HOÀNG QUỐC HẢI
Huế là một thành phố tuyệt vời nhất đối với tôi, cố nhiên chỉ sau thủ đô Hà Nội.
Vì vậy, khi ông Trương Thìn, phó cục trưởng Cục văn hóa thông tin cơ sở, ngỏ lời mời tôi đi cùng ông với phái viên của UNESCO từ Paris gửi tới là ông Dominique Bouchart, để khảo sát một phần công việc trong cái dự án lớn lao "Bảo tồn và làm sống lại các di sản văn hóa phi vật chất tại Huế", tôi đã nhận lời.
Đúng 18 giờ sau khi ông Dominique Bouchart tới Hà Nội, là đoàn của Bộ Văn Hóa đã cùng ông ra phi trường Nội Bài. Đón chúng tôi tại sân bay Phú Bài - Huế là một bác lái xe có nước da sạm nắng, và người nữ phiên dịch dáng nhỏ xinh với chiếc măng tô màu vàng nhạt, đang nép sau cánh cửa tránh mưa và nhận diện khách.
Với nhạy cảm nghề nghiệp, ông lái xe nhận ngay ra chúng tôi. Hai bên tay bắt mặt mừng, và rồi cùng lên xe về khách sạn.
Sau khi làm việc với các quan chức sở văn hóa, và gặp gỡ các nhà khoa học, các giáo sư, các nhà nghệ thuật danh tiếng của địa phương, chúng tôi bèn đi khảo sát một số làng nghề thủ công truyền thống. Chẳng là có một cái dự án nhỏ, nhằm giúp Huế làm sống lại các ngành, nghề này mà ông Dominique Bouchart là một chuyên gia có kinh nghiệm. Khi đón ông từ Nội Bài về Hà Nội, tôi đã được biết ông mới giúp Djakarta (Indonesia) khôi phục lại một số nghề thủ công truyền thống từ mấy năm nay. Do đó thu hút khách du lịch tới viếng thăm thành phố và đền đài ngày một đông; vì vậy đời sống người dân địa phương có thay đổi rõ rệt. Ông mang tới Huế một thiện chí tựa như ông đã mang vào Djakarta vậy.
Nghề đầu tiên chúng tôi sục vào là nghề đúc đồng ở phường Đúc trên đường Bùi Thị Xuân; nghe nói con đường này trước mang tên "Huyền Trân công Chúa". Và trước nữa ở cuối cung đường còn có miếu thờ bà, và cả miếu thờ đức vua Champa: Chế Mân, nay tuyệt không còn dấu vết.
Phường Đúc này thành lập từ thế kỷ 17, khi các Chúa Nguyễn vào Đàng trong cát cứ. Phần đông các gia đình làm nghề đúc ở phường này, gia phả còn ghi gốc gác từ Bắc Ninh, Hà Bắc. Một số gia đình khác lại từ Quảng Nam tràn ra.
Xa xưa phường đúc này còn đúc cả súng thần công cho đội quân của các Chúa Nguyễn. Đúc các đồ tế khí và cả vật báu truyền quốc như cửu đỉnh, và các đồ ngự dụng nữa.
Thoạt tiên chúng tôi đến gia đình nhà ông Nguyễn Văn Thuận, ông mới 55 tuổi đã có hơn mười cháu nội ngoại. Và số các con ông thì chẵn chục.
Cảnh làm ăn từ trong nhà tới ngoài sân đều hối hả, tấp nập. Chỗ thì đổ khuôn, chỗ thì dỡ khuôn, chỗ thì giũa ba-via, chỗ hoàn thiện sản phẩm... Thợ thường là người nhà tự làm, hoặc con cái các nhà trong phường đến học việc, hiện có khoảng mười người. Nhưng ông chủ cũng cho biết, mùa làm ăn, số người thuê mướn sẽ tăng lên. Công xá ở đây cũng vào loại sống được; tối thiểu từ 250 đến 300 ngàn đồng một tháng. Ai có kỹ thuật đặc biệt thì được hưởng lương đặc biệt.
Sản phẩm chính của lò đồng này là các đồ thờ cúng, như đài rượu, cây nến, lư, tượng Phật cùng các loại tượng nhỏ trong tứ dân: ngư, tiều, canh, mục, hoặc ngư, tiều, canh, độc. Ông chủ cởi mở, cho chúng tôi xem hầu như tất cả các chủng loại thành phẩm của ông. Trong đó có bộ đồ thờ lư - hạc nom chất liệu đồng rất tốt, có vẻ xưa cũ về kiểu dáng và cả cốt cách mỹ thuật, kỹ thuật; khiến người khó tính đến mấy cũng phải hài lòng. Ông cho biết, bộ đồ đó, chính tay ông đúc từ năm 1972.
Song, so với các bộ ông mới làm cũng kiểu dáng ấy, thì lại quá xấu. Tôi hỏi giá. Ông nói: "Bộ đúc năm 1972 tương đương một cây vàng, bộ hiện tại là hai chỉ".
Ông Dominique Bouchart hỏi: "Tại sao ông không làm đẹp như bộ cũ mà bán cho khách có hơn không?”
Ông Thuận tươi cười đáp: "Không! tôi không làm loại đó, vì giá cao không bán được. Tôi chỉ làm khi có người đặt hàng thôi".
"Có nhiều người đặt ông làm hàng kỹ như thế không?" - Tôi hỏi. Ông Thuận đáp gọn lỏn: "Không! ít người đặt lắm. Vả lại có đặt thì làm loại hàng ấy cũng không được lời là mấy. Bởi nó đòi hỏi thuần tay thợ bậc cao, và chất lượng đồng phải tuyệt hảo".
Rời nhà ông Thuận, chúng tôi tới nhà ông Lê Văn Sơn cách đó chừng hơn trăm mét. Trước thềm, gia chủ bày khá nhiều cây cảnh, nom ngôi nhà tươi mát hẳn lên. Ông Sơn cũng là người hiếu khách và cởi mở. Ông bê tất cả những mẫu mã thành phẩm cho chúng tôi xem. Các sản phẩm đúc của ông Sơn, phong phú hơn về chủng loại và chất lượng cũng cao hơn. Nhìn con đại bàng xòe cánh đậu trên chỏm núi cao, và các tượng nhỏ theo đề tài "tứ dân", ông Dominique Bouchart cứ xem đi xem lại, với vẻ hài lòng. Đoạn ông quay hỏi tôi với vẻ kín đáo, tế nhị: “Ông thấy các sản phẩm ở đây, với các sản phẩm ta vừa xem tại nhà bên kia thế nào?”.
Không phải ông Bouchart không có thể rút ra được kết luận tức thời, bởi đối với các nghề thủ công truyền thống, ông là một chuyên gia quốc tế có hạng, song ông vẫn muốn có một tiếng nói khác, cho khách quan hơn. Tôi không chút ngần ngại, đáp lời ông:
"Như chúng ta đều đã thấy, chất lượng kỹ thuật và mỹ thuật các sản phẩm đang ở trước ta đây là tốt hơn nhiều, so với những cái ta vừa xem tại nhà bên".
Ông Bouchart đồng ý với nhận xét của tôi, và ông chọn mua vài tượng nhỏ. Trước khi chia tay, ông hỏi chủ nhà Lê Văn Sơn:
“- Tại sao ở đây các ông không dùng khuôn đúc sáp ong mà chỉ dùng khuôn cát".
- "Chúng tôi không có sáp ong" - Ông Sơn đáp.
- "Có thật tại đây không mua được sáp ong không thưa ông?" - Ông Dominique Bouchart quay ra hỏi tôi.
- "Thưa ông, quả là vùng này rất ít sản phẩm về ong. Nhưng ngoài Hà Nội, Hải Hưng và trong Sài Gòn, Đồng Nai nhiều sáp ong lắm. Nếu cần mua, chắc không khó". Đoạn, tôi quay hỏi ông Sơn.
- "Tôi nghĩ rằng khuôn sáp ong dùng đúc các đồ vật có nhiều họa tiết và chi tiết phức tạp, đồng thời chất liệu đồng cũng đòi hỏi độ tinh khiết cao. Vì vậy giá thành cũng cao hơn, nên ông ngại làm?".
Ông Sơn xác nhận, đó là điều phổ biến trong hầu hết 50 lò đồng của các gia đình Phường Đúc hôm nay.
Biết được điều đó, ông Dominique Bouchart lại hỏi:
- "Nếu tôi trả công cho ông bằng hoặc cao hơn mức thu nhập của ông hiện nay, ông có thể đúc được các vật giống như "Cửu đỉnh" hoặc các đồ ngự dụng trước đây không?”
- "Được! Nhưng với hai điều kiện". Ông Sơn đáp.
- “Điều kiện gì, xin ông nêu ra” - Ông Bouchart hỏi tiếp.
- "Một là phải có sự giúp đỡ cần thiết của các họa sĩ tạo hình. Hai là không có định mức lao động ngày giờ công và việc tiêu phí vật liệu. Nghĩa là chỉ đòi hỏi tác phẩm đúc hoàn thiện tới hoàn hảo, chứ không tính tới giá thành sản phẩm thì mới có thể làm được".
- "Các sản phẩm trong cung đình xưa đã được tạo ra với các điều kiện đúng như vậy" - Tôi nói, và ông Dominique Bouchart cũng đồng ý như thế.
Ông Bouchart lại nói với chủ nhà:
- "Nếu như có một lớp huấn luyện, có các thợ đúc giỏi của nước ngoài đến dạy, lại có cả các hoạ sĩ, giáo sư mỹ thuật công nghiệp của trường đến dạy cách tạo dáng sản phẩm, để có thể đúc được đẹp hơn, và có nhiều mặt hàng mới hơn để bán cho khách du lịch nước ngoài thì ông có bằng lòng đi học không?"
Với nụ cười hoan hỉ, ông Lê Văn Sơn đáp: - "Đó là điều tôi hằng mơ ước".
Rời nhà ông Sơn, chúng tôi sang nhà ông Nguyễn Văn Sính ở 78 Bùi Thị Xuân. Trước cửa nhà ông treo một tấm biển lưu ý khách với hàng chữ: "Nguyễn Văn Sính, chuyên đúc gia công các mặt hàng chuông, tượng, linh, tan và pháp khí nhà chùa".
Ông Sính bị tai nạn còn chưa lành hẳn, dáng đi vẫn còn tập tễnh. Ông vui vẻ dẫn khách đi xem các mặt hàng đã đúc ở trong kho, và nhiều sản phẩm mới tháo khuôn còn đang đắp ủ. Nhiều chuông, tượng và các đồ thờ tự to nhỏ đủ loại, đủ cỡ, kể cả chiếc đại hồng chung nặng một tấn, trị giá 6 ngàn đô-la do một phật tử cúng cho ngôi Trúc Lâm thiền viện ở Đà Lạt, nơi hòa thượng Thích Thanh Từ sáng lập, ông Sính đều cho chúng tôi xem hết.
Để phát triển nghề đúc đồng, ông Sính còn cho con trai là Nguyễn Trường Sơn ra học nghề đúc hiện đại tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Tốt nghiệp, kỹ sư Trường Sơn về phụ việc cho cha.
Cơ sở đúc của ông Sính hiện làm không hết việc. Hầu khắp các chùa ở miền Trung, cả Nam Bộ và người Việt hải ngoại đều mến mộ ông.
Các thợ làm tại lò đúc nhà ông Sính, đều được hưởng mức lương thấp nhất là 450 ngàn đồng và một bữa ăn trưa.
Chúng tôi xem hết các sản phẩm của lò đúc nhà ông Sính, mà không gây được chút hào hứng nào. Ông Dominique Bouchart chỉ ngắm nhìn ngôi nhà gỗ cổ của chủ nhân và không ngớt lời khen đẹp. Ông chủ bèn đáp: "Ông có mua về Pháp, tôi bán liền".
Lúc chia tay, tôi gọi cháu Nguyễn Trường Sơn, kỹ sư mới tốt nghiệp Bách Khoa Hà Nội và nói nhỏ với cháu đôi điều.
- "Ráng phụ giúp cha cháu giữ lấy nghề truyền thống của tổ phụ. Chú nghe cha cháu nói quê gốc ở làng Đồng Xá, Hà Bắc là nơi đã sản sinh ra nghề đồng nổi tiếng khắp Thăng Long, nhiều chuông khánh, tượng Phật đã đúc bốn, năm trăm năm, nay vẫn còn là những tác phẩm mỹ thuật bất hủ. Nên quay lạt đất Bắc nghiên cứu thêm cho sản phẩm của gia đình cháu ngày một hoàn hảo"...
Kỹ sư Nguyễn Trường Sơn lễ phép nhận lời. Song, cũng phải thú thực rằng tôi đã kìm nén tới mức tối đa để khỏi phải buột miệng chê các sản phẩm của ông Sính. Bởi lẽ hình thức thì đơn điệu, thô sơ. Tôi đã thử âm thanh một chiếc chuông từ vành, lợi đến thân, vú, vai, thao... Dường như ở các vị trí khác nhau ấy, đều phát ra gần như một cung bậc âm thanh, nó giống như những chiếc chuông ở các nhà thờ Ki-tô giáo. Trái lại, bất cứ một chiếc chuông nào ở ngoài Bắc và các chuông cổ ở Huế cũng là cả một phức điệu âm thanh, và hoa văn trang trí đều đạt tới mức giản dị, nhưng không thể thiếu.
Trên đường về, ông Dominique Bouchart hỏi tôi: "Nhận xét của ông về ba lò đúc đồng của ba gia đình mà chúng ta vừa đến thế nào"?
Tôi đáp: "Với gia đình thứ nhất thì không thể cải tiến gì được nữa. Gia đình thứ ba thì không cần cải tiến cả về kỹ thuật lẫn mẫu mã hàng hóa. Tất cả chỉ trông đợi ở loại gia đình thứ hai, tức là gia đình ông Lê Văn Sơn".
- "Tôi đồng ý với ý kiến của ông" - Ông Dominique Bouchart xác nhận.
Tôi còn biết vì sao ông Dominique Bouchart không quan tâm đến các sản phẩm đúc của gia đình ông Sính, đó là các đồ thờ tự chuyên dụng không thể bán cho khách du lịch được. Và ông Sính cũng không dại gì thu nhỏ tối đa các kích cỡ sản phẩm, lại phải chế tác tinh vi mới có thể làm cho khách du lịch để mắt tới. Trong khi một sản phẩm bình thường của ông cũng bán từ vài ba trăm tới năm, sáu ngàn đô-la Mỹ.
Một bữa khác, chúng tôi dẫn ông Dominique Bouchart tới thăm làng Sình - một làng ngoại thành Huế, chuyên vẽ tranh thờ dân gian, tựa như tranh Hàng Trống, tranh Đông Hồ ở ngoài Bắc. Làng Sình nằm trên bờ nam sông Hương nhìn ra ngã ba Sình xuôi cửa Thuận, ngôi làng đẹp như một khuôn tranh soi bóng xuống dòng sông Hương dịu mát, ngôi đình cổ kính rêu phong, hàng năm dân làng vẫn mở hội. Và xới vật làng Sình nổi tiếng khắp cố đô. Bữa đó, chúng tôi có mời họa sĩ Thanh Bình, cán bộ giảng dạy bộ môn lý luận nghệ thuật Trường Cao đẳng nghệ thuật Huế cùng đi để hướng dẫn bạn.
Dân làng Sình trước đây sống bằng nghề in tranh thờ, nay chỉ còn độ mươi nhà tiếp tục nghề xưa. Không có ai cấm đoán, chỉ tại thị trường tiêu thụ đã thu hẹp. Loại tranh này từ trước chỉ có dân hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên tiêu thụ. Nay dân Quảng Trị không ưng xài loại tín ngưỡng này nữa.
Tới nhà nào chúng tôi cũng chỉ thấy in có mấy bộ tranh:
- Bộ Táo ông Táo bà.
- Bộ thế mạng.
- Bộ cầu cho gia đình hòa thuận Đôi khi nhà có con gái lớn tuổi còn cầu cho đắt chồng. Tranh này có một bà và hai tiểu đồng. Các loại tranh khác, cúng xong rồi đốt. Riêng tranh này lại đem dán ở giữa nhà (nếu cầu gia đình êm ấm) hoặc dán tại đầu giường cô gái (nếu cầu đắt chồng) v.v...
Kỹ thuật in ở đây vẫn thủ công, thô sơ như hàng trăm năm trước. In đơn chiếc trên khuôn ván rồi tô màu. Các loại màu đều dùng hóa chất, chứ không dùng chất liệu cây cỏ trong dân gian nữa. Thay vì in bằng giấy dó, người ta in trên giấy trắng học trò; nom bức tranh cứ bệch ra và không có chiều sâu.
Thấy chất lượng tranh từ hình vẽ đến màu sắc và cả giấy in đều xấu, ông Dominique Bouchart bèn hỏi họa sĩ Thanh Bình:
- "Ông làm ơn cho biết, tại sao ở đây người ta dùng màu xấu như thế?".
- "Dạ, đấy là mẫu dân gian quen dùng" - Họa sĩ đáp.
- "Tại sao lại chỉ dùng có 5 màu mà không phải là ba hay bảy hoặc tám màu?" vẫn ông Bouchart hỏi.
- "Thưa ông - hoạ sĩ đáp, từ lâu đời dân gian đã dùng như vậy, nên trở thành định hình của tranh dân gian".
- "Tại sao không tô mỗi tranh một màu có được không? Đã có ai thử làm thế chưa? " Ông Dominique Bouchart hỏi tiếp.
Nghệ thuật dân gian của mỗi dân tộc, đều có nguồn cội sâu xa từ nền triết học mà dân tộc đó tôn thờ. Không thể hiểu cũng như cắt nghĩa loại hình nghệ thuật này bằng trực giác, bằng duy lý. Nghĩ vậy, tôi bèn nói với Dominique Bouchart như sau:
- "Thưa ông Bouchart, ông có nghiên cứu về Dịch lý phương Đông chứ ạ". Ông ta lắc đầu.
- "Vấn đề là ở đó. Tôi nói tiếp. Năm sắc màu ông nhìn thấy trong bức tranh dân gian kia, chính là năm yếu tố vật chất cấu tạo nên vũ trụ. Tức là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Đó là cả một học thuyết về âm dương, ngũ hành. Mỗi hành chỉ một phương, mỗi phương chỉ một màu. Mỗi yếu tố vật chất như kim loại, cây cối, nước, lửa, đất đều được biểu hiện ra bằng màu sắc trắng, xanh, đen, đỏ, vàng. Bởi thế, tranh dân gian của chúng tôi bao giờ cũng thể hiện các yếu tố cần và đủ. Tại sao số màu không nhiều hơn và cũng không ít hơn năm màu. Vì phải hội đủ năm yếu tố đó, thì thế giới vật chất mới được hoàn thiện về cơ bản. Ít hơn, là còn trong thời hỗn mang. Nhiều hơn là bước qua chu kỳ khác. Chu kỳ biến dịch".
Dường như ông Dominique Bouchart đã hiểu. Tôi nói thêm - "Ông không hài lòng về màu sắc ở đây là có lý. Bởi người ta không khai thác chất liệu dân gian. Ví như màu trắng lấy từ vỏ sò, màu đen từ than cói, màu xanh từ rỉ đồng v.v... và phải in trên nền giấy dó lụa. Nếu ông được xem các loại tranh dân gian Đông hồ, Hàng Trống được làm bởi các tay nghệ sĩ dân gian, và đúng chất liệu dân gian của chúng tôi, hẳn ông phải hài lòng lắm".
Đúng lúc ấy, hoạ sĩ Thanh Bình mở cặp lấy ra bức tranh Đông Hồ phiên bản trên nền giấy dó giả, và chất điệp giả. Ông Dominique Bouchart ngắm nhìn hoài rồi gật đầu với vẻ hài lòng.
Vậy là không phải lỗi tại tranh dân gian, mà lỗi ở những người hành nghề cẩu thả. Và từ đó góp phần tạo ra hướng thẩm mỹ thấp kém trong dân chúng, cũng như làm biến dạng nghệ thuật tranh dân gian mà trải biết bao đời cha ông mới tạo dựng được.
Chúng tôi còn dẫn vị chuyên gia về ngành nghề thủ công truyền thống của UNESCO đi thăm làng gốm Phước Tích, làng chạm khắc đồ gỗ Mỹ Xuyên, làng rèn Hiền Lương thuộc huyện Phong Điền.
Gốm Phước Tích còn sót lại một lò cuối cùng, đã ngừng hoạt động từ ba tháng nay. Làng chạm khắc gỗ có tới hai trăm tay thợ lành nghề, đã bỏ Iàng đi tìm việc làm ở hầu khắp các tỉnh Nam Bộ. Làng rèn Hiền Lương, cũng chỉ sống thoi thóp dăm ba bễ rèn. Phần đông tản mát khắp miền Trung để kiếm sống.
Tôi thấy ông Dominique Bouchart hết sức có cảm tình với nghề rèn. Trước khi đến Hiền Lương, tâm trạng ông nao nao mong chờ, và dò hỏi không biết bao nhiêu thông tin về nghề này. Nhưng khi tận mắt thấy các bễ rèn và sản phẩm của nó, dường như ông hết hy vọng. Có một lúc nào đó vui miệng, ông Bouchart đã kể lại với chúng tôi: nhà ông ba đời làm nghề rèn. Nhưng bố ông cuối cùng phải đổi sang làm các công việc thủ công mà máy móc bó tay.
Hành trình của chúng tôi còn tới cả phường làm nón Phú Cam, phường thêu Phan Đăng Lưu và nghệ thuật làm vườn, bồn cảnh tại làng Kim Long. Hoặc có ghé thăm Câu lạc bộ chơi diều tại 15 A đường Mạc Đĩnh Chi. Câu lạc bộ này thừa hưởng di sản tinh thần của "Hội diều Thừa phong” cũ.
Được xem các loại diều và các tích trò diễn trên không bằng diều: Tấm Cám; Thạch Sanh; Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn; hoặc hát múa vỗ trống cơm gồm năm con rối diều v.v... ông Dominique Bouchart vô cùng kinh ngạc. Ông nói: "Diều của các ông không hoành tráng, không đẹp và nhiều chủng loại như diều của Trung Quốc và một số nước khác. Nhưng biến diều thành sân khấu trên không, với các tích diễn thì quả người Việt Nam có trí tưởng tượng vô cùng phong phú. Việc tương tự như thế này tôi chưa từng được thấy ở bất cứ nước nào mà tôi đã ghé qua".
Kết thúc đợt khảo sát, chúng tôi về họp mặt và báo cáo kết quả với ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Tiếp chúng tôi có ông phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Viết Xê; ông phó Giám đốc Sở văn hóa Nguyễn Xuân Hoa cùng ông trưởng phòng ngoại vụ Châu Đình Nguyên và một số cán bộ theo dõi về công tác văn hóa của tỉnh.
Ông Trương Thìn, phó cục trưởng Cục văn hóa thông tin báo cáo lược đồ khảo sát và các kết quả thu được. Ông Dominique Bouchart đưa ra vài nhận xét mang tính khuyến cáo các quan chức địa phương.
Trong khi ông nói, tôi lại nghĩ về những cuộc trao đổi ngắn với ông. Ví như ông không chịu được tính lặp lại, tính đơn điệu của các sản phẩm: ngư, tiều, canh, mục hoặc ngư, tiều, canh, độc mà ông đã thấy từ Hà Nội tới các lò đúc của Huế.
Tựa như cuộc trao đổi về tranh dân gian làng Sình. Tôi nói với ông Dominique Bouchart rằng, cái mà ông cho là đơn điệu, và lặp lại ấy lại chính là đặc điểm của nền văn hóa mang tính thống nhất của Việt Nam. Bốn loại dân đó là bốn loại người cơ bản trong xã hội nông nghiệp Việt Nam cổ xưa. Và tới khi chế độ phong kiến ra đời, có thêm chữ viết, mới xuất hiện tầng lớp nho sĩ, trí thức, nên mới có tượng người đọc sách. Có điều hình dáng xấu, kỹ thuật vụng thì làm cho nó đẹp lên. Đẹp lên nhưng không mất cốt cách đã sản sinh ra nó từ ngàn xưa. Mất cốt cách xưa, là làm hỏng nền văn hóa truyền thống của Việt Nam.
Không phản đối ý kiến tôi, nhưng ông Dominique Bouchart đề nghị:
- "Chúng ta phải có nhiều chủng loại đúc với mẫu mã đẹp, hấp dẫn".
- "Cố nhiên, đó là điều chúng tôi mong muốn, và đây chính là vai trò của chuyên gia quốc tế" - Tôi đáp.
Ông Dominique Bouchart cười.
Giờ đây ông đang khuyến nghị với các quan chức Thừa Thiên - Huế:
- Văn hóa dân gian Việt Nam có sức sống rất mạnh trong một số nghề thủ công truyền thống ở Huế, như các đồ thờ cúng tổ tiên, nón lá, cây thuốc.
- Một vài ngành có chất lượng cao, nhưng có nguy cơ suy sụp, ấy là nghề đúc đồng, nghề khảm, khắc, sơn mài, cây cảnh.
- Một vài ngành có chất lượng tồi, nếu không cứu vãn sẽ chết như thêu, ren, tranh lụa. Và các nghề may quần áo, mũ hia cho vua chúa, hoặc nghề dệt thảm cũng khó mà cạnh tranh.
- Công việc của tôi là sẽ đưa ra các dự án trình UNESCO vào tháng 3 tới. Nhưng muốn phục hưng các nghề thủ công truyền thống, phải tạo cho nó có sức sống, có môi trường sống, phải gắn nó vào môi trường văn hóa...
Nói đến môi trường văn hóa, lại nhớ buổi chúng tôi dẫn ông Bouchart vào thăm nhà bà Tùng Chi ở Kim Long. Bà là một nhân sĩ nổi tiếng. Bà Tùng Chi có ngôi nhà cổ và cả khuôn viên khá đẹp. Năm nay bà đã 85 tuổi. Đi phải có người dìu hoặc chống gậy. Song bà còn minh mẫn lắm: Bà nói chuyện trực tiếp với ông Bouchart không cần phiên dịch. Tôi có thể ghi lại đây cuộc đối thoại ngắn ngủi:
- Tôi vô cùng sung sướng về cuộc viếng thăm của ông tới đất nước tôi, gia đình tôi.
- Tôi hân hạnh kính chúc sức khoẻ cụ.
- Tôi trông ông quen lắm. Dường như đã gặp ông ở đâu đó.
- Thưa cụ có thể lắm, hoặc là kiếp trước của tôi. Cụ có khuôn vườn và cây cối đẹp quá.
- Vâng, cám ơn ông, khuôn viên của tôi giống như một cô gái quê, có gương mặt đẹp nhưng không biết cách trang điểm.
- Thưa cụ, cái đẹp chính là sự mộc mạc.
- Ông quá khen.
……
- Thưa cụ, nếu không làm phiền lòng cụ, thì theo cụ ở Huế cái gì là quan trọng nhất? (Đây là điều mà ông Dominique Bouchart luôn tìm hiểu suốt hành trình tại Huế).
Không một chút do dự, bà Tùng Chi đáp:
- Thưa ông: VĂN HÓA.
- Xin cụ tha thứ cho tính tò mò của tôi ở Huế, cụ thích cái gì nhất?
Ông Dominique Bouchart không phải là nhà báo. Nhưng những câu hỏi ông đặt cho bà già 85 tuổi, tưởng có thông minh như Esope cũng phải lúng túng.
Bà Tùng Chi thản nhiên nhìn vào mắt ông Dominique Bouchart và với nụ cười độ lượng, bà đáp:
- Mưa dầm.
Dominique Bouchart tròn xoe mắt ngạc nhiên. Bà Tùng Chi chỉ ra ngoài trời mưa nói tiếp:
- Từ bữa ông vô Huế tới nay mưa vẫn cứ rả rích như thế này phải không?
Ông Bouchart gật đầu xác nhận. Bà Tùng Chi cười vỡ ra:
- Đối với lữ khách, cái mưa xứ Huế chúng tôi làm cho họ phát ngấy. Nó xâu xé tâm can họ bằng nỗi buồn nhức nhối. Nhiều người không chịu nổi, trú chưa ấm chỗ đã lại đi ngay. Nhưng với tôi ông biết không. Không thể hình dung nổi, tôi có thể sống mà lại không có mưa dầm Huế! Sài Gòn cữ này đang ấm áp. Vậy mà tôi đã rời Sài Gòn cách đây hai tuần, để về đón mưa Huế. Ngay tại Paris cũng thế thôi, tôi có thể nán chơi với các con, các cháu tôi qua các mùa, trừ mùa mưa Huế.
Ông Dominique Bouchart nắm tay bà tỏ vẻ thán phục.
Tuy yếu, nhưng bà Tùng Chi vẫn nhiệt tình tiễn khách ra tận cổng. Tôi xốc tay đỡ bà với vẻ thận trọng kính ái như nâng đỡ mẹ tôi, khi người còn sống. Nắm chặt tay tôi với vẻ ngậm ngùi trước khi giã biệt, bà nói:
- "Các ông văn hóa Thừa Thiên, các ông văn hóa ngoài Bộ văn hóa tôi đã thấy nhiều rồi, nhưng cái chính là phải thấy được VĂN HÓA kìa!"
Buổi tối, Ủy ban nhân dân tỉnh có một chiêu đãi nhỏ để tiễn khách trước khi rời Huế. Ông phó Chủ tịch Lê Viết Xê có nhã ý xếp tôi ngồi cạnh ông Dominique Bouchart để chúng tôi tiện truyện trò.
Khai vị, chủ nhà mời rượu Minh Mạng thang. Ông Bouchart hỏi cô phiên dịch đây là loại rượu gì.
Phó Chủ tịch Lê Viết Xê nâng cốc mỉm cười đáp:
- Đây là loại rượu "ông uống bà khen", chế theo toa thuốc của hoàng đế Minh Mạng.
Ông Dominique Bouchart vui vẻ uống. Tôi ghé tai ông nói thầm truyền thuyết vua Minh Mạng "Nhất dạ thất giao sinh ngũ tử". Ông Dominique Bouchart cười phá lên.
Cô phiên dịch hỏi ông: "Cười gì".
Ông đáp: "Bí mật".
Trong không khí chân tình, ông Dominique Bouchart hỏi tôi:
- "Ông là nhà tiểu thuyết lịch sử, vậy có bao giờ ông nghĩ rằng các nhân vật lịch sử của ông lại về hội tụ cùng chúng ta như thế này không?"
- "Có. Tôi nghĩ rằng các việc đất nước tôi đang làm, và cả việc ông đến giúp chúng tôi làm. Nếu như tất cả đều đạt được thành tựu cao, chắc chắn các nhân vật của tôi sẽ về. Bởi các cụ hài lòng vì con cháu đã làm được những điều như các cụ mong muốn".
- "Tại sao đến Việt Nam, ở bất cứ chỗ nào tôi cũng nghe nói về quá khứ!"
- "Thưa ông Dominique Bouchart kính mến, người Việt Nam chúng tôi dùng quá khứ làm hành trang cho hiên tại, và từ đó bước thẳng tới tương lai".
Ông Dominique Bouchart giơ hai tay ôm lấy đầu, và ông kêu lên một cách hết sức đáng yêu:
- "Trời ơi, tôi ngốc quá!"
Một lát, ông lại hỏi tôi:
- "Tôi được biết, tháng 3.1994 tại Huế sẽ có một tháng festival văn hóa. Dịp đó lại có cả hội thảo quốc tế UNESCO được tổ chức tại đây. Nếu như có một trong các nhân vật lịch sử của ông hiện về, ông sẽ ưng người nào nhất?"
- " Tôi nghĩ rằng người hiện về đất này hợp lý nhất là bà Huyền Trân Công Chúa".
- "Ông có biết câu đầu tiên bà Huyền Trân nói như thế nào không?"
Tôi bèn đứng lên đặt tay lên vai ông Dominique Bouchart:
- "Ô, Dominique Bouchart, ta hoan nghênh sự có mặt của cháu hôm nay!" Tôi chắc chắn bà Huyền Trân sẽ nói như vậy.
Ông Dominique Bouchart nghiêng mình cảm tạ, bởi nhân vật lịch sử của tôi đã giành cho ông một vinh dự lớn lao.
Ông Dominique Bouchart đã rời Việt Nam. Song tôi hy vọng với trách nhiệm là sứ giả của UNESCO, và đã từng có mặt trên 60 nước ở hầu khắp các châu Á - Phi - Mỹ la-tinh, ông sẽ ráng hết sức mình để làm sống lại một số ngành nghề thủ công truyền thống của Huế.
Tôi cũng rời Huế mà lòng còn trĩu nặng một nỗi niềm. Rằng không riêng với Huế, mà còn với cả đất nước này, như lời bà Tùng Chi nói "ĐÓ LÀ VĂN HÓA".
Điều bà Tùng Chi mong muốn có nghĩa là phải giữ lấy cội nguồn, phải khẳng định lấy bản sắc văn hóa của dân tộc mình, để vững tâm hòa nhập với các dòng văn hóa lớn của nhân loại.
Bất hạnh cho dân tộc nào chỉ biết hòa tan mà không biết lưu giữ. Tức là đánh mất đi nguồn cội văn hóa của chính mình - một dân tộc như thế sẽ không còn đủ tư cách tồn tại như một quốc gia nữa.
Hà Nội, 6 tháng giêng 1994.
H.Q.H
(TCSH61/03-1994)