ĐỖ MINH ĐIỀN
Giai đoạn trước năm 1945, giáo dục tư thục vận hành song song với hệ thống trường công lập. Tại Huế, trường tư ra đời từ rất sớm, nhưng chủ yếu là những cơ sở giáo dục do hội truyền giáo Công giáo xây dựng và quản lý.
Diện mạo giáo dục tư thục ở vùng đất Cố đô thay đổi mạnh mẽ vào đầu những năm 30, với sự xuất hiện của những ngôi trường do chính các quan lại và trí thức Nho - Tây học lập nên (như Trường Thuận Hóa, Phú Xuân, Hồ Đắc Hàm, Việt Anh…). Sự phát triển của mạng lưới này không chỉ khỏa lấp khoảng trống của hệ thống trường công, mà nó còn trở thành cái nôi đào tạo ra nhiều thế hệ trí thức cùng các nhà cách mạng lỗi lạc. Trong đó, Thuận Hóa học hiệu nổi lên như một biểu tượng giáo dục tiến bộ của giới trí thức đương thời. Tiếc rằng, cho đến nay, quá trình ra đời, thay đổi chủ sở hữu cũng như bộ máy tổ chức, quy chế học tập của ngôi trường này vẫn chưa được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu.
Quá trình hình thành Thuận Hóa học hiệu
Khi tiến hành khảo sát các công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Huế, có thể dễ dàng nhận thấy, lâu nay tồn tại một quan điểm khá phổ biến cho rằng: Thuận Hóa học hiệu (Institution Thuận Hóa) chào đời vào năm 1935 và Tôn Quang Phiệt là người thành lập ngôi trường này. Tuy nhiên, căn cứ một số nguồn tư liệu gốc, đặc biệt là các văn bản hành chính thời kỳ đó, cho phép chúng ta khẳng định, Trường Tư thục Thuận Hóa được thành lập theo Nghị định số 1992, do Khâm sứ Trung Kỳ phê chuẩn công nhận tư cách pháp nhân vào ngày 12/8/19331. Theo thông tin trên tờ Bulletin administratif de l’Annam, người đứng tên sáng lập Thuận Hóa học hiệu là ông Lê Văn Chương.
Thuận Hóa học hiệu ban đầu tọa lạc tại địa chỉ số 5 đường Dayot2 (nay là đường Trần Quang Khải), trường chỉ giảng dạy ở bậc Tiểu học, đến tháng 8 năm 1935, trường mở thêm ban Cao đẳng Tiểu học. Đến khoảng tháng 9 năm 1936, ông Lê Văn Chương nhượng quyền quản lý cho Tôn Quang Phiệt: “Trường Thuận Hóa do ông Lê Văn Chương sáng lập từ Août 1933. Đầu là một trường Tiểu học. Qua Août 1935, được phép mở thêm ban Cao đẳng Tiểu học. Đến đầu Septembre 1936, ông Chương, vì bận việc nhà, đã nhường trọn quyền lợi của trường lại cho một đoàn thể giáo viên. Từ đó, Thuận Hóa bắt đầu hoàn toàn tổ chức lại”3.
Vào ngày 01/9/1936, Hội đồng giáo viên có văn bản đề nghị cử ông Tôn Quang Phiệt đại diện trường tiếp quản, thay thế ông Lê Văn Chương. Hơn một tháng sau đó, Tôn Quang Phiệt chính thức nhậm chức Hiệu trưởng Trường Tư thục Thuận Hóa, còn Thủ quỹ là ông Trần Hữu Duẩn. Việc bổ nhiệm này được Khâm sứ Trung Kỳ chấp thuận theo quyết định ký ban hành vào ngày 26/10/1936. Có thể nói, Thuận Hóa học hiệu kể từ thời điểm này chính thức bước sang một trang mới và người góp công rất lớn trong việc tạo dựng tên tuổi của Trường Tư thục Thuận Hóa chính là Tôn Quang Phiệt.
Hầu hết các văn bản hành chính được công bố bởi chính quyền Đông Dương đều cho biết Tôn Quang Phiệt sinh ngày 04/11/19044, tại Võ Liệt, Nghệ An5. Lên 6 tuổi, ông bắt đầu học chữ Hán, 15 tuổi vào Trường Đốc học Vinh, rồi Trường Quốc học Vinh. Năm 1924, ông nhận bằng Thành chung và ra Hà Nội đăng ký học Trường Cao đẳng Sư phạm. Ngày 25/01/1925, ông cùng 16 sinh viên của trường (như Đặng Thai Mai, Phạm Thiều...) thành lập tổ chức Việt Nam Nghĩa đoàn. Tổ chức này đến ngày 14/7/1925 thống nhất với Hội Phục Việt của Lê Văn Huân, Trần Mộng Bạch ở Vinh, và Tôn Quang Phiệt được cử làm Hội trưởng Hội Phục Việt. Hội Phục Việt đổi tên thành Hội Hưng Nam (11/1925), rồi Việt Nam Cách mạng Đảng (1926), Việt Nam Cách mạng Đồng chí Hội (7/1927) và cuối cùng là Tân Việt Cách mạng Đảng (14/7/1928). Đây là một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 17/7/1926, Tôn Quang Phiệt cùng các hội viên Hội Phục Việt (Trần Phú, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng, Nguyễn Văn Lợi, Hoàng Tùng...) sang Quảng Châu (Trung Quốc) dưới sự tổ chức và dẫn đường của Lê Duy Điếm. Qua gần khỏi biên giới, ông bị mật thám Pháp bắt, nhưng sau đó do không đủ chứng cớ, người Pháp buộc phải trả tự do cho Tôn Quang Phiệt. Ngày 28/7/1929, Tôn Quang Phiệt cùng một số đồng chí trong Đảng Tân Việt bị bắt và kết án 7 năm tù khổ sai, 7 năm quản thúc theo bản án số 11 ngày 21/01/1930, đày đi Buôn Ma Thuột. Năm 1933, Tôn Quang Phiệt được trả tự do.
Ra tù, ông tham gia dạy học tại trường tư thục ở Vinh. Trường này do ông Phan Kiêm Huy thành lập theo Nghị định được Khâm sứ Trung Kỳ ký ban hành ngày 17/02/1934, với đội ngũ giáo viên cơ hữu ban đầu gồm có Tôn Quang Phiệt, Hoàng Đức Thi, Nguyễn Lê Thiện, Tôn Quang Duyệt6. Kế đó, ông vào Huế tiếp tục đi dạy tại Trường Phú Xuân, trường này do Cao Văn Chiểu (anh trai tướng Cao Văn Khánh) thành lập. Thời gian này, ông xuất bản cuốn sách Một ngày ngàn thu (Imprimerie Phúc Long, Huế, 1935). Cuốn sách này phác họa cuộc sống đọa đày chốn “địa ngục trần gian” tại các nhà lao: Móng Cái (Moncay), Hỏa Lò (Hà Nội), Vinh7. Đó là những nhà lao mà ông phải chịu đựng sự tàn bạo của chế độ thực dân, kể từ khi ông bị bắt tại Móng Cái ngày 17/7/1926 đến khi được trả tự do vào năm 1927. Đến tháng 9 năm 1936, Tôn Quang Phiệt tiếp nhận cơ sở Thuận Hóa học hiệu. Trong thời gian ở Huế, ngoài công tác quản lý, giảng dạy, Tôn Quang Phiệt còn tích cực tham gia thành lập Hội Truyền bá học Quốc ngữ (Association pour la diffusion du Quoc-ngu en Annam); Chủ bút của tờ báo Dân.
Cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất và trang thiết bị
Không giống như các trường tư thục khác, Trường Thuận Hóa do một Đoàn thể Giáo viên Tư thục (Association de Professeurs de l’Enseignement libre) trực tiếp điều hành. Chức danh Hiệu trưởng của trường được quyết định trên cơ sở đồng thuận đề cử của Đoàn thể giáo viên. Trường hoạt động theo nguyên tắc thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ. Mỗi vấn đề quan trọng đều phải được đưa ra thảo luận và biểu quyết tại các phiên họp. Mô hình tổ chức này sẽ hạn chế đáng kể tình trạng độc quyền theo kiểu “Hiệu trưởng chủ nhân”. Sau khi tiếp nhận cơ sở, từ năm 1936, trường tiến hành tái cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý, phân thành 3 bộ phận, cụ thể như sau:
- Ban Quản lý (Conseil d’administration): Phụ trách toàn bộ các công việc giao thiệp, giấy tờ, sổ sách hằng ngày.
- Ban Chuyên môn (Commission technique): Đảm nhận việc chọn sách giáo khoa, phân phối chương trình, nghiên cứu phương pháp giáo huấn, lựa chọn sách đưa vào phòng Đồ thư (thư viện) cho học trò đọc.
- Hội đồng giáo viên (Conseil des professeurs): Gồm có Hiệu trưởng và tất cả các giáo viên. Hội đồng giáo viên chịu trách nhiệm thảo luận, đưa ra các quyết nghị tất cả những vấn đề liên quan đến sự phát triển của trường và xem xét học lực, hạnh kiểm của học sinh.
Thuận Hóa học hiệu quy tụ một đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm và có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, như: Bùi Ái (giáo viên trường tư dạy từ năm 1925, giáo viên Trường Phú Xuân); Đào Duy Anh (tác giả cuốn Hán Việt từ điển); Trần Văn Các (Cao đẳng Sư phạm, giáo viên Trường Phú Xuân); Trần Đình Đàn (Cao đẳng Sư phạm, cựu giáo viên Trường Trung học Vinh, Trường Hồ Đắc Hàm); Phan Đạm (Tú tài bản xứ, cựu giáo viên Trường Phú Xuân, Trường Hồ Đắc Hàm); Nguyễn Đức Nguyên (Tú tài, giáo viên Trường Phú Xuân); Tôn Quang Phiệt (cựu sinh viên Cao đẳng Sư phạm, cựu giáo viên Trường Phan Kim Huy, Trường Phú Xuân); Hoàng Tăng (Tú tài bản xứ, cựu giáo viên Trường Hồ Đắc Hàm); Nguyễn Doãn Thám (Tú tài); Trần Hữu Duẩn (Cao đẳng Tiểu học, cựu giáo viên Trường Quốc học, Trường Chaigneau, Trường Hồ Đắc Hàm, chuyên dạy Lớp Nhứt). Ngoài ra, trường còn có sự góp mặt của một số giáo viên có thâm niên công tác tại các trường tư thục như Lê Trọng Bật, Ngô Hữu Yên, Lê Thị Biên.
Trường Thuận Hóa gồm có 2 cơ sở giảng dạy. Cơ sở đầu tiên tọa lạc tại số nhà 17 - 29, đường Dayot (nay là đường Trần Quang Khải) và cơ sở 2 tại số nhà 58 - 60, đường Jules Ferry (nay là đường Lê Lợi). Cả hai cơ sở này được bố trí các lớp theo 2 ban tương ứng, đó là Tiểu học và Cao đẳng Tiểu học. Cụ thể:
- Từ lớp Năm đến lớp Nhì (annexe Thuận Hóa) ở đường Jules Ferry (trước sở Musique de la Garde Indigène).
- Lớp Nhứt và các lớp Cao đẳng Tiểu học ở dãy 12 gian nằm trên đường Dayot (trường xây mặt hướng về Sân Vận động).
Theo Nghị định số 1833, ngày 17/6/1938, vào thời điểm đó, quy mô và số lượng phòng học tại 2 cơ sở được quy định như sau: Cơ sở tại địa chỉ số 17 - 29, đường Dayot gồm có 6 phòng học, mỗi phòng rộng 8,60m x 5m, sức chứa 43 học sinh. Cơ sở tại địa chỉ số 58 - 60, đường Jules Ferry: 2 phòng học, mỗi phòng rộng 4,3m x 7,5m, sức chứa 32 học sinh; 1 phòng học có diện tích 4,3m x 5,2m, sức chứa 22 học sinh. Như vậy, tổng cộng Trường Thuận Hóa có 9 phòng học với sức chứa tối đa là 344 học sinh8.
Đến năm 1940, trong một quyết định được ban hành vào ngày 01/9/1940, Trường Thuận Hóa lúc này chỉ còn sử dụng 1 cơ sở tại địa chỉ số 17 - 35, đường Dayot. Vị trí xây dựng của Trường Thuận Hóa lúc bấy giờ nằm trên khu vực Xóm Chuối, cổng chính của trường hướng về Sân Vận động: “ngó mặt về cánh đồng và Sân Vận động (Stade Olympique) là một nơi thanh tịnh, lại thêm lớp học có trần (plafond) mát mẻ, rộng rãi một bề 5, một bề 9 thước Tây, thật là một trường đủ điều kiện cho học sinh học tập mau tấn tới”9.
Cũng trong quyết định này, số lượng phòng học và số lượng học sinh tối đa được quy định như sau: Đối với bậc Tiểu học gồm có 2 phòng học, có kích thước 8,60m x 5,00m, mỗi phòng có sức chứa 53 học sinh, tổng cộng có 106 học sinh. Đối với bậc Cao đẳng Tiểu học gồm có 8 phòng học, mỗi phòng có diện tích 8,60m x 5,00m, sức chứa 43 học sinh, tổng cộng 344 học sinh. Như vậy, tổng cộng cơ sở này có 10 phòng, với sức chứa tối đa 450 học sinh10.
Trường Thuận Hóa trang bị khá đầy đủ hệ thống thiết bị, công cụ phục vụ trực tiếp cho công tác dạy học và nghiên cứu của giáo viên, học sinh. Trường có 1 phòng Thí nghiệm, với các loại khí cụ thí nghiệm về Vật lý, Hóa học, Tự nhiên học và 1 phòng Đồ thư với hơn 200 quyển sách, cùng đầy đủ các loại bản đồ. Theo quy định, Ban Chuyên môn phụ trách tuyển lựa sách báo (sách giáo khoa, sách tham khảo, báo, tạp chí), sau đó đưa danh sách ra Hội đồng giáo viên duyệt định trước khi nhập vào phòng Đồ thư. Mỗi tuần 2 lần, học sinh được phép trả sách và mượn sách.
Quy chế về nhập học, học phí và học bổng
Hằng năm, Trường Thuận Hóa ấn định ngày khai giảng vào ngày 01/9. Về thủ tục xin vào học, theo quy định gồm có: 1 đơn Nhập học (demande d’admission), đơn này do trường phát, sau đó học sinh, cha mẹ hoặc người đỡ đầu khai rõ các thông tin và ký tên; 1 giấy Khai sinh (acte de naissance) và 1 Chứng chỉ (attestation scolaire), xin vào học từ Đệ nhị niên trở lên thì nộp học bạ (livret scolaire). Đối với học phí sẽ nộp theo mỗi tháng (xem bảng). Trường hợp 2 anh em ruột trở lên cùng học 1 trường được giảm 10%, em ruột các giáo viên của trường giảm 75% và con của các giáo viên đang giảng dạy tại trường miễn toàn bộ học phí.
Với mục đích hỗ trợ cho các học sinh nghèo học giỏi, chăm học tiếp tục theo đuổi sự nghiệp “đèn sách”, từ tháng 9 năm 1936, trường bắt đầu mở ra Kỳ thi học bổng (Concours de Bourses). Kết quả trong kỳ thi này có tất cả 7 học sinh được cấp học bổng: Hà Kỳ Chử (Quảng Nam, trước học Nhứt niên Trường Phú Xuân); Thái Bá Ngọ (Nghệ An, học sinh Nhứt niên Trường Thuận Hóa); Nguyễn Đình Nghệ (Hà Tĩnh, trước học Trường Hà Tĩnh); Trần Văn Huyền (Nghệ An, trước học Trường Diễn Châu); Lê Nhất (Quảng Nam, trước học Nhứt niên Trường Hồ Đắc Hàm); Trần Hậu Tư (Hà Tĩnh, trước học Trường Chaigneau); Lê Bích Hà (Quảng Bình, trước học Trường Faifoo, Hội An).
Bắt đầu từ niên khóa 1937 - 1938, trường ban hành thể lệ thi học bổng. Mỗi năm, vào kỳ khai giảng, khoảng hạ tuần tháng 9, trường mở một kỳ thi học bổng cho học sinh tất cả các lớp từ Nhứt niên đến Tứ niên để khuyến khích những học trò nghèo, học giỏi. Trường ấn định tỷ lệ, cứ 30 học sinh thì cấp 3 suất học bổng (một toàn phần và hai bán phần). Học bổng toàn phần mỗi năm được quy định: Nhất niên 30$00, Nhị niên 35$00, Tam niên 40$00 và Tứ niên 45$00.
Học sinh đăng ký xin dự thi phải nộp đầy đủ các giấy tờ sau:
+ Một đơn xin thi học bổng. Đơn có cha mẹ hay người đỡ đầu ký, ghi rõ họ tên, ngày sinh, quê quán, trước học trường nào, tên họ cha mẹ, nghề nghiệp, chức tước cùng chỗ ở hiện tại của thân phụ hoặc người đỡ đầu.
+ Một giấy Khai sinh. Nếu có Lý trưởng ký, đóng triện và demande d’inscription thì không phải nộp giấy khai sinh.
+ Một giấy Chứng chỉ (Attestation scolaire) hay bản sao bằng Tiểu học (copie conforme du C. E. P.). Thí sinh vào từ Nhị niên trở lên phải nộp học bạ (livret scolaire) không cần giấy khai sinh.
Tất cả thí sinh tham dự thi phải trải qua 2 phần thi: Môn viết và Vấn đáp (môn hỏi). Đối với môn viết, các thí sinh thi 1 bài luận Pháp văn, 2 bài tính đố và 1 bài luận Quốc văn. Môn hỏi gồm phần Tập đọc, Giải nghĩa và Tính toán học.
Trong mỗi kỳ thi, trường lập một Hội đồng Khảo thí Học bổng, gồm có Hiệu trưởng, các giáo viên ban Cao đẳng Tiểu học và ít nhất là 2 phụ huynh. Hội đồng tiến hành làm biên bản, tuyên bố kết quả rộng rãi và niêm yết kết quả của các thí sinh tại trường. Trong trường hợp các học sinh nhận học bổng mà giữa chừng xét thấy không chăm chỉ học, hạnh kiểm không tốt, thì đưa ra Hội đồng giáo viên xét lại. Nếu vi phạm nghiêm trọng các quy định về học lực và hạnh kiểm, hội đồng sẽ ban hành quyết định truất học bổng.
Về thành tích học tập, theo kết quả11 công bố của trường trong kỳ thi Tiểu học, niên khóa 1936 - 1937 (thi tại Centre Gia Hội) có tất cả 505 học sinh tham dự, đậu 209 (41%), phần Trường Thuận Hóa tham dự 55, đậu 37 (67%). Thi Yếu lược Centre Chaigneau tham dự 21, đậu 21. Thi vào Lycée Khải Định tham dự 16, đậu 12. Ở bậc Cao đẳng Tiểu học, vào năm 1939, Trường Thuận Hóa đậu 7 học sinh, 10 học sinh vào năm 1940 và 25 học sinh vào năm 194112. Có thể nói rằng, số lượng đậu của trường Thuận Hóa qua các năm chiếm tỉ lệ khá cao so với các trường tư thục khác ở Huế lúc đó.
Đóng góp của Thuận Hóa học hiệu
Thuận Hóa học hiệu dưới thời Tôn Quang Phiệt làm Hiệu trưởng từng bước thiết lập một mô hình quản lý rất đặc biệt. Trường hoạt động dựa trên nguyên tắc tập thể, tất cả những vấn đề về công tác tổ chức, nhân sự, chương trình, kế hoạch giảng dạy, thiết bị, cơ sở vật chất và tài chính đều phải thảo luận công khai. Mọi quyết nghị chỉ có hiệu lực khi đạt được sự nhất trí cao từ toàn bộ thành viên trong Đoàn thể Giáo viên. Xét trong hệ thống giáo dục tư thục đương thời, Đoàn thể Giáo viên Tư thục được đánh giá là một thiết chế quản trị “độc quyền”. Cấu trúc tổ chức này được ghi nhận duy nhất hiện diện tại Trường Tư thục Thuận Hóa.
Với 12 năm tồn tại (1933 - 1945), Trường Tư thục Thuận Hóa trước sau theo đuổi mục đích: dạy và học vì một tương lai bền vững. Ngôi trường này góp công rất lớn trong việc truyền đạt kiến thức, kỹ năng và giáo dục cho học sinh. Trở thành cơ sở đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và phẩm chất đạo đức cho rất nhiều thế hệ trẻ, góp phần kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Rất nhiều trí thức, nhà khoa học nổi tiếng, cùng những nhà cách mạng lỗi lạc của Việt Nam sau này trưởng thành từ môi trường Thuận Hóa học hiệu.
Đ.M.Đ
(TCSH452/10-2026)
---------------------
1 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1933 - N0 15 (18 septembre 1933), p. 1364.
2 Bulletin administratif de l’Annam, Sđd, p.1364.
3 Thuận Hóa học hiệu, Học sinh nghỉ hè, Imprimerie Tiếng Dân, Huế, 1937, tr. 9.
4 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1938 - N0 12, p. 862; Bulletin administratif de l’Annam, Année 1940 - N0 17 (25 septembre 1940), p. 1957.
5 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1923 - N0 10, p. 616.
6 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1934 - N0 4, p. 240.
7 Tôn Quang Phiệt, Một ngày ngàn thu, Imprimerie Phúc Long, Huế, 1935, tr. 3-39.
8 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1938 - N0 12, p. 862.
9 Thuận Hóa học hiệu, Học sinh nghỉ hè, Sđd, tr. 19.
10 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1940 - N0 17 (25 septembre 1940), p. 1957-1958.
11 Báo Sông Hương, Thuận Hóa học hiệu, số 8 (26/8/1937), tr. 4.
12 Báo Tràng An, Kết quả các kỳ thi năm 1941 của Trường Thuận Hóa (Huế), số 770 (13/6/1941), tr. 2.