyo, Chân tủy của tiểu thuyết, Trần Hải Yến dịch và giới thiệu, Nxb. Thế giới, 2013.
4. Suzuki Setsuko (Chủ biên), 英語で話す日本の心 / Keys to the Japanese Heart and Soul, Nxb. Kodansha, 1996.
5. Trang mạng kho sách ngoài trời: https://www.aozora.gr.jp/ về những tác phẩm của Natsume Soseki và Mori Ogai.