NAM GIAO
Lễ hội điện Huệ Nam (còn gọi là lễ hội điện Hòn Chén) là sinh hoạt văn hóa tâm linh tiêu biểu của Huế, được tổ chức vào hai kỳ tháng Ba và tháng Bảy âm lịch, thu hút đông đảo cộng đồng thực hành tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu, người dân và du khách.
Năm 2024, lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể. Điểm nhấn của kỳ lễ tháng Ba là lễ rước cung nghinh Thánh Mẫu và Hội đồng Tứ phủ trên đường phố Huế, rồi theo sông Hương đến điện Huệ Nam, tạo nên không gian rực rỡ nhưng vẫn trang nghiêm, thành kính.
Trong nhận thức của nhiều thế hệ người Huế, hai kỳ lễ hội điện Huệ Nam vào tháng Ba và tháng Bảy âm lịch thường được xem là những sinh hoạt tín ngưỡng có từ lâu đời. Tuy nhiên, các nguồn tư liệu hiện còn cho thấy hai kỳ lễ được hình thành trong những thời điểm và bối cảnh khác nhau. Kỳ lễ tháng Bảy vốn gắn với Thu tế truyền thống của làng Hải Cát; trong khi lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba ra đời muộn hơn, vào đầu thế kỷ XX. Sự xuất hiện của lễ rước tháng Ba đánh dấu bước phát triển mới của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế, từ sinh hoạt gắn với một cộng đồng làng xã từng bước mở rộng thành hoạt động chung, thu hút đông đảo người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và người dân đô thị tham gia.
Việc xác định thời điểm ra đời và những người khởi xướng lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba không chỉ góp phần bổ sung khoảng trống trong lịch sử hình thành lễ hội điện Huệ Nam mà còn làm sáng tỏ vai trò của điện Phước Linh cùng vợ chồng ông Phạm Đình Quý (1877 - 1957) và bà Hồ Thị Đinh (1877 - 1952) trong quá trình khởi xướng và tổ chức lễ rước. Trên cơ sở đối chiếu sử liệu triều Nguyễn, báo chí đương thời và các dấu tích kiến trúc còn lại, bài viết lần theo những dấu xưa để nhận diện nguồn gốc lịch sử và quá trình hình thành lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba trong lễ hội điện Huệ Nam.
1. Từ điện Huệ Nam đến nhu cầu hình thành lễ vía tháng Ba
Đạo Mẫu vốn đã xuất hiện từ lâu trong đời sống người Huế, nhưng đạt tới sự phát triển hưng thịnh dưới triều vua Đồng Khánh. Vua là một người rất tôn sùng đạo Mẫu, thậm chí bậc thiên tử này còn hạ mình xuống làm đệ tử của Mẫu. Cùng với đó, dưới thời trị vì của vua Đồng Khánh, trước bi kịch của triều chính và sự thao túng của Pháp lại càng khiến cho nhà vua có niềm tin mãnh liệt về sự linh ứng nhiệm màu của Thánh Mẫu. Sau khi lên ngôi, vào năm 1886 vua Ðồng Khánh liền cho trùng tu, tôn tạo đền Ngọc Trản một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ phụng và đổi tên thành Huệ Nam điện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu. Sự kiện này đã được ghi lại trong sách Đại Nam thực lục như sau: “Vua khi còn ẩn náu, thường chơi xem ở núi ấy, mỗi khi đến đền cầu khẩn, phần nhiều có ứng nghiệm. Đến nay, vua phê bảo rằng: Đền Ngọc Trản thực là núi tiên nữ linh sơn sáng đẹp muôn đời, trông rõ là hình thế như con sư tử uống nước sông, quả là nơi chân cảnh thần tiên. Đền ấy nhờ được linh khí đắc nhất, cứu người, độ đời; giáng cho phúc lộc hàng muôn, giúp dân giữ nước; vậy cho đổi đền ấy làm điện Huệ Nam, để biểu hiện ơn nước một phần trong muôn phần. Rồi chuẩn cho bộ Công chế làm biển ngạch treo lên đền (4 bề chạm rồng, giữa khắc chữ to: Huệ Nam điện, bên trên khắc chữ ngự chế, bên dưới khắc niên hiệu)”1. Cùng với việc phong thánh cho mình, vua Đồng Khánh đã sắc phong thượng đẳng thần cho Thánh mẫu Thiên Y A Na, và trung đẳng thần cho các Chư vị khác. Đồng thời, nhà vua cho phép đưa nghi lễ cúng tế tại điện Huệ Nam vào hàng đại tự của triều đình nhà Nguyễn.
Sự bảo trợ của vua Đồng Khánh là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử điện Huệ Nam. Việc đổi tên đền Ngọc Trản, tu bổ điện, ban biển ngạch, gia phong thần hiệu và đưa nghi lễ vào hệ thống tế tự của triều đình đã nâng vị thế của cơ sở thờ tự này vượt ra ngoài phạm vi một địa điểm tín ngưỡng địa phương. Trong môi trường văn hóa Kinh đô, sự thừa nhận của vương triều còn tạo điều kiện để các thành viên hoàng tộc, quan lại và cư dân địa phương tham gia phụng thờ. Từ đây, điện Huệ Nam trở thành điểm hội tụ đặc biệt giữa tín ngưỡng dân gian, nghi thức cung đình và đời sống tâm linh của cộng đồng xứ Huế.
Lễ tháng Bảy vốn bắt nguồn từ trách nhiệm tế tự của làng Hải Cát. Cấu trúc nghi lễ vì thế mang dấu ấn của một lễ hội làng: có chủ thể cộng đồng tương đối rõ, có lệ cung nghinh Thánh Mẫu và Hội đồng Tứ phủ lên dự lễ tế tại đình làng Hải Cát và hồi loan về điện Huệ Nam. Trong khi đó, lễ tháng Ba hướng đến một cộng đồng rộng hơn, không bị giới hạn bởi địa vực hành chính của làng. Sự khác biệt về chủ thể đã dẫn tới sự khác biệt về cách tổ chức. Đoàn rước tháng Ba đi qua không gian đô thị rồi theo sông Hương lên điện Huệ Nam, kết nối am điện, hội quán, bến thuyền và trung tâm thờ tự, qua đó tạo thành một mạng lưới nghi lễ vượt khỏi ranh giới làng xã.
Từ đầu thế kỷ XX, trong hành lang pháp lý của chính phủ Bảo hộ và chính quyền Nam triều, một số hội đoàn lần lượt ra đời tại Kinh đô Huế. Việc hình thành các hội đoàn này đã góp phần tác động mạnh mẽ đến nhận thức của những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung nói chung và xứ Huế nói riêng. Từ đó nảy sinh nhu cầu thành lập một hội đoàn trên tinh thần tự nguyện, với mục đích đoàn kết phụng sự Thánh Mẫu. Sau một thời gian vận động, với sự hỗ trợ và tán dương tích cực của Trợ Quốc khanh Ưng Lê và một số thành viên chủ chốt khác như Hương công Bửu Bành, Tá Quốc khanh Bửu Tường, Bửu Hiện, Tôn Thất Trị, Phạm Đình Quý, Hoàng Trọng Huề, Hoàng Cán (tức Giám Hưu)…, một hội mang tên “Sơn Nam phổ” được thành lập. Căn cứ bản Tấu của Bộ Lại “về việc xin cho hội Sơn Nam phổ được thành lập”, thì Sơn Nam phổ được vua Bảo Đại và Khâm sứ chuẩn y, cho phép hoạt động vào năm 1944.
Tháng 1 năm 1945, Sơn Nam phổ (còn gọi là Hội Sơn Nam) tổ chức phiên họp ra mắt đầu tiên tại điện Phước Linh, công bố Chương trình và bầu Ban Trị sự. Trong buổi họp này, Trợ Quốc khanh Ưng Lê được tín nhiệm bầu giữ chức Phổ trưởng. Sau một thời gian hoạt động, Hội Sơn Nam nhận thấy phải tổ chức thảo luận để xin đổi danh xưng và điều chỉnh lại bản điều lệ cho phù hợp với bối cảnh xã hội mới. Kết quả, Hội Sơn Nam đã đệ trình lên nhà cầm quyền đơn xin đổi danh hiệu và sửa đổi điều lệ vào ngày 18/5/1953. Sau khi xem xét, Phủ Thủ hiến Trung Việt đã ban hành Nghị định số 1981-NĐ/PC ngày 19/9/1953 cho phép Hội Sơn Nam đổi tên thành Hội Thiên tiên Thánh giáo Trung Việt, có trụ sở tại điện Phước Linh, phạm vi hoạt động là miền Trung của Việt Nam.
Đến tháng 10 năm 1953, Hội Thiên tiên Thánh giáo tổ chức kỳ họp Đại hội đồng để bầu Ban Trị sự Hội nhiệm kỳ đầu tiên, và cụ Ưng Lê được bầu làm Chánh Hội trưởng (sau này gọi là Tổng Hội trưởng). Lúc này, cụ Ưng Lê đã chuyển trụ sở Hội Thiên tiên Thánh giáo từ điện Phước Linh đến một ngôi điện thờ Mẫu nằm trong khuôn viên phủ An Phước Quận vương (nay thuộc đường Nguyễn Du, phường Phú Xuân, thành phố Huế).
Từ năm 1968, cụ Ưng Lê cùng Tổng Hội trưởng Phan Ngọc Đạm điều hành việc xây dựng Thánh đường và Tổng Hội quán tại địa chỉ số 252 đường Chi Lăng, phường Phú Mỹ (nay thuộc địa chỉ số 352 đường Chi Lăng, phường Phú Xuân, thành phố Huế). Sau khi Thánh đường Hội Thiên tiên Thánh giáo được xây dựng hoàn thành vào cuối năm 1969 thì Ban Trị sự Hội chuyển trụ sở từ phủ An Phước Quận vương đến Thánh đường 252 Chi Lăng. Thánh đường này là nơi thờ Thánh Mẫu với những hoạt động nghi lễ, tế tự, nghinh rước theo đặc trưng truyền thống thờ Mẫu Tứ phủ ở Huế.
Trong giai đoạn trước năm 1960, điện Phước Linh là điểm xuất phát của lễ hội rước Thánh Mẫu từ điện Phước Linh đến điện Huệ Nam vào tháng 3 âm lịch với quy mô lớn, thu hút hàng trăm người tham gia. Lễ hội được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1939. Trước khi kỳ lễ tháng Ba hình thành, lễ hội điện Huệ Nam do dân làng Hải Cát tổ chức vào tháng Bảy âm lịch. Lễ tế được tổ chức rất long trọng. Trước ngày Chánh tế, dân làng tổ chức lễ rước Thánh Mẫu từ điện Huệ Nam về đình làng; sau lễ lại rước Thánh Mẫu về điện Huệ Nam. Từ sau năm 1939, mỗi năm có hai lễ vía quan trọng tổ chức tại điện Huệ Nam: lễ vía húy nhật đức Vân Hương Thánh Mẫu (dân gian gọi là vía Mẹ) vào ngày 3 tháng 3 âm lịch và ngày lễ Thu tế điện Huệ Nam vào hai ngày tốt trong thượng tuần tháng 7 âm lịch.
Trong quá trình ấy, điện Phước Linh giữ vai trò như một đầu mối ban đầu. Đây không chỉ là nơi thờ tự mà còn là không gian tập hợp người tham gia, chuẩn bị đồ nghi trượng, phân công các đạo rước và tổ chức các cuộc họp. Khi một lễ rước có quy mô hàng trăm người được hình thành, yêu cầu về tổ chức trở nên rất phức tạp: phải thống nhất ngày giờ, sắp xếp thứ tự tiền đạo, trung đạo, hậu đạo, huy động người khiêng kiệu, người cầm cờ, các ban nhạc, đội đồng nữ hiến hoa, thuyền và bến đỗ. Sự hiện diện của một hội đoàn cùng một cơ sở trung tâm là điều kiện quan trọng để nghi lễ có thể diễn ra đều đặn và tạo thành truyền thống.
2. Dấu mốc năm 1939 và những người khởi xướng
Kỳ lễ tháng Ba diễn ra trong ba ngày, kết hợp nghi thức đường bộ và đường thủy. Ngày mồng Một, đoàn rước Thánh Mẫu đi qua các tuyến phố chính của Huế. Ngày mồng Hai, đoàn từ điện Phước Linh xuống thuyền, theo sông Hương lên điện Huệ Nam; những chiếc bằng kết từ nhiều thuyền chở hương án, cờ phướn, hoa và đèn, tạo nên một không gian vừa rực rỡ vừa trang nghiêm. Ngày mồng Ba, đoàn cung nghinh Thánh Mẫu trở về điện Phước Linh làm lễ tạ. Báo Tràng An đã mô tả lại quá trình chuẩn bị lễ hội rước Thánh Mẫu từ điện Phước Linh đến điện Huệ Nam như sau: “Bà con xa gần ở Huế ai cũng công nhận đền thờ Thánh Mẫu ở điện Hòn Chén là đệ nhất linh từ ở đất Thần kinh, lâu nay ở làng Hải Cát hễ đến tháng Bảy thì cử hành trọng lễ. Hết thảy thiện nam tín nữ ở Huế đều tới cung chiêm lễ bái, “ngựa xe như nước áo quần như nêm”, thật là một ngày lễ rất long trọng, rất náo nhiệt mà năm nào chúng ta cũng thường thấy. Nay hai ông bà quan Hường Phạm Đình Quý thành tâm với việc Phật Thánh đã nhiều phen khó nhọc mới lập lên được phổ gọi là ‘Thiên Y Phổ Tế’ tại Linh Điện Am để xướng lên lấy ngày mồng Ba tháng Ba là ngày Đức Thánh Mẫu giáng sanh lần thứ nhất làm ngày lễ chung cho tất cả thiện nam tín nữ ở Huế còn ngày lễ tháng Bảy thì chỉ để riêng cho làng Hải Cát. Tất cả hội thiện ai cũng hưởng ứng theo, rất đông. Đã bắt đầu tháng ba sắp tới đây. Chương trình nghi tiết như sau: Ngày một tháng ba. Buổi mai 9 giờ một đoàn đi đò từ Linh Điện Am (gần Phủ đức ông Tuyên Hóa) qua sông Hương rước sắc tại Phủ. Chiều 2 giờ hết thảy thiện nam tín nữ dàn đồ thần, đi theo Đạo rước Thánh mẫu, khởi hành từ Linh Điện Am, đi theo con đường Paul Bert, đường Gia Long, đường Ecole, quai Đông Ba rồi trở về đường Paul Bert, để về Hội quán. Ngày mồng hai - 7 giờ sáng đạo ngự Thánh Mẫu đi từ hội quán lên Kim Luông (trước nhà ông Hường Quý) hầu đạo Thánh xuống các Bằng, thuyền rồi theo sông Hương mà lên điện Huệ Nam. Đến tối từ 7 giờ đến 9 giờ làm lễ Thánh Mẫu tại Điện Huệ Nam. Ngày mồng ba - 5 giờ sáng hầu Đạo Thánh xuống trở về ghé lại bến Kim Luông (trước nhà ông Hường Quý) rồi hầu đi bộ về Hội quán, làm lễ tạ. Khi đó độ 3 giờ chiều thì thiện nam tín nữ mới giải tán. Còn cách sắp đặt đạo rước Thánh Mẫu như sau: 1. Tiền Đạo: 1 cái hương án; 2. Trung Đạo: 1 cái long đình, 1 cái liễn; 3. Hậu Đạo: 1 cái phụng liễn (kiệu của Thánh Mẫu) và một cái vọng hầu. Có các bà đi theo hộ giá, hai bên tả hữu đạo Thánh có thiện nam tín nữ đi cầm cờ, lỗ bộ, quạt lông, phủ phất, đại chung cỗ. Có 3 bộ bát âm đánh nhạc từ tiền đạo chí hậu đạo. Có 2 ban nam nữ đồng ấu đi theo chầu Thánh Mẫu và hát Thài chúc Thánh Mẫu. Có một ban đồng nữ hầu hiến hoa đi theo kiệu Thánh Mẫu. Có 40 hầu gánh kiệu Thánh Mẫu tức là Phụng liễn. Có 8 bà hầu gánh võng hầu Thánh Mẫu. Còn long đình và long liễn và hương án thì toàn đàn ông gánh hầu. Tiền đạo đi hầu: đàn ông. Trung đạo đi hầu: đàn ông. Hậu đạo đi hầu: đàn bà”2.
![]() |
| Lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba trước năm 1975 |
Bài báo Tràng An là nguồn tư liệu đặc biệt quan trọng bởi được công bố ngay trước kỳ lễ, mô tả sự kiện như một hoạt động mới sắp diễn ra chứ không phải hồi ức được ghi lại nhiều thập niên sau. Tư liệu nêu rõ tên hai người vận động, tên phổ, địa điểm xuất phát, lý do chọn ngày mồng Ba tháng Ba và sự phân định với lễ tháng Bảy của làng Hải Cát. Đồng thời, chương trình ba ngày được ghi cụ thể đến từng giờ, từng tuyến đường, từng thành phần của đoàn rước. Những dữ kiện ấy tạo cơ sở vững chắc để xác định năm 1939 là mốc mở đầu của lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba tại Huế.
Thứ tự tiền đạo, trung đạo và hậu đạo phản ánh tính quy củ của đoàn rước. Hương án đi trước mở đường cho không gian thiêng; long đình, liễn và phụng liễn giữ vị trí trung tâm; các ban bát âm, đội đồng ấu, đồng nữ hiến hoa cùng những người cầm cờ, lỗ bộ, quạt lông và phủ phất tạo thành hệ thống phụ trợ. Sự phân công nam giới đảm trách tiền đạo, trung đạo và phụ nữ tham gia hậu đạo, gánh phụng liễn, võng hầu cho thấy dấu ấn giới trong tổ chức nghi lễ. Đáng chú ý, phụ nữ không chỉ là người dự hội mà còn đảm nhận những vị trí trực tiếp gần kiệu Thánh Mẫu, thể hiện vai trò nổi bật của họ trong cộng đồng thờ Mẫu.
Từ các thông tin hiện có, vai trò của ông Phạm Đình Quý và bà Hồ Thị Đinh cần được nhìn nhận ở ba phương diện. Trước hết, hai ông bà là những người vận động xây dựng một cơ sở thờ tự làm điểm quy tụ cộng đồng. Tiếp đó, họ góp phần lập Thiên Y Phổ Tế, tạo nền tảng tổ chức cho hoạt động chung. Quan trọng hơn, họ đề xướng chọn ngày vía tháng Ba làm ngày lễ chung và trực tiếp chuẩn bị cuộc rước đầu tiên. Sáng kiến ấy không phủ nhận hay thay thế lệ tế tháng Bảy của làng Hải Cát, mà bổ sung một kỳ lễ dành cho cộng đồng thực hành tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu rộng lớn hơn. Chính cách ứng xử hài hòa này giúp truyền thống mới được cộng đồng đón nhận.
![]() |
| Chân dung ông Phạm Đình Quý (1877 - 1957) và bà Hồ Thị Đinh (1877 - 1952) |
Những mô tả trên cho thấy, điện Phước Linh đã có một thời kỳ phát triển rất hưng thịnh, là nơi cầu đảo linh ứng, quy tụ nhiều con nhang đệ tử đến chiêm bái, hầu đồng. Nhờ vị thế ấy, dưới thời vua Bảo Đại, điện Phước Linh được triều đình ban sắc tứ. Cùng với điện Huệ Nam từng được vua Đồng Khánh ban sắc tứ, điện Phước Linh là một trong số ít điện thờ Mẫu và chư vị nhận được ân điển đặc biệt của triều đình. Sau nhiều biến động lịch sử, ngôi Phước Linh điện có quy mô bề thế một thời đến nay chỉ còn là một gian phòng nhỏ giữa bốn bề nhà dân (ở kiệt số 11 đường Trần Hưng Đạo, phường Phú Xuân, thành phố Huế), dấu tích xưa là hệ thống hoành phi, câu đối, tượng, đồ thờ và hai chiếc cổng vòm cổ đầu ngõ.
3. Điện Phước Linh và những dấu tích còn lại
Từ cầu Trường Tiền, đi dọc tuyến phố Trần Hưng Đạo đến cầu Phú Xuân, có thể nhìn thấy hai chiếc cổng bằng gạch theo kiến trúc xưa. Đó là dấu tích còn sót lại từ hệ thống cổng ngõ của ngôi điện Phước Linh vang bóng một thời. Điện Phước Linh từng tọa lạc ở một vị trí đáng chú ý, ngay mặt tiền Kinh thành Huế; được xây dựng dưới thời vua Bảo Đại, trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ dẫn đến mọi luật lệ được quy định từ các vị vua đầu triều Nguyễn đã trở nên lơi lỏng. Phạm vi vùng cấm nghiêm ngặt của khu vực phòng vệ Kinh thành Huế đã không còn được thực thi một cách triệt để nên việc cho phép xây dựng điện Phước Linh ở vị trí trước mặt Kinh thành Huế phản ánh những thay đổi trong quản lý không gian đô thị lúc bấy giờ.
Qua nghiên cứu khảo sát cho thấy, vị trí xây dựng điện Phước Linh vốn là nền của một ngôi miếu nhỏ. Điều này đã được tác giả L. Cadière nhắc đến trong công trình nghiên cứu “Kinh thành Huế: Địa danh” của tác giả đăng trên Bulletin des amis du vieux Hué, 1933 (Tập san Những người bạn Cố đô Huế). Học giả L. Cadière đã định danh bằng chữ số “289: Đền thờ của thần khác nhau”3. Đến khoảng năm 1935, hai vợ chồng ông Phạm Đình Quý và bà Hồ Thị Đinh đứng ra làm hội chủ, vận động những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu phát tâm công đức bằng tịnh tài, tịnh vật, tịnh lực xây dựng điện Phước Linh và sinh hoạt trong phổ gọi là “Thiên Y Phổ Tế”. Có thể thấy, điện Phước Linh được xây dựng trên nền một cơ sở thờ tự tín ngưỡng đã có từ trước đó. Điện Phước Linh tọa lạc ngay bên cạnh phủ Tuyên Hóa Vương4.
Đặt điện Phước Linh trong bản đồ lịch sử đô thị Huế cho thấy cơ sở này từng đóng ở một vị trí thuận lợi: ở mặt tiền Kinh thành, gần các tuyến phố buôn bán, gần sông Hương và không xa bến để đoàn rước chuyển tiếp từ đường bộ xuống đường thủy. Vị trí ấy giúp tập hợp cộng đồng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu từ nhiều khu vực, đồng thời tạo điều kiện để đoàn rước đi qua những không gian đông người. Hai cổng gạch còn lại vì vậy không chỉ là chứng tích kiến trúc, mà còn là dấu ấn vật chất của điện Phước Linh - điểm khởi đầu từng kết nối đô thị Huế với điện Huệ Nam trong hành trình lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba5.
Sau năm 1975, hoạt động thờ Mẫu và hầu đồng gặp nhiều hạn chế vì bị coi là mê tín dị đoan. Nhiều di sản vật thể của tín ngưỡng thờ Mẫu như đền, phủ đã bị phá hủy, trưng thu vào nhiều mục đích khác nhau, nhiều người cho rằng cần xóa bỏ tất cả những gì là văn hóa thuộc chế độ quân chủ vì nó là lạc hậu, đi ngược lại và ảnh hưởng không tốt đến nền văn hóa đương đại. Trong bối cảnh ấy, điện Phước Linh cũng chịu nhiều biến động, điện bị trưng dụng để làm cơ sở hoạt động của Hợp tác xã cơ khí Phú Hòa. Sau khi Hợp tác xã cơ khí Phú Hòa giải thể, khoảng năm 1994, phần lớn kiến trúc điện Phước Linh bị phá dỡ để lấy mặt bằng cho thuê kinh doanh mặt phố đường Trần Hưng Đạo.
Theo lời kể của ông Châu Chí Quảng6, trước đây điện Phước Linh bao gồm các hạng mục kiến trúc như: cổng, điện thờ, nhà tả vu và hữu vu, am ông Hổ... Trong đó, kiến trúc chính là ngôi điện gồm ba tòa nhà, mỗi tòa ba gian nằm ngang tạo thành tiền điện, chính điện và hậu điện. Hai bên điện thờ này là hai dãy nhà nằm dọc. Xung quanh điện Phước Linh ít người sinh sống bởi vì người Huế rất e ngại sống ở gần nơi có đền miếu. Hiện nay, cổng chính, tiền điện và chính điện Phước Linh đã bị phá hủy, chỉ còn lại phần hậu điện trở thành chức năng điện thờ chính. Nhìn bề ngoài kiến trúc điện Phước Linh hiện nay có quy mô nhỏ, khiêm tốn nhưng bên trong trưng bày, tôn trí một hệ thống tượng thờ tín ngưỡng thờ Mẫu và chư vị rất phong phú, đa dạng, đa phần các tượng được làm bằng gỗ quý hiếm. Từ những gì còn lại, có thể phần nào hình dung diện mạo điện Phước Linh thời hoàng kim. Bước vào điện, điểm gây chú ý đầu tiên chính là bức hoành phi sơn son thếp vàng khắc 5 chữ Hán: “敕賜福靈殿 Sắc tứ Phước Linh Điện”, có dòng lạc khoản: “保大十七年冬吉日, 禮工部大臣膺蔚恭錄” - Bảo Đại thập thất niên đông cát nhật, Lễ Công Bộ đại thần Ưng Úy cung lục (Ngày tốt mùa đông năm Bảo Đại thứ 17 [1942], Đại thần Ưng Úy thuộc Bộ Lễ nghi Công tác kính ghi). Quanh bức hoành phi có trang trí các hoa văn được chạm khắc tinh xảo theo mô típ “lưỡng long triều nguyệt” truyền thống.
![]() |
| Bức hoành phi đề chữ “Sắc tứ Phước Linh Điện” |
Bên dưới có treo hai vế đối viết:
家 尊 國 母 尊 王 天 之 上 之下
通 謂 神 化 謂 聖 地 以 北 以 南
Gia tôn Quốc Mẫu Tôn Vương, thiên chi thượng chi hạ;
Thông vị Thần, hóa vị Thánh, địa dĩ Bắc dĩ Nam.
Dịch nghĩa:
Nhà nhà kính ngưỡng Quốc Mẫu Tôn Vương, uy linh trùm khắp cõi trời trên dưới;
Thông linh hiển Thần, hóa độ nên Thánh, ân đức trải dài đất Bắc trời Nam.
Dòng lạc khoản đề: “保大甲申春, 沐恩第子光祿寺少卿阮忠洋偕男鴻臚寺少卿阮忠樸恭拜 - Bảo Đại Giáp Thân xuân, Mộc ân đệ tử Quang lộc tự Thiếu khanh Nguyễn Trung Dương, giai nam Hồng lô tự Thiếu khanh Nguyễn Trung Phác cung bái” (Mùa xuân năm Giáp Thân [1944], niên hiệu vua Bảo Đại, Mộc ân đệ tử Quang lộc tự Thiếu khanh Nguyễn Trung Dương, giai nam Hồng lô tự Thiếu khanh Nguyễn Trung Phác kính cẩn bái dâng).
Không gian thờ tự bên trong điện Phước Linh được bài trí với hệ thống án thờ phong phú. Vị trí trung tâm thờ các vị Thánh Mẫu; các án thờ khác tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát; Ngọc Hoàng Thượng đế cùng Nam Tào, Bắc Đẩu; Quan Thánh Đế quân cùng hai vị Châu Xương, Quan Bình đứng hầu; và Thập Điện Diêm Vương. Xung quanh điện còn có nhiều bệ thờ và am nhỏ nằm rải rác, tiêu biểu như động thờ ông Hổ và am Ngoại Cảnh…
Do điện Phước Linh có phối thờ Phật, nhiều người dân quanh vùng quen gọi là chùa Linh Diệu. Điện Phước Linh do thầy Châu Phước (1911 - 1968), hiệu Linh Diệu làm thủ tự. Tên gọi chùa Linh Diệu có thể bắt nguồn từ danh hiệu của thầy Châu Phước. Thầy Châu Phước quy y cửa Phật, tu tại gia, đồng thời cũng tôn thờ Thánh Mẫu. Hiện nay, người con của thầy Châu Phước là ông Châu Chí Quảng vẫn tiếp tục trông coi, hương khói điện Phước Linh sau khi cha của mình qua đời.
![]() |
| Các án thờ trong nội điện Phước Linh |
Để làm rõ sự ra đời của lễ rước tháng Ba, cần nhắc đến vợ chồng ông Phạm Đình Quý và bà Hồ Thị Đinh. Hai ông bà một lòng tôn sùng Thánh Mẫu, có công trong việc tạo dựng điện Phước Linh vào buổi đầu và khởi xướng tổ chức lễ hội điện Huệ Nam vào tháng Ba âm lịch, đặt nền móng cho kỳ lễ vẫn được cộng đồng duy trì hằng năm. Đương thời, ông Phạm Đình Quý là một người khá giả, chuyên làm nghề thầu khoán. Ông Phạm Đình Khánh7 còn cho biết dưới thời vua Bảo Đại, ông nội Phạm Đình Quý đã từng đứng ra đảm nhiệm công việc trùng tu, tôn tạo các cung điện ở Đại Nội. Ghi nhận những đóng góp ấy, vua Bảo Đại ban cho ông phẩm hàm Hồng (Hường) lô tự Thiếu khanh. Vì thế, ông thường được gọi là quan Hường Phạm Đình Quý.
Do quãng đường đến điện Huệ Nam và điện Phước Linh khá xa nên ông Phạm Đình Quý đã xây dựng trong mảnh đất nhà mình ở vùng Kim Long (nay tại địa chỉ số 4 kiệt 52 đường Kim Long, phường Kim Long, thành phố Huế) một ngôi điện thờ Mẫu để bà Hồ Thị Đinh sớm hôm phụng thờ Thánh Mẫu. Trong kỳ lễ điện Huệ Nam vào tháng Ba âm lịch, đoàn rước Thánh Mẫu ghé lại ngôi điện này và tổ chức hầu đồng. Sau khi hai ông bà Phạm Đình Quý qua đời, điện thờ Mẫu ngày càng xuống cấp, không được trùng tu tôn tạo nên khoảng năm 1965 ngôi điện thờ Mẫu bị triệt giải hoàn toàn. Ngày nay, dấu tích ngôi điện thờ Mẫu chỉ còn một chiếc bình phong, đôi voi chầu hầu trước am thờ, bể cạn, hòn non bộ và nền móng ngôi điện thờ Mẫu. Nổi bật trong số đó là bức bình phong vẫn còn khá nguyên vẹn, được trang trí hoa văn, họa tiết cầu kỳ và tinh xảo ẩn chứa diện mạo nghệ thuật cung đình Huế, đặc biệt là nghệ thuật khảm sành sứ rất đặc trưng. Bên cạnh nền móng điện thờ là ngôi nhà được xây dựng khoảng năm 1929, trước đây là nơi ông bà Phạm Đình Quý sinh sống cùng con cháu, nay là nơi thờ tự hai ông bà cùng tổ tiên gia đình. Ngôi nhà mang phong cách biệt thự Pháp có nét duyên dáng riêng phù hợp với khí hậu và cảnh quan xứ Huế. Nội thất ngôi nhà được phân chia thành nhiều gian, gian giữa vừa là nơi đặt bàn thờ Phật và gia tiên, vừa là nơi tiếp khách. Bức hoành phi treo gian giữa đề bốn chữ “君子攸寕 Quân Tử Du Ninh” (Chốn an cư của người quân tử), lạc khoản đề: “保大壬申年 Bảo Đại Nhâm Thân niên” (Năm Nhâm Thân [1931], niên hiệu Bảo Đại). Bên dưới trang trí câu đối bằng chữ Hán được viết vào mùa thu năm Bảo Đại thứ 10 (1935):
南圻人物多英氣
北闕衣冠有別裁
Nam kỳ nhân vật đa anh khí;
Bắc khuyết y quan hữu biệt tài.
Dịch nghĩa:
Đất phương Nam có nhiều người tài năng, khí phách;
Chốn triều đình quy tụ những bậc danh giá, phong thái hơn người.
Trong bối cảnh lễ hội điện Huệ Nam đã được ghi danh vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể, nghiên cứu tìm hiểu về điện Phước Linh và những người khởi xướng lễ rước Thánh Mẫu vào tháng Ba càng có giá trị và ý nghĩa lịch sử.
4. Thay lời kết
Lễ hội điện Huệ Nam là kết quả của một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, phản ánh sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian, nghi lễ cung đình và đời sống xã hội của cư dân xứ Huế. Từ một cơ sở thờ tự dân gian, dưới triều vua Đồng Khánh, điện Huệ Nam được trùng tu, tôn tạo và nghi lễ tế tự tại đây được đưa vào hàng đại tự của triều đình, qua đó nâng cao vị thế của điện trong đời sống tín ngưỡng ở Kinh đô Huế. Trên nền tảng ấy, các hoạt động thờ Mẫu tiếp tục được cộng đồng duy trì và mở rộng. Đặc biệt, lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba, hình thành vào năm 1939, không chỉ tạo dấu ấn bởi nghi thức cung nghinh trên đường phố và sông Hương mà còn góp phần liên kết những người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trên phạm vi rộng lớn, vượt ra ngoài khuôn khổ của một lễ hội làng truyền thống.
Từ việc nghiên cứu, đối chiếu các nguồn tư liệu lưu trữ, báo chí đương thời, khảo sát thực địa và ký ức của các hậu duệ, có thể khái quát ba nhận định chính như sau:
Thứ nhất, lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba âm lịch không phải nghi lễ hình thành từ thời vua Đồng Khánh hay gắn với quá trình hình thành ban đầu của điện Huệ Nam, mà được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1939. Mốc thời gian này đánh dấu sự xuất hiện của một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mới, bên cạnh lễ Thu tế truyền thống của làng Hải Cát vào tháng Bảy âm lịch.
Thứ hai, ông Phạm Đình Quý và bà Hồ Thị Đinh chính là những người khởi xướng lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba âm lịch. Với tâm huyết đối với tín ngưỡng thờ Mẫu, hai ông bà đã vận động xây dựng điện Phước Linh, thành lập Thiên Y Phổ Tế, quy tụ cộng đồng thiện nam tín nữ và tổ chức kỳ lễ đầu tiên vào năm 1939. Những đóng góp ấy đặt nền móng cho sự hình thành một truyền thống văn hóa được duy trì liên tục trong gần một thế kỷ qua.
Thứ ba, điện Phước Linh cần được nhìn nhận như một công trình có giá trị văn hóa lịch sử đặc biệt trong không gian lễ hội điện Huệ Nam. Đây không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng thờ Mẫu ở Huế mà còn là điểm xuất phát của đoàn rước Thánh Mẫu, gắn liền với sự ra đời của lễ hội tháng Ba âm lịch. Vì vậy, nghiên cứu về điện Phước Linh cũng chính là nghiên cứu về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử phát triển của lễ hội điện Huệ Nam.
Những kết quả nghiên cứu trên góp phần bổ sung nguồn tư liệu về lịch sử tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế, đồng thời làm sáng tỏ một khoảng trống trong quá trình hình thành và phát triển của lễ hội điện Huệ Nam. Việc xác định thời điểm ra đời của kỳ lễ tháng Ba nói chung, lễ rước Thánh Mẫu tháng Ba nói riêng, cùng với việc nhận diện vai trò của vợ chồng ông Phạm Đình Quý, bà Hồ Thị Đinh và điện Phước Linh, không chỉ có giá trị về mặt học thuật mà còn góp phần ghi nhận, tôn vinh những cá nhân và không gian văn hóa đã đặt nền móng cho sự hình thành, phát triển của một di sản văn hóa đặc sắc trên vùng đất Cố đô.
N.G
(TCSH62SDB/09-2026)
--------------------------
1 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 9, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 234.
2 Báo Tràng An (1939), “Ngày vía Thánh Mẫu ở Huế”, số 308 (ra ngày 1/4/1939), tr. 1.
3 Léopold Cadière (1996), La Citadelle de Hué: Onomastique (Kinh thành Huế: Địa danh), bản dịch, Nxb. Đà Nẵng, tr. 149.
4 Phủ Tuyên Hóa Vương hiện tọa lạc tại số 31 đường Trần Hưng Đạo, phường Phú Xuân, thành phố Huế. Chủ nhân của phủ là Tuyên Hóa Vương Bửu Toản, con trai thứ 9 của vua Dục Đức và Từ Minh Hoàng hậu Phan Thị Điều. Ông cũng là em ruột cùng mẹ của vua Thành Thái.
5 Xem thêm Trần Văn Dũng (2021), “Sắc tứ Phước Linh Điện: ánh hào quang quá vãng”, Nghiên cứu Huế, tập 9, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 302 – 307.
6 Ông Châu Chí Quảng (sinh năm 1953), hiện là thủ từ điện Phước Linh.
7 Ông Phạm Đình Khánh (sinh năm 1949), người hiện trực tiếp trông coi và gìn giữ nhà thờ cụ Phạm Đình Quý.