Những vấn đề di sản
Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa phi vật chất của vùng Huế
15:43 | 26/10/2026

TRẦN VĂN KHÊ

Về đề tài này, Bộ Văn hóa và Thông tin thuộc Chính phủ Việt Nam và Ủy ban Quốc gia Việt Nam về UNESCO đã đưa ra một dự án cung cấp cho chúng ta những tài liệu bổ ích và lý thú.

Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa phi vật chất của vùng Huế
Ảnh tư liệu (Có sử dụng AI)

Những người tham gia cuộc hội thảo quốc tế này sẽ đem lại cho chúng ta lợi ích bởi những thông tin cụ thể về sự đánh giá tình trạng hiện thời của di sản văn hóa phi vật chất vùng Huế.

Chúng ta sẽ tập trung vào các vấn đề gắn liền với âm nhạc, ca múa nhạc và các nghệ thuật sân khấu. Chúng ta cũng sẽ xem xét vấn đề bảo vệ, phát huy và hồi sinh di sản văn hóa phi vật chất của khu vực Huế bằng cách cố gắng trả lời được ba câu hỏi sau:

- Tại sao lại bảo vệ?

- Chúng ta bảo vệ như thế nào?

- Chúng ta bảo vệ cái gì?

I. TẠI SAO LẠI BẢO VỆ?

Mỗi một dân tộc có một lối sống riêng và qua quá trình lịch sử nó tạo ra các công trình nghệ thuật, sáng tác âm nhạc, ca múa nhạc và nghệ thuật trình diễn sân khấu. Di sản này, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, đứng vững qua sự thử thách của thời gian, trở nên phong phú thêm bởi các công trình sáng tạo mới để bây giờ nó làm nên một kho báu vô giá những giá trị nghệ thuật không thể chối cãi.

Tuy nhiên, những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội học mới đang thắng thế trong xã hội Việt Nam, những cuộc chiến tranh giành tự do kéo dài gần nửa thế kỷ, điểm hòa hợp của các dân tộc, hội tụ của các nền văn hóa, sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng mới, sự thay đổi lối sống, sự xâm nhập chống lại các truyền thống lâu đời qua các hình thức âm nhạc và nhảy múa, mới du nhập từ phương Tây cùng với các nguồn tài chính và kỹ thuật rộng rãi; tất cả như một cú sốc mạnh với di sản văn hóa Việt Nam thuộc nhóm người dân tộc Kinh trên toàn đất nước, và đặc biệt hơn nữa là ở vùng Huế, vì thế dẫn đến sự xuống dốc, yếu kém và thậm chí đôi khi còn xảy ra sự biến mất của nền ca múa nhạc truyền thống.

Di sản phải được bảo vệ vì:

- Nó là một phần quan trọng của đặc tính văn hóa của các dân tộc ít người Việt Nam.

- Nó có giá trị nghệ thuật không thể chối cãi.

- Nó là một kho báu văn hóa không chỉ với Việt Nam mà còn cho cả nhân loại.

- Nó là một yếu tố lý thú của việc nghiên cứu so sánh trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc học, nghệ thuật dàn dựng múa và việc nghiên cứu các nghệ thuật sân khấu.

II. CHÚNG TA BẢO VỆ NHƯ THẾ NÀO?

Từ "bảo vệ" được dùng để chỉ ý định giữ gìn một cái gì đó quý mà có khả năng mất đi vì lý do này hay lý do khác.

Có hai cách bảo đảm sự bảo tồn: bị động và chủ động. Bảo vệ bằng cách bị động gồm có việc ghi lại tất cả các khía cạnh của di sản văn hóa dân tộc vào các phương tiện nghe nhìn và giữ những băng tài liệu này trong cơ quan lưu trữ âm thanh của các viện bảo tàng.

Bảo vệ bằng cách chủ động không những bao gồm việc thu thập các tài liệu liên quan đến di sản văn hóa mà còn bao gồm việc:

- Truyền bá những điều đã được thu vào băng, được chọn vì tầm quan trọng mà chúng chứa đựng và vì tính độc đáo và giá trị nghệ thuật của chúng.

- Tìm ra những điều kiện thuận lợi nhất định để cho các thể loại âm nhạc và những hình thức sân khấu và ca múa một chức năng mới trong xã hội hiện tại, hay nói cách khác, làm sống lại các di sản văn hóa.

- Vì thế, giữ gìn bằng cách chủ động, bao gồm vài hoạt động khác nhau: thu thập, lưu trữ, phân tích, lưu truyền những tài liệu nghe nhìn liên quan đến di sản văn hóa, truyền cho lớp trẻ những kỹ năng kỹ xảo trong việc thực hiện nền ca múa nhạc truyền thống và nghệ thuật sân khấu, hồi sinh các di sản văn hóa... Mỗi một hoạt động đó phải được đưa vào hoạt động thế nào cho có hiệu quả?

1- Thu thập và lưu trữ các tài liệu nghe nhìn

Công việc này đòi hỏi phối hợp cộng tác hài hòa ăn ý giữa các nhà lãnh đạo ngành văn hóa - những người cấp kinh phí cho việc hoạt động này, và những nhà âm nhạc học hay những nhà âm nhạc dân tộc học - những người điều khiển công việc chuẩn bị trong các thư viện về các tác phẩm viết tay và trong các thư viện lưu trữ âm thanh, các lĩnh vực nghiên cứu, với những nhà chuyên môn - những người thu những cuộn băng cát xét hay video, những nguồn thông tin, những người trình diễn và những người sở hữu các truyền thuyết truyền miệng.

Những người đi thu thập phải được đào tạo để thực hiện công việc khoa học này, công việc bắt đầu bằng việc nghiên cứu các thư mục trong các văn bản đã được ghi trước đó, sự chuẩn bị các thông số về loại hình âm nhạc, về các nhạc cụ và những người biểu diễn. Trong lĩnh vực này, họ phải thành thạo, thận trọng trong các phần ghi băng, trong cách đặt câu hỏi cho những người cung cấp thông tin, có cách đúng đắn để ghi chép và phác thảo sách chuyên đề dùng những thuật ngữ, những đoạn băng thích hợp v.v...

Một cuộc hội thảo ngắn hạn sẽ được tổ chức để đào tạo những người nghiên cứu và những người làm công tác kỹ thuật trong lĩnh vực này; đến lượt họ, sau đó sẽ có thể hướng dẫn những người đi thu thập khác trên toàn đất nước.

Những tài liệu đã được ghi lại phải được phân loại và giữ gìn trong bộ phận lưu trữ băng, cùng với các thông số và băng nghe kèm theo.

Chúng phải là chủ đề của những công trình nghiên cứu phân tích và so sánh.

Một cuộc hội thảo thứ hai cũng phải được tổ chức về thuật ngữ âm nhạc và các quan điểm về thuật ngữ âm nhạc và các phương pháp phân tích.

2- Truyền bá những tài liệu nghe nhìn

Khi các tài liệu được ghi lại đã được phân loại và ghi vào mục lục, chúng không phải bị khóa lại trong các bộ phân lưu trữ âm thanh hay các viện nghiên cứu mà quần chúng không thể nào có được. Ngược lại chúng phải được phổ biến rộng rãi trên băng hình, băng cát xét, trong các chương trình văn hóa và nghệ thuật trên đài và vô tuyến, trong các bài báo, những ấn phẩm bằng tiếng Việt Nam và tiếng nước ngoài, truyền tới các cuộc hội đàm và hội nghị quốc tế.

Vì thế việc sắp xếp các chương trình phát hàng tuần trên đài và vô tuyến vào khoảng thời gian thích hợp là điều thiết yếu. Những buổi lễ hội địa phương toàn quốc và quốc tế cũng cần được tổ chức.

3- Sự chuyển giao âm nhạc truyền thống:

Khi một tài liệu nghe nhìn tốt được lưu hành rộng rãi, nó lôi cuốn sự chú ý của công chúng nói chung. Chúng ta phải chú ý tới khả năng chuyển giao âm nhạc, ca múa nhạc truyền thống cho thế hệ trẻ, những người muốn được trở nên quen thuộc với chúng để chuẩn bị cho nhiệm vụ hồi sinh di sản văn hóa.

Phải đưa ra những khóa học ca múa nhạc truyền thống trong trường nhạc múa quốc gia và các trường trung học tại các cuộc thảo luận được tổ chức trong các ngày nghỉ trong nhà trường, hay tiếp tục ở đâu đó trong các lớp học đặc biệt, và các trung tâm văn hóa (Nhà Văn hóa).

Các bài giảng về tầm quan trọng, tính đa dạng, giá trị nghệ thuật của âm nhạc, ca múa và nghệ thuật sân khấu phải được đưa vào các trường cấp II và cấp III và thậm chí cả trong các trường đại học.

Vì thế việc đào tạo các giáo viên âm nhạc là điều cần thiết.

4- Việc hồi sinh di sản văn hóa:

Điều này có thể thực hiện được khi chức năng của một thể loại âm nhạc hay ca múa đặc biệt trong xã hội trước đây được khôi phục, và khi phần lớn nhân dân đồng ý tham gia, nghe hay xem các sự kiện có liên quan.

Dưới đây là trích dẫn hai ví dụ cụ thể của việc hồi sinh:

1. Hugo Zemp, một cán bộ nghiên cứu CNRS (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia) muốn ghi lại âm nhạc dân gian đích thực của người Are-Are trên đảo Malaita thuộc Thái Bình Dương. Trong suốt tháng đầu tiên trên đảo, ông ta chỉ nghe thấy loại nhạc trẻ được trình diễn bằng đàn ghi ta điện - hay ắc-coóc bởi những thanh niên trên đảo. Họ tuyên bố rằng đây là loại nhạc duy nhất mà người Are-Are chơi ngày nay. Một vài tháng sau, trên một ngọn núi ông nghe thấy một nhóm bốn nhạc công già chơi một loại âm nhạc bằng một cây sáo và những ống tiêu đồng quê khác nhau. Ông thu lại bản nhạc này, in nó ra với tựa đề băng nhạc đang thịnh hành. Với số tiền bản quyền tác giả, ông mua một chiếc máy hát và chơi loại âm nhạc này rồi thu vào máy quay đĩa phát cho thanh niên đảo Malaita nghe mỗi khi ông có cơ hội quay lại đó. Họ ngạc nhiên về cái hay của loại âm nhạc phức điệu này và hỏi Hugo Zemp ông đã thu nó ở đâu. Ông nói với họ rằng đó là âm nhạc gốc của người Are-Are được bốn nhạc công già trình diễn. Những thanh niên này muốn học cách chơi nó. Và vì thế loại âm nhạc này khôi phục được vị trí của nó trong xã hội người Are-Are, vì người ta sẵn lòng học và chơi nó trước khán giả gồm cả tầng lớp thanh niên. Loại âm nhạc này vì thế đã được hồi sinh qua sự làm việc thông minh của nhà nghiên cứu khoa học, người không những thu lại được âm nhạc nguyên gốc mà còn thành công trong công việc làm thức tỉnh tầm quan trọng của loại nhạc này giữa những thành viên của xã hội Arc Are, bằng cách đưa ra cho họ một thứ âm nhạc đã được thu một cách thành công với điều kiện kỹ thuật thu rất tốt.

Ở Việt Nam những bài hát ru con thực tế đã bị lãng quên. Trong vài năm qua các bà mẹ đã không còn hát ru con nữa. Nhưng từ năm 1977, mỗi lần Trung tâm Nghiên cứu Khoa học quốc gia (CNRS) gửi tôi đến làm việc tại Việt Nam, tôi đều luôn luôn tập trung các bài thuyết trình của tôi vào tầm quan trọng của các bài hát ru con trong việc hình thành mỹ cảm của trẻ em, vào ảnh hưởng của giai điệu ru con tới sự sáng tác các bài hát dân ca khác, bài hò được hát lúc lao động, những điệu lý qua cầu, và thậm chí cả việc biên ra những bài kinh lễ thiêng liêng của đạo Phật ở Việt Nam.

Năm 1989, Nhạc viện lúc đó do giáo sư Lưu Hữu Phước đứng đầu và Sở Văn hóa và Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc thi Hát Ru con lần đầu tiên. Bốn mươi hai người tham gia, gồm 7 nam và 35 nữ, người trẻ nhất là 18 tuổi và người cao tuổi nhất 74 tuổi, hát hàng trăm bài hát ru con ba miền Việt Nam. Bước khởi đầu này được tiếp tục hai năm sau đó bằng cuộc thi Hát ru mà tại đấy các giải lớn được trao cho những người hát ru hay nhất. Nữ thi sĩ Lê Giang khi đó đã in một tuyển tập các bài hát ru con và chồng bà, nhà nghiên cứu âm nhạc Lư Nhất Vũ in một băng cát xét các bài hát ru con. Công chúng đã đón nhận nó một cách nồng nhiệt. Ngày nay, trong các vườn trẻ người ta bật băng hát ru khi trẻ em ngủ. Trong đời sống hàng ngày các bà mẹ lại bắt đầu hát các bài hát ru con. Ở Hà Lan, trong gia đình anh Nguyễn Thanh Hùng, con gái lớn của anh đã được ru ngủ từ khi mới lọt lòng, bằng những bài hát ru được bà mẹ trẻ hát. Với tôi đó là một ví dụ nói lên sự hồi sinh của thể loại âm nhạc này.

Trong thí dụ thứ nhất của tôi, sự hồi sinh có được là do lớp thanh niên Are-Are phát hiện lại được vẻ đẹp của nền âm nhạc truyền thống của họ, do sự trình diễn của nó dưới những điều kiện tuyệt vời ví dụ như được thu lại và rồi được phát trên máy hát.

Loại âm nhạc này đến từ Pháp, hay nói cách khác nó xác nhận sự ủng hộ của nước ngoài.

Hơn nữa, nó đặc biệt hay và giá trị nghệ thuật của nó thường làm xúc động người nghe.

Cũng một loại âm nhạc này mà do bốn người Are-Are già chơi bên cạnh lò sưởi sẽ không gây ấn tượng với thanh niên Are-Are, những người tích cực noi gương phương Tây với những chiếc đàn ắc-coóc và đàn organ điện của họ.

Trong trường hợp thứ hai, chính sự nhắc đi nhắc lại luận điểm về việc hát ru của các bà mẹ, đã thuyết phục được người Việt Nam về ảnh hưởng của các bài hát ru tới cách cư xử có đạo đức và khả năng sáng tạo với người Việt Nam.

Qua các ấn phẩm của mình, các nhà thơ, các nhà nghiên cứu đã dành cho bài hát ru những lời lẽ cao quý, gợi cho những người già về thời thơ ấu của họ, và thu hút sự quan tâm thích thú của lớp trẻ qua âm điệu du dương, đơn giản, nhẹ nhàng và những lời thơ mộng.

Ngày nay người Việt Nam đã trở lại với lối sống khá là yên ả hơn. Họ quên đi những đau khổ của chiến tranh và sẵn sàng nghe và hát những bài hát ru con hơn.

Trước khi đưa ra chương trình hành động cụ thể cho việc hồi sinh di sản văn hóa phi vật chất khu vực Huế, bây giờ chúng ta sẽ phải xác định cái gì xứng đáng được gìn giữ.

III. CHÚNG TA BẢO VỆ CÁI GÌ?

Chúng ta phải giữ gìn tất cả những cái đem lại cho quần chúng đặc tính văn hóa đích thực, có giá trị nghệ thuật chân chính và có nguy cơ biến mất trong tương lai gần. Sự thông tin từ những đại biểu Việt Nam về tình trạng hiện tại của đời sống văn hóa khu vực Huế, tất nhiên sẽ giúp chúng ta lựa chọn giữa các loại hình nghệ thuật đã được thu thập, bảo tồn nghiên cứu, lưu hành và giới thiệu lại cho xã hội Việt Nam ngày nay. Ở đây chúng tôi chỉ đơn giản đề cập tới như một thí dụ về một vài thể loại âm nhạc đáng được bảo vệ.

a) Các loại hình ca múa nhạc gắn liền với cuộc sống của mỗi con người từ lúc còn nằm trong nôi cho tới khi xuống mồ.

- Đặc biệt là các bài hát ru - bài học âm nhạc đầu tiên mà đứa trẻ nhận được từ người mẹ. Cùng một lúc, nguồn sữa mẹ nuôi nấng đứa trẻ, những bài thơ hay giai điệu dân gian được in sâu vào tâm trí nó. Sau này đứa bé sẽ gắn liền tình yêu mà nó dành cho mẹ mình - với bài hát ru; một số bài hát dân gian của những vùng riêng biệt nào đó lại làm nảy sinh ra những cấu trúc âm nhạc của các bài dân ca của vùng đó.

- Các bài hát đối của trai gái, những bài tình ca mà chúng ta bắt gặp ở hầu hết các nước Châu Á. Tất nhiên có kèm theo các tập quán thích hợp. như các bài hò, đặc biệt bài Hò giã gạo ở Huế v.v...

b) Những lối hát theo nghi thức hành lễ:

- Các bài hát chầu văn.

- Những bài kinh, kinh lễ và kinh niệm (Tán, Tụng, Niệm, Độc, Thính, Bạch) trong nghi thức tế lễ của nhà Phật ở Huế.

c) Các khúc hòa tấu:

Các khúc Đại Nhạc và Nhã Nhạc cùng với toàn bộ các bàn nhạc Cung Đình; nhạc lễ cùng với các điệu múa Cung Đình.

d) Toàn bộ các điệu múa Cung Đình: Múa tứ linh, múa quạt, múa đèn v.v...

e) Hát tuồng theo truyền thống Huế:

Một vài kiến nghị về chương trình hành động cụ thể:

Mục đích của hai cuộc hội thảo của chúng ta là tìm ra những điều kiện thuận lợi cho công việc bảo vệ, phát huy và trên hết là hồi sinh di sản văn hóa phi vật chất khu vực Huế.

Không chỉ những người mang những truyền thống âm nhạc mà trên hết còn những nhà lãnh đạo chính trị, những nhân vật nổi tiếng trong nền văn hóa thế giới, và công chúng nói chung phải bị thuyết phục bởi giá trị nghệ thuật di sản văn hóa, và vì thế đồng ý với sự cần thiết của việc nó phải được gìn giữ và phát huy. Chúng phải được bảo vệ khỏi mớ âm nhạc và nhảy múa hỗn tạp kém hơn được du nhập từ phương Tây.

"Mớ hỗn tạp kém phẩm chất" này là một "căn bệnh" đối với cả các dân tộc Châu Á và Châu Phi. Chúng tôi muốn đưa ra một phương pháp chữa trị, nhưng không phải dưới hình thức đối phó với hiện tượng bên ngoài mà tham gia vào một cuộc tiến công theo các mục gạch dưới sau đây:

1) Hát ru con phải được làm sống lại để trẻ em Việt Nam có được bài học âm nhạc đầu tiên.

2) Trẻ em phải có một con đường trong sáng dẫn đến các bài ca dựa trên cơ sở các bài hát dân gian và

Chúng phải được dạy các bài hát mới được sáng tác theo kiểu truyền thống, trước khi chúng được tiếp xúc với các bài hát viết theo lối phương Tây, hoặc bài hát của các nước khác. Sau cùng, trẻ em phải được dạy tiếng mẹ đẻ trước khi học các thứ tiếng nước ngoài.

3) Các kế hoạch giảng dạy của các trường cấp II, cấp III và thậm chí cả các trường đại học cần có các tiết dạy nhạc để khiến trẻ em có thể trở nên quen thuộc, hay ít nhất có những kiến thức sơ lược về sự giàu có của di sản văn hóa dân tộc mình.

4) Báo, đài, vô tuyến và các công ty băng hình nên đảm bảo có một sự lưu truyền rộng rãi về những đặc điểm nổi bật nhất của di sản văn hóa vì lợi ích của quần chúng nói chung.

5) Các bài hát dân gian, cùng với các khái niệm sơ lược về âm nhạc truyền thống, nên được dạy ở các trường ở những trình độ khác nhau.

6) Các cuộc biểu diễn âm nhạc, ca múa và sân khấu truyền thống cùng với các cuộc thi nhạc cụ truyền thống và triển lãm nghệ thuật dân gian, phải được Chính phủ, các công ty thương mại và công nghiệp ở Việt Nam và các tổ chức quốc tế cổ vũ về mặt tinh thần và ủng hộ về mặt tài chính.

7) Những người am hiểu về truyền thống dân tộc, đã cống hiến cả đời mình cho việc truyền lại di sản văn hóa cho thế hệ trẻ, đáng được cấp bằng danh dự ở cả cấp quốc gia và quốc tế.

Dựa trên cơ sở những ý kiến trên, chúng tôi xin đưa ra những biện pháp cụ thể sau:

Kiến nghị thứ nhất: Tổ chức một cuộc hội thảo để đào tạo những người đi huấn luyện:

Những người đi huấn luyện này được tuyển chọn giữa những nhạc sĩ hay những nhà nghiên cứu âm nhạc, những người đã có một số kinh nghiệm về công việc của lĩnh vực này và sau một khóa học ngắn sẽ có thể đào tạo lại những người khác thực hiện hầu hết các công việc đơn giản.

Các thành viên bảo trợ: UNESCO, Bộ Văn hóa của nước CHXHCN Việt Nam, Bộ Văn hóa Pháp, Viện Nghiên cứu Dân tộc học Osaka.

Khoảng thời gian: Trong hai năm liền tổ chức cứ sáu tháng một đợt tập huấn hai tuần, hoặc một năm ba tuần, trong hai năm liền.

Tất cả những ai tham gia làm việc trong lĩnh vực này tìm hiểu về âm nhạc dân tộc học và thu thập các tài liệu nghe nhìn phải có được kiến thức thực tế cơ bản tối thiểu: việc chuẩn bị các băng nghiên cứu, các đoạn băng thu, băng nghe, việc sử dụng các dụng cụ ghi âm nghe nhìn - không chỉ là chụp ảnh và ghi âm mà còn là làm ra các tài liệu nghe nhìn với quan điểm nghiên cứu âm nhạc dân tộc học. Ở mức độ cao hơn, các nhà âm nhạc học phải được đào tạo để có thể phân tích những tài liệu này và viết báo cáo về các công trình khoa học dùng đúng thuật ngữ thích hợp.

Kiến nghị thứ hai: Tạo ra các khu lưu trữ băng hình, băng cát xét tại vùng Đà Lạt (nơi khí hậu thuận lợi cho việc bảo tồn tài liệu).

Các thành viên bảo trợ: UNESCO, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, thành phố Đà Lạt.

Nhìn chung, khí hậu Việt Nam là cực kỳ ẩm ướt, các loại băng từ rất dễ bị hủy hoại vì mục nát. Khu vực Đà Lạt là nơi đặc biệt thích hợp cho việc lưu trữ các tài liệu nghe nhìn đã được thu băng. Các bản sao sẽ được làm ra để trao cho Viện Nghiên cứu ở Huế.

Kiến nghị thứ ba: Nghiên cứu âm nhạc và múa Cung Đình Huế. Nghiên cứu so sánh với Gogaku và Bugaku của Nhật Bản, Ah AK của Triều Tiên và Ya-Yue của Trung Quốc.

Các thành viên bảo trợ: UNESCO, Bộ Văn hóa Việt Nam, các Viện Nghệ thuật của Việt Nam, thành phố Huế, Tổ chức của Nhật Bản, Viện Âm nhạc Seoul, Tổ chức Ford.

Gogaku của Nhật Bản nổi tiếng trên toàn thế giới.

Tại nhiều buổi liên hoan âm nhạc, Viện Âm nhạc của Cộng hòa Triều Tiên đã trình diễn Ah AK, Tang AK và Hyang Ak.

Chưa có một sách báo bằng ngôn ngữ phương Tây nào nói về âm nhạc Cung đình của Việt Nam. Khuyết điểm trầm trọng này phải được sửa lại bằng việc nghiên cứu so sánh các loại nhạc Cung đình trong các nước Viễn Đông.

Kiến nghị thứ tư: Nghiên cứu các nghi thức tế lễ Phật giáo tại Việt Nam, nghệ thuật tụng, niệm kinh theo truyền thống Huế, so sánh với những cái tương tự trong truyền thống của miền Bắc, miền Nam Việt Nam, Nam và Bắc Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên.

Những thành viên bảo trợ: UNESCO, Viện Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, Tổ chức Nhật Bản, Viện nghiên cứu Phật giáo Trung Hoa, Nhạc viện Cộng hòa Triều Tiên, Tổ chức Ford, Tổ chức Rockefeller.

Rất nhiều băng cát xét về Shomyo của Nhật Bản và Pompa của Triều Tiên đã được in ra. Việc đi sâu nghiên cứu thể loại âm nhạc của các nghi thức tế lễ Phật giáo ở trong hai nước này đã là đề tài nghiên cứu của một số công trình ở Nhật Bản, Triều Tiên và Anh. Các học giả Nhật Bản như Koizumi Fumio, Kataoka Guido và các học giả Triều Tiên như Han Man Young, Lee Wong Byong, đã không đề cập gì đến trong các công trình nghiên cứu của mình về âm nhạc Phật giáo của Việt Nam, loại âm nhạc có những đặc điểm đặc biệt thú vị; một số các bài kinh trong thực tế ở Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam đều giống nhau hoàn toàn.

Về trường hợp âm nhạc Cung đình, thiếu sót lớn về mặt thể loại âm nhạc Phật giáo Việt Nam phải được sửa chữa.

Kiến nghị thứ năm: Thành lập một lớp học đào tạo các giáo viên dạy nhạc.

Các giáo viên dạy nhạc phải quen thuộc với các bài hát dân gian Việt Nam, và có các khái niệm cơ bản về âm nhạc, để có thể truyền cho trẻ em lòng ham mê và yêu thích về di sản văn hóa dân tộc.

Các thành viên bảo trợ: Bộ Giáo dục và Bộ Văn hóa Việt Nam.

Kiến nghị thứ sáu: Tổ chức một cuộc hội đàm truyền hình quốc gia và quốc tế về giá trị nghệ thuật của âm nhạc, múa, và nghệ thuật sân khấu khu vực Huế, với sự tham gia của các chuyên gia về nhạc, múa và sân khấu khu vực Huế, và sự tham dự của các nhà lãnh đạo chính trị, văn hóa Việt Nam và khu vực Huế, cuộc hội đàm này phải được truyền hình vào khoảng thời gian thích hợp nhất mà mọi người đều có thể xem, để gợi ra những đòi hỏi về các biện pháp hành động, nhằm làm hồi sinh lại di sản văn hóa phi vật chất, các tiết học âm nhạc bắt buộc nên được thêm vào kế hoạch giảng dạy nói chung ở nhà trường, và phải tạo ra các chức vị danh dự cho những người thông hiểu và thành thạo các nghệ thuật truyền thống của khu vực Huế, cũng như các nơi khác trong nước.

Ghi lại tuyên bố về các dự định của các nhà lãnh đạo chính trị và văn hóa. Các thành viên trong cộng đồng quần chúng có thể gọi điện thoại hoặc viết tới Đài Truyền hình để bày tỏ ý kiến ủng hộ của mình.

Việc bảo vệ, phát huy và làm hồi sinh di sản văn hóa chỉ có thể thực hiện được nếu một vài kiến nghị sau đây với các nhà chức trách được tiến hành một cách có hiệu quả.

1. Dạy âm nhạc phải được coi như một môn học bắt buộc trong chương trình giảng dạy các trường cấp II và III.

2. Quyền tác giả của những người sáng tác và nghệ sĩ dân gian phải được coi trọng, bảo vệ và làm thành Luật.

3. Một chức vị danh dự giống như "viên ngọc sống của quốc gia" ở Nhật Bản, "Kho báu phi vật chất" của Cộng hòa Triều Tiên, "Pachni Sri" của Ấn Độ, nên được tạo ra ở mức quốc gia và quốc tế để tỏ lòng kính trọng với các nhà sáng tạo, các chuyên gia và nghệ sĩ truyền thống mà không cần phải thông qua sự ủng hộ chính trị.

4. Trao đổi văn hóa giữa Việt Nam và các nước ngoài phải được đẩy mạnh

5. Tổ chức những cuộc thi với các giải thưởng lớn trao cho các nhạc sĩ, những người đã có công gìn giữ và phát triển nghệ thuật truyền thống có giá trị nghệ thuật lớn, mặc cho sự phát triển của thể loại âm nhạc dễ hiểu nhằm mục đích phục vụ cho các khách du lịch.

Kết luận:

Bảo vệ di sản văn hóa của một dân tộc là vấn đề quan trọng sống còn trong việc bảo tồn đặc tính văn hóa dân tộc ấy. Nền văn hóa Việt Nam cần thiết cho xã hội Việt Nam, như cơm và nước là thiết yếu để duy trì cuộc sống của người dân Việt Nam. Đôi khi văn hóa nước ngoài cũng tỏ ra khá hấp dẫn - nó mang lại những gia vị thêm vào như những hạt tiêu và chất rượu. Nhưng gạo không thể được thay thế bằng hạt tiêu, cũng như nước không thể thay thế được bằng rượu dựa trên cơ sở nguyên tắc ăn uống cơ bản.

Văn hóa Việt Nam phải thống lãnh trong ngôi nhà Việt Nam. Các nền văn hóa nước ngoài chỉ được là các vị khách không hơn. Một vị khách mang lại niềm vui cho gia đình, nhưng chỉ ở lại một khoảng thời gian nhất định chứ không phải vô hạn định. Vị khách ấy không thể chiếm một vị trí sống trong gia đình, không thể làm thay đổi bàn thờ tổ tiên và chiếm lấy vị trí danh dự ấy cho mình, không thể mong chờ các thành viên trong gia đình phủ phục mình trước ông ta.

Văn hóa Việt Nam không phải là một tòa tháp bằng ngà với các cánh cửa bị gắn xi thật chặt. Nó phải được mở ra với các hình thức văn hóa khác. Một nền văn hóa nước ngoài có thể đóng góp một phần có lợi cho văn hóa Việt Nam nhưng không bao giờ được thay thế nó.

Bảo vệ không có nghĩa là quay trở về quá khứ, quên mất hiện tại và không chào đón tương lai. Bảo vệ là một điểm xuất phát của một quá trình phát triển mới, lên đường dựa trên cơ sở vững chắc là di sản văn hóa.

Bảo tồn không được bị lẫn lộn với bảo thủ. Phát triển không bao giờ đồng nghĩa với Tây hóa và đồng hóa về văn hóa.

T.V.K
(TCSH63/05-1994)

 

 

Các bài đã đăng