TRẦN VĂN DŨNG
1. Lời dẫn
Mỗi con đường nhỏ, mỗi cổng ngõ, bờ thành rêu phong hay mái ngói nhuốm màu thời gian của Huế đều có thể trở thành cánh cửa đưa ta chạm vào những lớp trầm tích lịch sử lặng thầm mà bền bỉ. Trong mạch trầm tích ấy, hệ thống phủ đệ của các ông hoàng, bà chúa triều Nguyễn không chỉ là dấu ấn cư trú hay nơi phụng thờ của giới quyền quý, mà còn là những địa chỉ văn hóa - nơi lối sống, lễ nghi và nền nếp gia phong được kết tinh, truyền nối, góp phần tạo nên chiều sâu của một Cố đô văn hiến.
Giữa hệ thống phủ đệ ấy, phủ Hòa Thạnh Vương gợi nhiều suy tưởng khi nối liền hai dòng chảy: dòng đời của một hoàng thân và dòng tồn tại bền bỉ của một không gian thờ tự. Sau cổng phủ và bình phong, hiện lên hình ảnh đức ông Hòa Thạnh Vương Miên Tuấn, một nhân vật tiêu biểu cho phong thái trọng lễ nghĩa, lấy học vấn và văn chương làm nền tảng tu thân, qua đó giữ gìn nền nếp vững bền giữa những biến động của thời cuộc. Nhìn từ phương diện kiến trúc phủ đệ, đây không chỉ là một di tích đơn thuần mà còn phản ánh cách hoàng tộc nhà Nguyễn lưu giữ ký ức bằng không gian, khi biến một nơi chốn cụ thể thành thiết chế văn hóa - tín ngưỡng, đồng thời là môi trường giáo huấn, nơi đạo lý được gửi gắm vào kiến trúc, văn tự và nghi lễ để truyền lại cho hậu thế.
2. Cuộc đời và hành trạng
Đức ông Hòa Thạnh Vương Miên Tuấn (1827 - 1907), tự Dương Hiền, Ngạn Thúc, Ngạn Chi, Trọng Diên, Nhã Trang; hiệu Tùng Viên; thường xưng Nhã Đường chủ nhân hoặc Lạc Thiện lão nhân. Ông được nhắc đến như một hình mẫu về nếp sống thanh đạm, trọng lễ nghĩa, chuyên chú học thuật. Hoàng tử Miên Tuấn sinh ngày 18 tháng 5 năm Đinh Hợi (tức ngày 12/6/1827), là con trai thứ 37 của vua Minh Mạng; mẹ là An tần Hồ Thị Tùy, nổi tiếng đoan trang, tiết hạnh. Trưởng thành trong giai đoạn triều Nguyễn vận hành theo khuôn phép Nho giáo và lễ nghi hoàng tộc, Miên Tuấn sớm được đặt vào môi trường giáo dục chuẩn mực của hoàng gia.
Từ nhỏ, Miên Tuấn đã bộc lộ tư chất điềm đạm, ham học, yêu sách vở, không chuộng xa hoa. Năm lên bốn tuổi, ông được đưa vào Quảng Phúc đường, nơi đào tạo con em hoàng tộc theo chương trình nghiêm ngặt, đậm tinh thần Nho học. Trong số các hoàng tử, ông được đánh giá cao bởi sự lễ độ, học vấn vững vàng và lòng nhân hậu.
Năm 1840, khi Miên Tuấn 13 tuổi, vua Minh Mạng ban thưởng cho các hoàng tử chưa có tước vị bằng những linh thú bằng vàng; Miên Tuấn được ban một con sư tử vàng nặng 6 lạng 1 đồng cân1. Phần thưởng ấy không chỉ là vật quý, mà còn mang ý nghĩa biểu trưng: sự ghi nhận tư chất và đức hạnh. Đến năm 1843, vua Thiệu Trị tấn phong hoàng thân Miên Tuấn làm Hòa Thạnh Quận công (和盛郡公), tước hiệu được đặt theo tên phủ Hòa Thạnh ở Gia Định. Đồng thời, triều đình cho dựng phủ riêng ở khu vực phía sau chùa Giác Hoàng (nội vi Kinh thành Huế), nơi từng là phủ đệ của vua Minh Mạng thuở còn là hoàng tử. Đây là dấu mốc xác lập vị thế chính thức của Miên Tuấn trong hệ thống tước phong và không gian cư trú hoàng gia.
Dẫu có danh phận và địa vị trong hoàng gia, Miên Tuấn không chọn con đường mưu cầu quyền lực. Ông thiên về đời sống học thuật, giáo dục gia tộc, giao du văn sĩ và trước tác. Năm 1869, dưới thời vua Tự Đức, ông dời phủ đệ về làng Vạn Xuân và dựng lầu riêng mang tên “Hi Ngã sào”2 - một cách đặt tên gợi tinh thần Nho gia: người trí sĩ sống ẩn dật để giữ đạo, sống với lý tưởng nhân nghĩa và tự tại. Từ đây, không gian này trở thành nơi ông an nhiên làm thơ, viết sách, đàm đạo với giới văn nhân thi sĩ đương thời.
Năm Kiến Phúc nguyên niên [1884], ông được gia phong tước Thạnh Quốc công (盛國公). Nhưng lịch sử không để ai đứng ngoài: Thất thủ Kinh đô (1885) khiến ông cùng gia quyến phải đi lánh nạn; phủ đệ bị thiêu rụi, tài sản thất tán. Khi tình hình ổn định dần (1886), ông phục dựng cơ sở mới, đặt tên Tùng Vân tại ấp Đông Trì (phía đông Kinh thành), tiếp tục nếp sống giản dị.
Năm 1887, sự kiện tranh luận về việc tấn phong bà Bùi Thị Thanh (mẹ vua Đồng Khánh) làm Vương phi đã đẩy hoàng thân Miên Tuấn vào tình thế xung đột giữa lễ nghi và chính trị. Cùng với hoàng thân Miên Trữ, ông phản đối theo lập luận dựa trên phép tắc cổ xưa và tiền lệ các triều Hán, Tống, xuất phát từ tinh thần trọng lễ nghĩa và bảo vệ quy chế. Tuy nhiên, ý kiến này bị xem là trái ý vua; hai ông bị cách tước, thu hồi mũ áo sách phong, cho về nhàn tản. Dù vậy, để giữ thể diện cho hoàng tộc, vua Đồng Khánh vẫn cho cấp lương theo tước Huyện công3. Trong thời gian ấy, Miên Tuấn lập miếu Minh Thánh trong khuôn viên phủ đệ để thờ Quan Thánh Đế Quân, làm nơi tụng niệm và cầu nguyện, thể hiện khuynh hướng tìm điểm tựa tinh thần trong tín ngưỡng - đạo lý.
Đến năm 1889, vua Thành Thái phục hồi tước Quốc công cho hoàng thân Miên Tuấn và Miên Trữ, trả lại danh vị và thể diện. Năm 1893, Miên Tuấn được cử làm Tả Tôn Nhơn tại Phủ Tôn Nhơn, cơ quan phụ trách giáo huấn, phong tước và nghi lễ hoàng gia. Năm 1895, ông được tấn phong làm Hòa Thạnh Công (和盛公), song vì tuổi cao sức yếu, ông xin nghỉ hưu cuối năm này. Dù không còn giữ chức vụ trong hoàng tộc, uy tín của ông vẫn được triều đình coi trọng. Năm 1896, nhân dịp 70 tuổi, triều đình tổ chức lễ mừng thọ long trọng, vua sai Hương công Bửu Thạch mang phẩm vật đến phủ đệ ban thưởng4.
Năm 1899, vua Thành Thái gia phong đức ông Miên Tuấn làm Hòa Thạnh Quận vương (和盛郡王) khẳng định sự trọng vọng đối với một hoàng thân tài năng và đức độ. Đức ông mất ngày 12 tháng 5 năm Đinh Mùi (tức ngày 22/6/1907), hưởng thọ 81 tuổi. Vua Thành Thái truy tặng đức ông tước Hòa Thạnh Vương (和盛王), ban thụy Đoan Cung (端恭), đồng thời cấp thêm 300 đồng lo hậu sự. Bản sách phong của vua Thành Thái truy phong tước vị Hòa Thạnh Vương5 có nội dung như sau:
![]() |
![]() |
| Bản sách phong của vua Thành Thái truy phong tước vị Hòa Thạnh Vương. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn. |
維成泰拾玖年歲次丁未陸月庚申朔越柒日丙寅
承天興運皇帝若曰
朕惟:王者敘倫之典推恩必始于親親
朝廷悼往之仁進律用彰夫善善
穀辰亶協芝綍載敭
睠惟:和盛郡王綿寯乃我聖祖仁皇帝之子也
系出慶源支分若木
迪衛武威儀之謹盛德益彰蹈河間禮樂之風隆名乆著曾膺玄社特冠羣公老成允表于尊支屏翰寔蕃于帝室
每謂金枝競爽兔園之宮觀常開
豈期白日遐翀鴻烈之縹緗徒在
言念周藩近屬存者幾何
式稽漢爵崇班於斯有待
既擁百城之貴宜膺一字之褒
著準追贈爲和盛王錫之冊命
尚其光受鴻私茂隆蕃祉
榮名顯誄長畱玉牒之輝
綵冊香凾永作桐圭之寶
施于後嗣屏我皇家欽哉
Dịch nghĩa:
Duy Thành Thái năm thứ 19 [1907], Đinh Mùi tháng 6, mồng 7 Bính Dần.
Vâng mệnh trời dấy vận, Hoàng đế truyền rằng:
Trẫm nghĩ: Vương giả bày điển lễ luân thường, đền ơn ắt khơi đầu từ thân người thân.
Triều đình điếu người nhân quá cố, nêu luật để sáng tỏ thiện với người thiện.
Ngày tốt đã hợp, chiếu chế ban ra.
Mến nghĩ: Hòa Thạnh Quận vương Miên Tuấn là con của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ta.
Dòng từ nguồn phước, nhánh tỏa như cây.
Bước cẩn thận theo oai nghi của Võ Vệ, đức thịnh càng sáng.
Noi phong thái lễ nhạc của Hà Gian, tên cao tỏ rõ.
Từng nhờ tông xã, đứng đầu chư công.
Lão thành tỏ rõ ở tôn chi, bậc thân phiên giúp cho đế thất.
Há hẹn mặt trời lên cao, sự nghiệp lớn sử sách còn đó.
Nghĩ đến Chu thân vương như thế, còn lại mấy ai.
Tìm theo Hán tước ban cao, đến nay chờ đợi.
Đã giúp trăm thành vốn quý, nhận đây một chữ thưởng vinh.
Nên chuẩn cho truy tặng làm Hòa Thạnh Vương, ban cho sách mệnh. Ngõ hầu nhận sự vẻ vang, thăng cao phúc lớn.
Vinh danh lời viếng còn hoài, Ngọc điệp sáng tươi sách lụa.
Hòm hương chế tác đồng khuê.
Ví mãi từ nay, che chắn hoàng tộc ta.
Kính thay.
Bên cạnh đó, sách Đại Nam thực lục cũng ghi lại rằng đức ông Hòa Thạnh Vương “là người chí thân trong đế thất, di lão sáu triều, mê sách hiếu học, giữ lòng đạm bạc”6.
3. Di sản học thuật - văn chương và sự tiếp nối dòng dõi
Đi cùng nhân cách thanh bạch, đức ông Hòa Thạnh Vương Miên Tuấn còn để lại một di sản trước tác đáng kể. Một số tác phẩm hiện vẫn được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm như: Nhã Đường thi tập (雅堂詩集), Hiếu kinh lập bản (孝經立本), Quốc âm hiếu sử (國音孝史), Hiếu sử lược thuyên (孝史略詮), Hiếu sử quốc âm ca (孝史國音謌), Hiếu kinh quốc ngữ ca (孝經國語謌),… Thơ văn của đức ông thiên về lối diễn đạt hàm súc, không phô trương, thấm đẫm tinh thần Nho học. Với ông, văn chương không chỉ để thưởng ngoạn mà còn là phương tiện tự răn và răn dạy, qua đó góp phần củng cố gia phong theo quan niệm: càng ở địa vị cao càng phải giữ đức khiêm cung, trọn đạo.
![]() |
![]() |
| Trang bìa tác phẩm “Nhã Đường thi tập” và “Hiếu kinh quốc ngữ ca” |
Về phả hệ, đức ông Hòa Thạnh Vương khai mở phòng 37, thuộc Đệ Nhị chánh hệ của hoàng tộc Nguyễn; đồng thời được vua Thiệu Trị ngự ban bộ chữ “Nữ (女)” làm bộ thủ định hướng đặt tên cho các thế hệ con cháu trong phòng7. Ông có 34 con trai và 26 con gái; nhiều hậu duệ chuyên tâm học hành, được ban tước vị hoặc tiến cử ra làm quan trong triều, rồi dần mở rộng đóng góp sang lĩnh vực giáo dục, kỹ thuật, nghệ thuật. Một số hậu duệ tiêu biểu:
Hường Tĩnh 洪婧 (1861 - 1902), tự Lập Phủ, hiệu Nhẫn Viện; con trai thứ 13 của Hòa Thạnh Vương với phủ thiếp Phan Thị Nhuận; năm 1901 được ân phong tước Thế Lộc Đình hầu.
Hường Oai 洪威 (1863 - 1934), tự Cát Phủ; con trai thứ 14 (cùng mẹ Phan Thị Nhuận); năm 1893 được bổ Thừa phái ở Phủ Tôn Nhơn; năm 1895 sung Giám thủ phủ thờ Tuyên Mục nhị vương; năm 1904 tập phong tước Hòa Thạnh Quận công8.
Hường Khanh 洪婜 (1890 - ?), tự Gia Phủ, hiệu Trú Viên, Đông Hiên; con trai thứ 33 với phủ thiếp Phạm Thị Tăng; tốt nghiệp Trường Quốc Học Huế, làm tại Phủ Tôn Nhơn.
Ưng Ủy 膺婑 (1892 - 1936), con trai thứ 2 của Hòa Thạnh Quận công Hường Oai với bà Lê Quang Kinh; năm Bảo Đại thứ 10 [1935] được tước tập phong tước Hòa Thạnh Hương công.
Ưng Thiện 膺嫸 (1896 - ?), con trai thứ 4 của Hòa Thạnh Quận công Hường Oai với bà Lê Thị Tuyết; năm Bảo Đại thứ 13 [1938] tập phong tước Hòa Thạnh Huyện hầu.
Ưng Khuê 膺㛻 (1899 - 1945), con trai thứ 5 của Thế Lộc Đình hầu Hường Tĩnh với bà Nguyễn Thị Nhụy; năm Bảo Đại thứ 8 [1933] ân phong tước Trợ Quốc khanh.
Ưng Lang 膺嫏 (1919 - 2009), con trai thứ 2 của Hường Khanh; tốt nghiệp kỹ sư Trường Paul Bert (1936), làm tại Sở Lục lộ tỉnh Nghệ An; năm 1945 về Huế làm ở Sở Công Chánh Thừa Thiên; sau 1975 vào Sài Gòn làm tại Sở Giao thông công chánh; đồng thời là nhạc sĩ, nghệ sĩ guitar Hawaii, Giáo sư âm nhạc, nổi tiếng với ca khúc Mưa rơi (có sự tham gia viết lời của nhạc sĩ Châu Kỳ).
Nhìn vào sự tiếp nối ấy, có thể thấy nền nếp gia phong của một phủ đệ không chỉ thể hiện ở việc hương khói thờ tự, mà còn được bồi đắp bởi truyền thống học hành và phụng sự - chính điều đó làm nên sức sống bền bỉ cho một phòng hoàng tộc.
![]() |
| Sơ đồ phong tước tại phủ Hòa Thạnh Vương |
4. Không gian thờ tự
Sau khi đức ông Hòa Thạnh Vương Miên Tuấn qua đời, phủ đệ chuyển thành phủ thờ. Hiện nay, phủ thờ tọa lạc tại số 255 Chi Lăng, phường Phú Xuân, thành phố Huế. Nguyên xưa phủ có cấu trúc ba gian hai chái, mái lợp ngói liệt; qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, hình thức chuyển thành nhà một gian hai chái. Dù biến đổi theo thời gian, phủ vẫn lưu giữ các hạng mục tiêu biểu: cổng vòm, bình phong, nhà chính và một am nhỏ thờ Phật và Quan Thánh.
Từ ngoài nhìn vào, cổng phủ xây kiểu vòm, tạo cảm giác cổ kính, trang nghiêm. Phần nóc mái trang trí theo kiểu thức “lưỡng long chầu nhật”; các ô hộc đắp nổi biểu tượng bát bửu; hai bên có hình “kỳ lân hí cầu”, thể hiện ý nghĩa cát tường và quyền uy trong quan niệm truyền thống. Chính giữa mặt ngoài cổng, dưới mái là biển ngạch đề chữ Hán: “Hòa Thạnh Vương từ môn 和盛王祠門”. Hai trụ cổng trang trí đôi câu đối:
族迎福賢人出入
門建德貴容往來
Tộc nghinh phước hiền nhân xuất nhập,
Môn kiến đức quý khách vãng lai.
Dịch nghĩa:
Dòng tộc đón phúc, hiền tài thường lui tới;
Nếp nhà dựng đức, quý khách mãi ra vào.
Qua cổng là bình phong xây gạch, vừa đóng vai trò án phong tạo sự kín đáo, tôn nghiêm cho không gian thờ tự, vừa mang ý nghĩa trấn phong thủy, ngăn tà khí. Từ đây, bố cục phủ thờ mở ra theo trục nghi lễ truyền thống, với lớp ngoài là tiền đường, lớp trong là chính đường và các khám thờ.
![]() |
| Phủ Hòa Thạnh Vương |
Không gian chính của phủ thờ là một tòa nhà kép: tiền đường ba gian có hàng cột hiên bằng gạch trát vữa; chính đường một gian hai chái theo phong cách nhà rường Huế, với khung sườn gỗ, hàng cột gỗ và hệ vì kèo chạm trổ tinh tế. Trên mái nhà được thể hiện mô típ “lưỡng long chầu nhật”, tạo sự thống nhất trong ngôn ngữ kiến trúc và trang trí. Bên trong nhà, hệ thống hoành phi, đối liễn chạm khắc chữ Hán được bố trí trang trọng, vừa tăng vẻ mỹ thuật, vừa chuyển tải những chuẩn mực đạo đức và nền nếp gia tộc.
Ở tiền đường, nổi bật là hai cặp câu đối trên cột trụ. Cặp chính giữa ghi:
百世本枝承旧蔭
千秋香火壯新基
Bách thế bản chi thừa cựu ấm,
Thiên thu hương hỏa tráng tân cơ.
Dịch nghĩa:
Ân cũ lưu truyền, gốc nhánh bền lâu muôn thuở;
Nền mới gây dựng, hương khói rạng rỡ nghìn thu.
Cặp hai bên ghi:
孝亭千年
本支百世
Hiếu đình thiên niên,
Bản chi bách thế.
Dịch nghĩa:
Hiếu đạo lưu truyền muôn thuở;
Con cháu kế tục trăm đời.
Bước vào chính đường, ở vị trí trung tâm là án thờ và di ảnh của đức ông Hòa Thạnh Vương Miên Tuấn. Phía trên liên ba treo bức hoành phi đề bốn đại tự “Hòa Thạnh Vương từ 和盛王祠”; lạc khoản bên trái khắc niên đại chế tác: “Bảo Đại Bính Dần niên hạ 保大丙寅年夏” (mùa hạ năm Bính Dần, niên hiệu Bảo Đại [1926]); lạc khoản bên phải khắc tên người phụng cúng: “Công tôn Ưng Xán bái phụng 公孫膺㛑拜奉” (Công tôn Ưng Xán9 kính cẩn bái dâng). Hoành phi được sơn son thếp vàng; khung viền chạm nổi các đề tài hoa mai, hoa cúc kết hợp biểu tượng chữ vạn, tạo nên bố cục nghiêm cẩn và giàu tính biểu trưng.
![]() |
| Bức hoành phi đề chữ “Hòa Thạnh Vương từ” |
Hai bên cột chính đường treo đôi câu đối:
姬周公在五爵先兼隆齒德
正考甫拜三命後滋益恭謙
Cơ Chu Công tại ngũ tước, tiên kiêm long xỉ đức;
Chính Khảo Phủ bái tam mệnh, hậu tư ích cung khiêm.
Dịch nghĩa:
Cơ Chu Công địa vị tôn quý, tuổi cao đức lại càng dày;
Chính Khảo Phủ được vinh phong nhiều lần, càng về sau càng giữ trọn cung khiêm.
Dòng lạc khoản bên trái ghi: “Thành Thái Ất Mùi niên hạ nguyệt cốc đán 成泰乙未年夏月穀旦” (Ngày tốt tháng mùa hạ niên hiệu Thành Thái năm Ất Mùi [1895]); lạc khoản bên phải ghi: “Tôn Nhơn phủ Thừa biện ty đồng phụng thượng 尊人府承辨司仝奉上” (Ty Thừa biện thuộc Tôn Nhơn phủ kính dâng lên).
Phía sau là ba gian thiết trí ba khám thờ: gian giữa thờ đức ông Hòa Thạnh Vương Miên Tuấn; hai gian tả hữu thờ Hòa Thạnh Quận công Hường Oai, Hòa Thạnh Hương công Ưng Ủy và gia quyến quá vãng. Phủ hiện còn lưu giữ bức tranh truyền thần của Hòa Thạnh Quận công Hường Oai trong trang phục áo dài - một di vật quý về lịch sử gia tộc và mỹ thuật chân dung. Tại gian giữa có đôi câu đối:
漢劉子政忠懿清和
晉王元通孝友恭恪
Hán Lưu Tử Chính trung ý thanh hòa,
Tấn Vương Nguyên Thông hiếu hữu cung khắc.
Dịch nghĩa:
Lưu Tử Chính đời Hán, trung nghĩa trong sáng, nết hòa nhã;
Vương Nguyên Thông đời Tấn, hiếu đễ vẹn toàn, cung cẩn đáng noi theo.
![]() |
| Nội thất phủ Hòa Thạnh Vương |
Nối với nhà chính là hành lang dẫn ra một ngôi miếu nhỏ thờ Phật và Quan Thánh Đế Quân. Theo truyền ngôn tại phủ, đây là nơi xưa kia đức ông Hòa Thạnh Vương và con cháu tụng kinh Phật, Quan Thánh. Chi tiết này cho thấy nền nếp gia phong tại phủ không chỉ đặt nền trên lễ giáo Nho gia mà còn dung hợp yếu tố Phật giáo, hướng đến sự tu tâm và gìn giữ đời sống tinh thần thanh tịnh.
Hằng năm, vào ngày 11 tháng 5 âm lịch, con cháu hậu duệ trở về phủ thờ để tổ chức lễ húy kỵ và lễ bái. Sinh hoạt này không chỉ có ý nghĩa tưởng niệm tổ tiên, mà còn là cơ chế truyền nối gia phong, củng cố ý thức cội nguồn và gắn kết các thế hệ trong dòng tộc.
5. Kiến trúc viên tẩm
Viên tẩm của đức ông Hòa Thạnh Vương được an táng tại ấp Bồi Thành, làng Dương Xuân Hạ, huyện Hương Thủy, nay thuộc địa chỉ số 238/6 Bùi Thị Xuân, phường Thuận Hóa, thành phố Huế. Kiến trúc này hiện đang được con cháu phủ Hòa Thạnh Vương gìn giữ tương đối nguyên vẹn, thể hiện đạo lý tri ân tổ tiên và ý thức bảo tồn di sản của dòng tộc. Tổng thể khuôn viên viên tẩm được quy hoạch khá hoàn chỉnh với các hạng mục kiến trúc như cổng vòm, hệ thống la thành, bình phong chính, nhà bia, bia mộ, nấm mộ và bình phong hậu, tạo nên một không gian kiến trúc vừa trang nghiêm vừa hài hòa.
![]() |
| Cổng vòm viên tẩm Hòa Thạnh Vương |
Cổng vào được xây dựng bằng gạch theo kiểu cuốn vòm, mang đặc trưng của kiến trúc truyền thống Huế. Đỉnh cổng trang trí hình dơi ngậm đồng tiền - một biểu tượng phổ biến của phúc lộc trong mỹ thuật. Phía trên vòm cổng là một ô hộc hình chữ nhật, nổi ba chữ “Cung tẩm môn - 恭寢門” được thể hiện bằng kỹ thuật khảm sành sứ, nhấn mạnh tính chất tôn nghiêm và lòng kính cẩn đối với người đã khuất. Bên dưới biển ngạch là hình hai con dơi sải cánh, tiếp tục khẳng định ý nghĩa cát tường. Toàn bộ bề mặt tường ngoài của cổng được trang trí bằng các ô hộc gắn sành sứ với nhiều mô-típ đa dạng như bát bửu, tứ quý (mai, lan, cúc, trúc) thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trang trí và biểu tượng văn hóa. Hai cánh cổng gỗ được làm theo kiểu thượng song hạ bản, vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, vừa phù hợp với công năng sử dụng.
Bao quanh khu tẩm mộ là hệ thống la thành, tạo nên một ranh giới không gian thiêng liêng, tách biệt với bên ngoài. Gắn liền với la thành là bình phong hậu, được tạo hình theo kiểu “cuốn thư”, trên đó trang trí các họa tiết như lão mai, kỳ lân và hình tượng cá chép hóa rồng, hàm chứa ý nghĩa phúc lành và sự thăng hoa. Ngay phía sau cổng là bình phong chính, cũng được xây bằng gạch, giữ vai trò ngăn chặn trực tiếp các luồng khí xấu theo quan niệm phong thủy truyền thống, qua đó bảo đảm sự yên ổn cho phần mộ.
![]() |
| Toàn cảnh viên tẩm Hòa Thạnh Vương |
Nhà bia được bố trí phía trước tẩm mộ, là nơi đặt bia đá, bát nhang và bàn lễ, phục vụ việc dâng hương trong các dịp húy kỵ. Mái nhà bia trang trí họa tiết “lưỡng long chầu nhật” cùng các hình hoa lá hóa rồng. Phía dưới mái là biển ngạch đúc nổi dòng chữ “Hòa Thạnh Vương viên tẩm - 和盛王園寢”, xác định chủ thể của khu viên tẩm. Mặt trước nhà bia được trang trí bằng các ô hộc với nhiều họa tiết tinh tế, góp phần tăng thêm giá trị thẩm mỹ cho công trình.
![]() |
| Bia tẩm mộ Hòa Thạnh Vương |
Tấm bia mộ được tạo tác theo kiểu Tam sơn, gồm trán bia, tai bia và diềm bia, tất cả đều được chạm khắc công phu với hoa văn tinh xảo. Các mô-típ như “lưỡng long chầu nhật” hay hoa lá hóa rồng được thể hiện bằng kỹ thuật chạm đá điêu luyện, phản ánh trình độ tay nghề cao của các nghệ nhân cung đình đương thời. Văn bia khắc dòng chữ: “Đại Nam tiền triều Kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ Tả Tôn nhơn Hòa Thạnh Vương thụy Đoan Cung viên tẩm - 大南前朝兼攝尊人府左尊人和盛王諡端恭園寢” (Viên tẩm của Hòa Thạnh Vương, thụy Đoan Cung, từng đảm nhiệm chức Kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ Tả Tôn nhơn dưới triều Đại Nam trước đây).
Phía sau nhà bia là phần nấm mộ của đức ông Hòa Thạnh Vương, được xây dựng theo kiểu “liếp” (còn gọi là sàng hình), gồm ba tầng với các khối hình chữ nhật xếp chồng lên nhau. Kết cấu này sử dụng cốt gạch, bên ngoài trát vữa, tạo nên hình khối vững chắc và bền bỉ theo thời gian, đồng thời phù hợp với truyền thống kiến trúc lăng mộ của hoàng tộc triều Nguyễn.
Thay lời kết
Phủ Hòa Thạnh Vương là một điểm nhấn trong hệ thống phủ đệ của các ông hoàng, bà chúa triều Nguyễn ở Cố đô Huế. Nơi đây không chỉ lưu giữ dấu ấn về thân thế và sự nghiệp của đức ông Hòa Thạnh Vương Miên Tuấn - một vị hoàng thân trọng nghĩa lý, giàu học vấn mà còn bảo tồn nhiều lớp giá trị văn hóa đặc sắc: kiến trúc truyền thống, tư liệu Hán Nôm, nền nếp gia phong, ký ức dòng tộc và thực hành nghi lễ thờ tự. Từ câu chuyện nhân vật đến không gian phủ thờ còn hiện diện, có thể nhận ra một mẫu hình văn hóa hoàng tộc nhà Nguyễn đáng trân trọng: lấy tu thân, giữ đức, giáo dục con cháu và duy trì hương hỏa làm cốt lõi, thay vì đặt quyền lực hay phô trương vật chất làm trung tâm.
Trong bối cảnh đô thị di sản Huế đang chịu sức ép đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội, việc nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị phủ Hòa Thạnh Vương càng cần thiết. Công trình cần được khảo cứu sâu hơn về kiến trúc, hiện vật và hệ thống nghi lễ, đồng thời có giải pháp bảo tồn tổng thể, ưu tiên tính nguyên gốc, tính bền vững vật liệu và sự tham gia của cộng đồng dòng tộc. Song song đó, phát huy giá trị di sản nên gắn với phát triển du lịch bền vững theo hướng tổ chức tham quan quy mô phù hợp, có thuyết minh chuẩn mực, quy tắc ứng xử trong không gian thờ tự, hạn chế tác động vật lý và thương mại hóa quá mức. Khi bảo tồn đi đôi với diễn giải đúng mực và chia sẻ lợi ích minh bạch, di sản không chỉ được gìn giữ lâu dài mà còn “sống” trong đời sống đương đại, góp phần làm giàu bản sắc Huế và đặt nền cho một hướng phát triển du lịch có trách nhiệm.
T.V.D
(TCSH450/08-2026)
-------------------------
1 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 5, bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 696.
2 Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc (1995), Nguyễn Phúc Tộc thế phả, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 304.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 9, bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 382 - 383.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam thực lục chính biên, Đệ lục kỷ Phụ biên, bản dịch của Cao Tự Thanh, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 269.
5 Trung tâm lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều vua Duy Tân, tập 8, tờ 79 - 80.
6 Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam thực lục chính biên, Đệ lục kỷ Phụ biên, Sđd, tr. 523.
7 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 6, bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 756.
8 Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam thực lục chính biên, Đệ lục kỷ Phụ biên, Sđd, tr. 470.
9 Tôn phả Phủ Hòa Thạnh Vương có ghi chép một vị tên Ưng Xán, song do mất sớm nên cần tiếp tục khảo cứu để xác định có phải là người được khắc trên bức hoành phi hay không.