ĐỖ MINH ĐIỀN
Dạo quanh một vòng chợ Tết
Tết là khoảng thời gian nghỉ ngơi sau một năm tất bật mưu sinh, dịp để cho người “lữ hành trên đường thiên lý” hay những “kẻ lang thang góc bể chân trời” trở về sum vầy nơi cố hương.
Sử liệu nhà Nguyễn quả thực có quá ít khảo tả để chuyển tải không khí đón Tết của người dân ở Kinh đô. May mắn thay, vào những năm đầu của thế kỷ XX, báo chí Quốc ngữ đã giúp chúng ta khỏa lấp phần nào khoảng trống đó. Qua các trang báo cũ, Tết ở Huế xưa hiển hiện với khung cảnh đông vui, hối hả, khơi gợi một chút hương vị Tết cổ truyền mà ngày nay khi nhìn lại nó đã vơi phai ít nhiều.
Từ bao đời nay, Tết đến kéo theo bao nhiêu việc phải lo toan, nhưng với không ít gia đình, tiền bạc mới là nỗi lo canh cánh bên lòng. Ghi lại câu chuyện sắm sửa ngày Tết, tác giả Giang Hạ trong bài Lại chuyện sắm lễ Tết cho chúng ta biết thêm phần nào không khí tất bật của người dân mỗi độ giáp Tết: “Theo phong tục tập quán ở ta thì trong năm không có cái tháng nào người ta nhộn nhàn vất vả bằng tháng Chạp, cái tháng mà bất kỳ công việc gì cũng có chìu [chiều] phát triển nhiều hơn hết. Đó là vì quan niệm người mình đối với ngày Tết cần phải sắp đặt để đón rước cái năm mới một cách cho xứng đáng; kẻ giàu theo cách giàu, người nghèo theo cách nghèo, từ y phục, thực phẩm, trang sức phẩm... đều sắm sửa cho có một vẻ đặc biệt khác với ngày thường. Bao nhiêu việc ấy gọi là lo Tết. Mà trong các điều lo Tết có cái lo tiền là đứng đầu, vì mọi sự đều do tiền mà ra cả. Và không những lo sắm sửa ngày Tết mà còn phải lo trả bao nhiêu công nợ trong năm. Thành ra trong cả một năm cái tháng mà người ta túng bấn lắm tức là tháng gần Tết, tháng Chạp”1.
![]() |
| Quang cảnh chợ Tết ở Huế trước năm 1945. Nguồn: manhhai flickr.com |
Tường thuật cảnh chen chúc, xôn xao kẻ mua người bán chợ Tết ở Huế trong những ngày giáp Tết Kỷ Tỵ (1929), phóng viên tờ Thực Nghiệp dân báo có đoạn viết: “Cảnh Tết Huế năm nay xem ra cũng có vẻ xầm [sầm] uất. Tại chợ Đông Ba và trong thành ngoài phố, từ hôm 27 tháng Chạp cho đến 30, thì chợ đông nức cả người đi lại bán buôn, chen chân không lọt, ba ngày ấy hàng hóa bán được rất nhiều, trong các vật liệu ấy, trừ ra những đồ thực dụng thì chỉ có đồ ở xứ Bắc Kỳ vào bán, lắm thức rất tinh xảo, như là pháo, hoa giấy, ghế, tranh vẽ, khay hộp, giày tất và hàng nhiễu, cùng các thứ hoành liễn [hoành phi, liễn đối] thật nhiều, mà công nghệ xem tinh xảo”2.
Qua một số tư liệu báo chí thì thú “chơi hoa chưng kiểng” của người Huế đã có từ rất lâu. Vào mỗi dịp xuân về, dù giàu sang hay nghèo khó, người Huế vẫn gắng sắm sửa cho mình dăm ba chậu hoa để chơi Tết. Báo Tràng An cho chúng ta biết rằng, các chợ hoa xuân vẫn được Đốc lý thành phố Huế đứng ra tổ chức đều đặn hằng năm tại chợ Bến Ngự, chợ An Cựu, chợ Đông Ba. Chợ hoa họp từ ngày 22 tháng Chạp đến chiều tối 30 mới bãi, quy tụ các loài hoa đến từ khắp mọi miền đất nước, nhiều nhất vẫn là hoa mai, hoa đào, hoa thủy tiên, hoa cúc và hoa mẫu đơn. Hội chợ hoa xuân vào dịp Tết Bính Tý (1936) là hội chợ có quy mô lớn nhất, quy tụ hơn 200 gian hàng buôn bán lớn nhỏ khác nhau.
Theo như danh mục Hàng bán Tết được quảng cáo trên các tờ báo, chúng ta thấy có sự góp mặt của rất nhiều mặt hàng cao cấp lẫn bình dân được các hiệu buôn ở Huế nhập về buôn bán trong ba ngày Tết. Đó là hàng tơ lụa (gấm, vóc nhiễu, đoạn, satin, cẩm nhung, vải dạ, linen), trà (trà Tàu, trà hạt ướp ngâu, trà sen, trà sói...), tranh vẽ, đối liễn, hoa giấy, mứt (mứt gừng, mứt đu đủ, mứt bí, mứt bí ngô, mứt củ cải, mứt cam sành, mứt vỏ bưởi…). Mứt, bánh kẹo ở Huế trước đây bán nhiều ở các ngôi chợ, hay các hiệu buôn, như hiệu Bát Tiên (109, rue Paul Bert), hiệu Hưng Thịnh (91, rue Paul Bert), hiệu Văn Minh (61, rue Gia Long)3. Hiệu Bảo Thịnh trước ở đường Gia Long, sau chuyển về số 9 phố Gia Hội, nổi tiếng các loại mứt, bánh ngọt, bánh nướng, các loại kẹo, chè hạt ướp hoa4.
Rượu từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống (sinh hoạt, lễ nghi) của người Việt. Đối với Tết, rượu còn là biểu tượng cho sự gắn kết và đoàn viên. Có lẽ vì vậy mà nó được xếp vào nhóm các mặt hàng bán chạy nhất nhì vào thời kỳ đó. Rượu được người Huế sử dụng để nhâm nhi có loại Bách bổ vệ sanh tửu của Sinh Huy dược điếm (46, phố Ga Vinh), đó là loại rượu thuốc dùng kèm với các món khai vị, có công dụng bổ huyết; hay Trường Sanh dược tửu của tiệm Võ Văn Vân được đa số người dân lựa chọn làm quà để biếu tặng nhau. Rồi kế đó, phải nhắc đến loại rượu được nấu từ gạo nguyên chất của Công ty nấu rượu Đông Pháp (Société Française des Distilleries de l’Indochine), rượu gạo nếp của Công ty nấu rượu Việt Nam Trung-Bắc-Kỳ (S.A.Đ.A.T) nổi tiếng là ngon, thơm, êm dịu và rượu Văn Điển (Bắc Kỳ Nam tửu Công ty) với đủ loại: rượu gạo, rượu đào, rượu cam, rượu lê. Với giới thượng lưu, công chức và những người dư dả tiền bạc họ chọn uống các loại rượu hảo hạng nhập khẩu từ Pháp: rượu bọt (Vin mousseux Marquis de Jeancourt), rượu sâm banh (Champagne Charles Heidsieck), rượu Quinquina, rượu Cognac Martell, rượu vang Bordeaux (loại trắng và đỏ), rượu vang Bourgogne…
Giai phẩm mừng xuân
Huế không có nhiều thư quán, thư xã như ở Hà Nội, Sài Gòn, dù vậy, một số nhà in, nhà xuất bản ở Huế vẫn cố gắng dồn tất cả tâm huyết của mình để gửi đến độc giả một chút quà đầu xuân cho đời sống tâm hồn thêm thăng hoa.
Giai phẩm xuân thường được đội ngũ biên soạn chăm chút tỉ mỉ từ phần trang bìa, ảnh minh họa cho đến việc tuyển lựa bài vở. Ấn phẩm Sách Tết năm 1929 do Bùi Huy Tín chủ trương thực hiện mất gần 3 tháng để chuẩn bị. Sau đó, vào năm 1931, nhà in Đắc Lập tiếp tục cho ra mắt ấn phẩm Mừng xuân Tân Mùi. Cuốn sách dày vỏn vẹn 42 trang, được in trên loại giấy thượng hạng, với 08 ảnh minh họa, 12 bài thơ, 06 truyện ngắn, 02 bài đặc khảo về Tết, quy tụ đầy đủ các cây bút nổi tiếng ở Trung Kỳ lúc đó.
Năm 1932, Lê Thanh Cảnh cùng các thành viên trong Trung Kỳ thư xã đứng ra xuất bản Sách Tết Xuân Nhâm Thân (ấn hành tại nhà in Đắc Lập). Nếu như về hình thức, cuốn sách này không được đầu tư quá nhiều, thì nội dung của nó lại cho thấy việc tuyển lựa bài viết dày công vô cùng. Ấn phẩm này có sự tham gia của rất nhiều cái tên danh tiếng trên văn đàn lúc bấy giờ, như Ưng Bình, Ưng Ân, Hoài Thanh, Thanh Tịnh, Đào Đăng Vỹ, Đào Duy Anh, Lam Giang, Thái Can, Thúc Nhuận, Xuân Lữ.
![]() |
| Trang bìa giai phẩm Vì Xuân, 1937. Nguồn: BnF |
Một thời gian khá dài, sách Tết ấn hành tại Huế vắng bóng dần. Mãi đến năm 1937, Kinh đô thư quán (Librairie de la Capitale) cho trình làng ấn phẩm Vì Xuân (in tại nhà in Tiếng Dân), đánh dấu sự trở lại của giai phẩm xuân. Thông tin trên trang bìa cho thấy cuốn sách này nộp lưu chiểu ngày 04/02/1937, nhằm ngày 24 tháng 12 năm Bính Tý (1936), nghĩa là nó được phát hành đúng vào dịp Tết Đinh Sửu. Trong lời khai mở, các tác giả nhắn nhủ rằng: “Xuân trời mỗi năm một mới, nhưng xuân người lại một tuổi thêm già, vậy các bạn trong lúc chơi xuân hãy dự định một cái phương châm theo chí hướng mình để sau khi bồi bổ tinh thần và nghỉ ngơi trong dịp Tết lại hăng hái hùng dũng tiến bước trên đường hoạt động. Chúng ta phải làm sao cho có một dấu tích gì trong tấc bóng đi qua, thế mới khỏi phụ lòng xuân lui tới”5.
Tiếp sau lời mở đầu đầy ẩn ý của ban biên soạn, ấn phẩm tiếp tục với bài viết có tựa đề Bài mừng Xuân quốc dân của cụ Phan Bội Châu (ký tên là Sào Nam). Với một giọng văn sắc sảo, Ông già Bến Ngự viết: “Xuân người như thế mới là, nghìn thu cao ngất một tòa văn minh. Hỡi các anh, các chị, học rồi hành, đem múi đạo thắt giây tình cho khắn khít, mùi thân ái não nùng xương thịt, nét tài hoa tô điểm non sông, chung tay quét sạch yêu đông, gọi thần xuân đến tia hồng bốn phương”6. Ngoài hai bài viết ngắn của Sào Nam Phan Bội Châu, ấn phẩm Vì Xuân đem đến bạn đọc xa gần một số thi phẩm, truyện ngắn, câu đối của các tác giả: Tài Cam, T.C, H.A.W.N, Tùng Chi, Niệm Hùng, H.D, Vạn Thế Sơn. Dù chưa thật dày dặn, song cuốn sách này xứng đáng được xem là tặng phẩm tinh thần vô cùng ý nghĩa trong những ngày đầu xuân.
![]() |
| Trang bìa một số Sách Tết được sử dụng ở Huế trước năm 1945. Nguồn: BnF |
Sách Tết Kỷ Mão (1939), ấn hành tại nhà in Mirador (Viễn Đệ), với sự bảo trợ của Tôn Thất Viễn Đệ - ông vua dầu tràm Khuynh Diệp, mới xứng đáng được xem là giai phẩm “đặc biệt của đặc biệt”. Đặc biệt bởi nó được ban biên soạn chắt lọc cẩn thận qua từng trang văn, lời thơ cho đến việc trình bày, cũng như hình thức ấn loát vô cùng thẩm mỹ. Ấn bản này chỉ in đúng 89 bản, đính kèm 29 phụ bản tranh vẽ của các họa sĩ (Mai Trung Thứ, Phi Hùng, Phi Hổ, Mộng Hoa). Sách đóng bìa cứng gỗ sơn, in dấu triện, tất cả đều không bán, dùng để tặng biếu tri ân. Cuốn Tết Kỷ Mão, quy tụ các chí sĩ, nhà văn, thi sĩ, danh họa nổi tiếng như Phan Bội Châu, Đào Đăng Vỹ, Đào Duy Anh, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng Bình, Ưng Trình, Ưng Dự, Bửu Kế, Bửu Thạch, Trần Thanh Mại, Thái Quang Lữ, Mai Trung Thứ, Phi Hùng, Phi Hổ, Mộng Hoa…
Không giống như sách Tết, báo Tết phát hành đều đặn hơn. Khi những cánh hoa xuân bắt đầu hé nở, nhà nhà tất bật chuẩn bị đón Tết, đội ngũ tòa soạn báo Tiếng Dân lại bận rộn sửa soạn để ra mắt “Số báo Tết”. Theo thông lệ, “thường năm ngày Tết ta, Tiếng Dân có số báo đặc biệt, trong có rất nhiều bài hứng thú, ai đọc Tiếng Dân đều biết”.
Chính thức góp mặt trong làng báo chí vào năm 1935, kể từ đó trở đi, mỗi độ xuân về, báo Tràng An của ông Bùi Huy Tín đều ưu tiên dành riêng 1 số đặc biệt về Tết. Đây được xem là ấn phẩm tri ân độc giả: “Trong dịp Tết nầy, cũng như năm ngoái Tràng An sẽ ra một số đặc biệt về văn chương. Chúng tôi sẽ chọn lọc rất kỹ toàn những bài đặc sắc, có tính cách Tết để cống hiến cho các bạn độc giả yêu quý của Tràng An, trong lúc vui vẻ nhắm cốc rượu đón lấy xuân về”7. Vào năm 1945, do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh dẫn đến tình trạng khan hiếm giấy nghiêm trọng đã khiến cho không ít tờ báo phải quyết định rút ngắn số trang. Thế nhưng, tờ Tràng An cũng cố gắng ra 1 số Đặc biệt và đó cũng là số Tết cuối cùng trước khi nói lời chia tay sau gần đúng 10 năm gắn bó với bạn đọc.
Tìm lại một chút hương vị xuân xưa
Lễ Tết cung đình dưới triều vua Bảo Đại đã có sự thay đổi và điều chỉnh ít nhiều về quy mô cũng như nghi thức tổ chức. Từ năm 1933, theo quy định mới được ban hành bởi ông vua thứ 13 nhà Nguyễn, các lễ tiết hằng năm như Đoan dương, Nguyên tiêu, Thất tịch, Trung thu, Trùng dương, Đông chí, Hạp hưởng, Trừ tịch đều bãi bỏ không còn là lễ chính thức nữa. Đồng thời, các dịp lễ Tết nhất thiết bỏ lễ tam sanh, không đốt vàng mã mà chỉ dùng hương, nến, chè, hoa quả8.
![]() |
| Dựng nêu đón Tết ở Huế. Nguồn: Delcampe.net |
Ở chốn kinh thành xưa, theo lệ hằng năm vào ngày mồng 01 tháng Chạp (âm lịch), triều đình nhà Nguyễn long trọng tổ chức lễ Ban sóc (ban lịch, phát lịch). Đó là một nghi thức vô cùng quan trọng, mở đầu cho chuỗi hoạt động nghinh xuân đón Tết của vua quan nhà Nguyễn.
Dưới thời vua Bảo Đại (1926 - 1945), lễ Ban sóc thường được cử hành vào khoảng 7 - 8 giờ sáng. Vào ngày diễn ra lễ Ban sóc, hai phía tả, hữu hồ Thái Dịch ở trước sân Ngọ Môn, các thân binh bày thiết đầy đủ nghi trượng, nhã nhạc, tàn lọng, cờ quạt, cùng hai thớt voi do đội Kinh tượng chực hầu, trên lầu Ngũ Phụng và Kỳ Đài treo cờ khánh hỷ. Khoảng 8 giờ lễ tấn lịch (dâng lịch) diễn ra. Theo tiếng xướng của quan Hữu ty, một viên quan của Khâm Thiên Giám bưng tráp long lịch trao cho viên quan kiêm quản Khâm Thiên Giám đại thần (tức là Thượng thư Bộ Lễ nghi). Quan Thượng thư sau khi tiếp nhận thì bưng tráp long lịch kính cẩn nâng cao ngang trán, rồi chuyển cho viên thuộc quan Khâm Thiên Giám đặt lên án của long đình, tiếp làm lễ tam khấu. Long lịch sau đó được chuyển vào điện Cần Chánh để dâng hoàng đế ngự lãm.
![]() |
| Trang bìa một số Niên lịch phổ thông trước năm 1945. Nguồn: BnF |
Sau khi long đình vào đến điện Cần Chánh, một viên ấn quan của Ngự tiền Văn phòng sung chức Tuyên chỉ đứng trên lầu Ngọ Môn tuyên hai tiếng: “Hữu chỉ”. Bấy giờ dưới sân Ngọ Môn, quan Hữu ty xướng: “Bài ban”, “Ban tề”, bách quan đều theo ban thứ đứng lên. Tiếp đó, quan Tuyên chỉ tuyên: “Bảo Đại thập nhị niên, Đinh Sửu lịch thành, ban tứ trung ngoại [ban phát trong ngoài]”, bách quan làm lễ tam khấu để tạ ân. Buổi lễ đến đây chính thức hoàn tất9.
Trong ngày đầu tiên của năm mới, triều đình tổ chức lễ thiết triều tại điện Cần Chánh. Khoảng 9 giờ sáng, hoàng đế Bảo Đại ngự tại điện Cần Chánh, bấy giờ trước sân điện, các vị Hoàng thân vương công, các quan ở Viện Cơ mật, Phủ Tôn Nhơn cùng quan viên văn võ theo thứ tự phẩm hàm đã đứng trực đợi làm lễ chúc khánh. Sau khi viên Khâm sứ Trung Kỳ vào chúc Tết, các quan đình thần lần lượt vào lễ bái. Lễ xong, trên Kỳ Đài cho phát 9 tiếng hạ pháo. Cùng thời gian này, văn võ đình thần cùng đến cung Trường Sanh thỉnh an đức Khôn Nghi Xương Thái hoàng thái hậu, qua cung Diên Thọ chầu thỉnh Đoan Huy Hoàng thái hậu, sau đó đến Điện Kiến Trung thỉnh an đức Nam Phương hoàng hậu và chúc mừng đức Đông Cung Hoàng thái tử10.
Đó là không khí lễ Tết chốn cung đình, còn Tết đến với tất cả người dân Huế lúc đó diễn ra thế nào? Phần đông người Huế, đặc biệt là ở vùng quê, hương vị của Tết đã bắt đầu len lỏi từ những ngày đầu của tháng Chạp. Tùy theo từng vùng miền, hằng năm cứ đến tháng cuối cùng của năm, người Huế có nghi thức chạp mả. Vào ngày này, tất cả công việc thường nhật và đồng áng đều tạm dừng gác lại để tập trung cho việc chăm sóc mồ mả tổ tiên11.
Từ độ 20 tháng Chạp trở đi, người Huế đã tất bật lo sắm sửa Tết “nào quần áo, nào hương hoa, nào nấu bánh thờ Tết, làm mứt cúng Tết”12. Đối với người Huế nói riêng, Tết Nguyên đán (hoặc là Tết cả, Tết Âm lịch, Tết ta) được xem là “Tết trọng nhất trong một năm. 30 tháng Chạp người ta làm lễ Trừ tịch để tống năm cũ. Từ mồng một đến mồng ba, người ta lễ gia tiên và đi mừng tuổi nhau, đến ngày mồng bẩy, người ta làm lễ khai hạ để hạ nêu”13. Ngoài ba bữa Tết ra, người dân ở các làng còn phải “lo cúng đình, cúng chùa, như những lễ cầu an, khai hạ […], có lễ người ta kéo dài đến ba, bốn ngày, trong miễu [miếu] thì trống chiêng inh ỏi, ngoài cửa đình thì người ta để một khoảnh đất trống, rồi bày ra các cuộc chơi, như là: Đánh đu tiên, đu làm bằng những cây tre cao, chọn những cặp trai gái bận áo màu, đồng lên rút đu với nhau một lượt. Đánh bài chòi (ngày Tết được chơi bài bạc thong thả không bị cấm)”14.
Trong phóng sự Tết Huế, đăng trên báo Thời thế, số xuân Tân Tỵ (1941) ra ngày 01/01/1941, tác giả Hồ Quang Cảnh cho chúng ta biết thêm một số thông tin về không khí lễ Tết ở Huế lúc bấy giờ: “Quang cảnh Huế hôm nay náo nhiệt lạ thường, mặc dầu không vui bằng Saigon [Sài Gòn], người không đông bằng Hanoi [Hà Nội]. Phong tục ở đây oai nghiêm hơn, nhân vật ở đây có vẻ tao nhã hơn và đối với dịp Tết có vẻ long trọng, hình như họ muốn hy sinh cả gia tài vào cái Tết […]. Ngoài ra những bánh trái, rượu chè còn có những mâm cơm cúng tổ tiên mỗi ngày ba lần, lạy mỗi ngày ba lần. Phải chờ một người đến đạp đắt [đạp đất] “viếng đầu hết” mà họ bảo là: mau lẹ vui vẻ tốt nết […]. Rồi cứ theo sự xếp đặt của các ý tưởng tôi phải đi qua những con đường dài. Đi hết Bến Ngự, đến An Cựu, đến Đông Ba rồi vào trong thành… hai bên lề đường người buôn bán khách bộ hành tấp nập đi lại mỗi lúc một đông”15.
Cùng với hội hoa xuân, trước đây hội chợ xuân ở Huế thường xuyên được tổ chức tại nhiều ngôi chợ khác nhau, có nhiều năm Đốc lý thành phố cho tổ chức tại khuôn viên Viện Dân biểu. Nhiều trò chơi hấp dẫn được ban tổ chức kỳ công sắp đặt đã mang lại bầu không khí vui tươi, như bài Chòi, đá gà, đua ngựa, đua thỏ, đua ô tô, dây tơ hồng, thả trái phá, bắn bia, cầu may, bói đầu năm, thả thơ, đấu xảo mứt bánh, đua ghe, đua trải, chơi cờ người, múa đèn bát tiên, hát Bội, đốt pháo bông, đấu võ, ảo thuật, ca Huế16…
Qua các trang sách báo cũ, không khí Tết ở Huế xưa phần nào được tái dựng khá chân thực. Trong suốt 40 năm đầu của thế kỷ XX, tác động bởi tình hình chính trị, kinh tế có những cái Tết đến với người Huế chưa thật sự đủ đầy và trọn vẹn. Không đông vui như Sài Gòn hay Hà Nội, song Tết Huế vẫn ấm áp đến từng thôn làng, ngõ xóm, với những phiên chợ cuối năm tấp nập, rộn ràng dù cái ăn cái mặc còn trăm bề thiếu thốn. Tết ở miền kinh kỳ còn là sự tươm tất trên từng mâm cỗ dâng cúng tổ tiên, là những nghi thức đậm chất cung đình, hay những giai phẩm xuân gói ghém biết bao tâm tình.
Đ.M.Đ
(TCSH444/02-2026)
--------------------
1 Báo Tiếng Dân, Lại chuyện sắm lễ Tết, số 1162 (22/01/1938), tr. 1.
2 Thực Nghiệp dân báo, Huế, quang cảnh ngày Tết, số 2480 (03/3/1929), tr. 4.
3 Đường Paul Bert hiện nay là đường Trần Hưng Đạo, đường Gia Long nay là đường Phan Đăng Lưu.
4 Báo Tràng An, Ngon lắm! Ngon lắm!, số 64 (08/10/1935), tr. 3.
5 Nhiều tác giả, Vì Xuân, Kinh đô thư quán xuất bản, Imprimerie Tiếng Dân, Huế, 1937, tr. 2.
6 Nhiều tác giả, Vì Xuân, Kinh đô thư quán xuất bản, Sđd, tr. 3.
7 Báo Tràng An, Tràng An số Tết, số 286 (31/12/1937), tr. 2.
8 Thực Nghiệp dân báo, Mấy việc cải cách về phong tục của đấng tân quân, số 111 (02/8/1933), tr. 1.
9 Báo Tràng An, Lễ Ban sóc, thiết Đại triều nghi tại trước lầu Ngọ Môn, số 191 (15/01/1937), tr. 2.
10 Báo Tràng An, Lễ thiết triều đầu năm tại điện Cần Chánh, số 398 (24/2/1939), tr. 2.
11 Nhà Nguyễn có một lễ tương tự lễ Chạp ở các làng xã, đó là lễ Hạp (Hợp) hưởng, tức là lễ hợp tế tiên tổ. Nguyên lễ này ấn định vào ngày rằm tháng Chạp, sau đó năm 1837, đổi qua ngày Trừ tịch, đến năm 1844, dưới đời vua Thiệu Trị lại cải đặt vào ngày 22 tháng Chạp.
12 Thanh Nghệ Tịnh tân văn, Tục ăn Tết ở nước ta, số 31 (20/02/1931), tr. 1.
13 Hà Mai Anh, Công dân giáo dục, Nhà in Mỹ Thắng, Nam Định, 1938, tr. 20.
14 Báo Điễn Tín, Tết ở thành thị và Tết ở thôn quê, số 587 (03/01/1937), tr. 34.
15 Hồ Quang Cảnh, “Phóng sự Tết Huế”. Báo Thời thế, số Xuân Tân Tỵ (01/01/1941), tr. 12.
16 Báo Tràng An, Hội chợ Ngày Xuân do hội T.B.Q.N tổ chức tại trường học An Cựu từ 13 đến 17 Février 1945, số 400 (Bộ mới, 01/02/1945), tr. 2.