TRẦN QUỐC TUẤN
“Gọi đồng” - năng động như chính con người sống đời của anh, một con người luôn “hô gọi”, tìm đòi những “kết nối”, những “cộng hưởng” những nhịp phách liên miên cho tha thiết yêu thương. “Gọi đồng” cũng có một cuộc “lên men - gây tứ” đến vỡ rạc khôn cùng với tình yêu nguồn cội siêu thiêng.
Nhà thơ Ngô Đức Hành cố cho mọi nỗ lực níu lại bến bờ neo đậu trong nỗi tiếc xót về hương thôn nghĩa tình từng giản dị nguyên sơ, nay đang đứng trước thách thức của đời sống đương đại. Thơ trở thành lời nguyện tâm thành trước miếu đường nhân sinh/ tình người - mang mắc đậm đầy những lời run ngân thao thiết lẫn trầm mặc đạo hạnh.
Mở đầu “Mạch nguồn”, ta đã nghe tiếng “rễ tôi bám chặt rú Nghèn” - như một minh định bản thể: Dẫu mang tâm thức của “gió” - lưu đày bặt xác nhưng anh mộng sâu mình là “rễ” để neo hồn cộng tồn vào ngọn nguồn văn hóa, tâm linh, tình thái cổ… Bám riết, quấn thiết vào bầu sữa nguyên sơ, tìm trong tầng đá ong, giếng cổ, cơi trầu - những tín điều căn tính hồn quê đôn hậu, thủy chung, son sắt…
Thơ hồi quy thiêng liêng/ tĩnh khiết trong tương quan gốc rễ hình thành. Từ “vỉa đá ong mạch nước ngầm thơm bùa trinh tiết”, “giếng Chạ giấu đôi mắt tự tình duy nhất”, cho đến “rễ tôi bám nơi không có tuổi/ ngàn năm tinh khiết mạch nguồn” - đó là ngôn ngữ thổ ngơi - trong chiều kích uyên sâu vọng về. Thứ ngôn ngữ khởi thủy từ nhịp đập nơi miền đất mẹ. Thơ ở đây là một hành vi phụng tín - nâng tưởng thức thành tín điều/ tín lễ. Người viết không minh họa quê hương - Anh hóa mình thành “quê mùa” trong thần thức siêu hình.
Từ “Mạch nguồn”, thi phẩm mở ra trường cảm xoắn thắt/ ăn bắt liên hoàn: quê - mẹ - cha - làng - cây - nước - tiếng hát - nỗi nhớ. Mỗi yếu tố như mô mạch vi bào tạo tác “đồng” - Và “gọi đồng” là hành động nỗ lực đánh thức “sinh linh” ấy. Nơi “Làng tôi”, nỗi buồn hiện đại được đắp bồi bằng miếng chăn manh vải truyền thống: “phố trùm lên bê tông cốt thép/ bóng tre làng lùi vào mong ước.” Câu thơ tái cảm về nét bi thương của một nền “văn minh kim khí” đang nuốt chửng mảnh nhung mềm thuần lành quá khứ.
Ngô Đức Hành không than vãn - Anh “chiêu hồn” làng, lay động cốt văn nền nếp thức dậy giữa phong ba đô hội. “Gọi xóm, gọi làng trong trang khế ước/ thương nhớ bụi trầu ôm bóng hàng cau” - một phép chiêu mời cõi nhớ bằng thơ. Làng trong Anh không chỉ là không gian địa thể mà là biểu tượng đạo đức, luân lý trong tương quan máu thịt đã từng thịnh thế từ ngàn đời: “nhà bé nhỏ lòng người không hẹp/ xã tắc rộng dài bước chân đất nước.” Từ một làng quê, rộng ra, nhà thơ thấy tầm vóc quốc gia - cái “xã tắc vi Trảo Nha” vừa đượm vị sử quan duy vật, vừa đậm sâu triết lý: mỗi nắm đất, mỗi giọt mồ hôi dân dã đều là móng vuốt sắc lạnh bám chạm mạch đất neo giữ hồn cốt…
Từ quê, thơ bước về “mẹ” - nguồn gốc mạch nghĩa của đạo trời và lẽ sống cặn kẽ ở đời. Những câu như “Mẹ tôi trộn nắng vào mưa/ tết câu lục bát cho vừa vặn con” không chỉ đẹp về hình ảnh mà còn là một định nghĩa mới về thơ: thơ là cách người mẹ “tết” đời sống vào nhịp điệu, là trạng thái tồn tại của tình thương trường tồn. Ngô Đức Hành không tìm mẹ trong thương cùng khốn khó - gọi và gợi khổ mà dựng mẹ lên trở thành biểu tượng của sự bền bỉ và giản dị yêu thương. “Mẹ là bóng dáng làng quê/ khi con còn mẹ đường về ngắn thôi” - mất mẹ nghĩa là mất đường hướng tinh thần. Giọng điệu ấy gắn bó mật thiết với truyền thống “Công cha như núi Thái Sơn/ nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” (Ca dao), nhưng thấm đẫm hơi thở hiện đại - một tiếng nói vừa dân gian vừa ưu tư minh triết.
Từ mẹ, thơ sang “Tên cha”, giọng lại chuyển động ghì riết và giòn khô hơn, như gió Lào thổi rạc triền đê. “Gió Lào rộp phía nụ cười/ tháng 5 vác nắng tháng 10 đội đêm” - hình ảnh người cha mang tầm vóc Ngàn Hống - Hồng Lĩnh hùng vỹ - những rặng núi đá phong phanh, bất khuất hớp từng cơn nắng. Câu thơ dồn dập, khỏe khoắn, kiên trì, hiên ngang tạo nên nhịp điệu lao động nơi mảnh đất cháy đồng nung đá - một gương mặt/ diện mạo không phải “khắc khổ/khoải” mà “hoắc thước”.
Đến “Dòng đời trong, đục, nông, su/ đói no phải sạch, rách lành phải thơm” - câu thơ đã vượt khỏi tư tình cá nhân để thành mệnh đề đạo lớn. Trong “Gọi đồng”, người cha mang nguyên tắc trụ thế, người mẹ là dòng chảy mạch nghĩa - cả hai hòa làm một trong bài ca Mẹ cha, nơi thơ đạt đến mức thăng hoa trong niềm hân hưởng hiếu hạnh: “Bóng tròn cha đội lặng im/ bão giông có mẹ là bình yên thôi.” Giản dị, ít tu từ, nhưng đó là thứ giản dị đạt đến độ khái quát tâm linh.
Điều làm “Gọi đồng” khác biệt so với nhiều tập thơ về quê là ở độ sâu của ký ức và sự sực tỉnh của ngôn ngữ. “Dong riềng và mẹ” - cây trở thành linh vật gian khổ - bỉ cực: “Mẹ tựa dong riềng/ lay lắt lớn lên vượt qua ngày ấy.” Thơ về người mẹ thuần túy mà lấp lánh miền triết về sự sống - thai sinh: cái đắng cay, khổ sở, cùng quẫn là gia vị làm “Người”. Ngô Đức Hành không tả thực mà linh/sinh hình hóa vật thể - dong riềng, hoa cà, cây mít, cánh đồng… đều như hư linh, đều biết nói bằng giọng răn sửa mà ân cần của mẹ cha. Đó là mỹ/đạo học từ đồng quê khoáng giả - nơi thiên nhiên không bị đối kháng với con người mà sâu kiệt thương cùng trong đời tỏa đượm hương thơm dẫu “đất cỗi cỏ cằn”…
Anh quan niệm: “Ngày nào cũng là ngày của cha”, Tết về nhớ mẹ thương cha, Viết nhân 50 năm ngày giỗ mẹ, giọng thơ chuyển dần sang suy niệm gia cố. Nhà thơ nhìn cái chết bằng con mắt “hư vô”: “Cha theo mẹ về nơi quá xa/ nơi chỉ mây giăng, bốn mùa gió hát.” Đó không còn là một niềm tin về kiếp lai sinh: cha mẹ hòa vào mây, thành khí, thành mạch. Câu thơ dung dị mà hàm ẩn thanh âm giọng chuông giác ngộ, gợi cảm thức về sự bất tử của điều hiếu hạnh. Khi nói “ngày nào với con cũng ngày cha mẹ”, thi sĩ đã định nghĩa lại thời gian nhân sinh: trong tình cao nghĩa trọng, trong nghĩa nặng tình sâu - đời sinh ra và không tử biệt mà quả tim yêu thương mến quý trần thế thì sẽ trường cửu với thời gian và đời người.
Mệnh đề “Tôi”, Ngô Đức Hành tự họa không bằng tả chân hình/ nhân tướng, mà bằng sự giải cấu trúc bản ngã: “Tôi hạt cát miền Trung,/ gió Lào ghim vào chiều Hà Nội.” Câu thơ như một cơn gió giòn khô quét qua ký ức: con người từ miền gió Lào khát cháy mang thân phận tro trấu giữa đô thị phương Bắc. Cái tôi ấy vừa hiện sinh vừa văn hóa - khao khát hòa vào mặt đất - chân trời khác biệt nhưng vẫn “xù xì giữa thời xăm trổ”, một “hạt sém gió” đi qua cơn sốt công nghiệp để rồi “vào spa thành tượng cát tàng hình.” Câu thơ có giọng giễu nhẹ mà rờn rợn buồn xót: người miền Trung mang căn tính đói nghèo lưu neo, dù ở đâu cũng không thôi “cát ủ trong tôi cồn cào du mục”. Thi sĩ khẳng định bản thể bằng khát cháy vị quán hương quê - đó là cách anh chống lại sự mất gốc, bật rễ của thời đại.
Từ cái tôi ấy, thơ hướng về Cánh đồng, nơi gắn bó đôi bờ thực hư. Bài thơ mở ra bằng lời mời “Hãy đạp xe về phía cánh đồng/ anh thả câu ở đó” - như một hồi chuông đánh động thời/không tuổi thơ. Cánh đồng trong thơ Ngô Đức Hành không chỉ là không gian sản xuất mà là biểu tượng tồn sinh, là thân thể của quê hương. “Guồng thêm nữa em ơi/ lúa thu đông chớm thì con gái” - những câu thơ ôm vỗ theo điệu hò câu hát, hòa nhịp với hơi thở của cuộc mở đất. Anh viết về đất trời như viết về thân thể của người thôn nữ: mộc mạc, gợi cảm, thiêng liêng bất khiết. Sự đan xen giữa ngôn ngữ đời thường và thi cách cao nhã tạo nên điểm riêng độc đáo của Ngô Đức Hành: giản dị mà đậm màu khải huyền lộng lẫy.
Có khi giọng thơ cúi rục trong cơn bi cảm văn hóa: “Sáng nay đàn cò bay về thắp hương/ khăn xô trắng xóa/ có lẽ nỗi đau chẳng bao giờ lành.” Cánh đồng trở thành nghĩa trang của thiên nhiên, của quá khứ, của những linh hồn mất mát chịu đựng. Câu thơ “sông tắc sữa bầu vú căng ngực mẹ/ chảy vào biết giọt nông sâu” là một sáng tạo lạ lùng - chuyển hóa hình tượng sông thành cơ thể mẹ, nhưng nguồn sống bị ngăn dòng. Ẩn sau đó là nỗi đau đi hoang của bước chân sa lạc trong dòng người ngàn ngạt tiếng hình hiện đại - quờ quạng trở về: sông Nghèn bị chặn dòng, cũng như mạch hồi chuyển dân gian bị chia cắt bởi bầu không đô thị. Khi anh viết “Cánh đồng đầu chít khăn xô/ ngày mai cò trắng không về”, đó là lời điếu “tang tóc” cho “ba cõi” hương thôn, đồng thời là tiếng gọi khẩn thiết: hãy cứu lấy mạch nguồn hiếu hạnh và ân tình đã cũ…
Hai câu thơ “Cánh đồng đầu chít khăn xô/ ngày mai cò trắng không về”, thức tỉnh chúng ta về những điều đã mất, từ đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái; cho đến mất mát những thứ không dễ nhận ra: văn hóa làng quê, cốt cách, nhân nghĩa sau lũy tre làng - vốn là “pháo đài” về tinh thần, nơi trú ngụ của bản sắc Việt.
“Quê hương”, “Hò hẹn với quê hương” - thơ trở lại màu huyền sử lồng trong tính hồn hậu dân gian. Giọng ví giặm, ca dao, lời ru thấm đậm trong chân ngã ngôn từ. “Ví bắc cầu, cõng giặm đi đâu?” - câu hỏi tối giản mà nhiều đắng đót - tiếc xót. Đó là câu hỏi của dân ca khi đối mặt cơ giới hóa. Ngô Đức Hành ngậm ngùi đặt câu hỏi, cái ngậm ngùi mà sức ngân thống thiết: “Mỗi lần về quê tôi cố tìm tôi/ ta đã già đi nhưng quê hương trẻ mãi”, ta thấy thơ Ngô Đức Hành chạm đến triết lý của hiện sinh của cộng đồng miền Trung nói chung: con người chỉ còn được soi thông thấu đáo trong tấm gương của quê hương.
Giọng thơ chuyển dần về hiện đại ở “Những giọt mưa còn khóc” - nơi nhà thơ hòa trộn biểu tượng dân gian với ngôn ngữ đô hội. “Người ta pha loãng hy vọng vào cồn” - một hình ảnh đầy ẩn dụ về thời hiện đại cằn cỗi - tăm tối - sống sượng và đau thương. Nhưng liền sau đó, “Mây mọng nước/ trên vai người đàn ông bền bỉ hành trình” lại được dịp “đánh thức” hy vọng vào sức sống, vào hạt nhân đạo đức vẫn còn bền chảy trong tâm linh, huyết quản dân tộc. Ngô Đức Hành nhìn thực tại bằng con mắt không tẩn thấm vào bi quan, mà là con mắt của người: tự vấn, tự cứu, tự thanh tẩy và chuyển hóa trong tinh thần/ nhận thức về điều thiện đẹp mãi bất tử trường tồn với nhân gian.
“Hồn tre”, thể hiện độ sâu chín của lòng tự tôn văn hóa: “Tôi thắp hương bụi tre làng đã khuất/ tiếng điếu cày cha tôi, chiếc đòn gánh mẹ tôi.” Tre trở thành “anh hồn” của văn hóa xứ sở, là cây cột chống một đời bão táp, là sợi vô hình đan bện đôi bờ còn - mất - xưa - nay. Câu thơ “Tre thiêng liêng hiển linh về đòi tôi tiếng sáo” là vọng âm tiên tổ tìm đòi món nợ tinh thần - tiếng thơ day dứt, lật trở khi cơn bão ảo hóa ùa qua làng và nguy cơ về sự rò rỉ, vỡ rạn của bờ vách nhân nghĩa hương thôn. Thơ Ngô Đức Hành đã ý thức mạnh mẽ và cuộc “day đi đứt lại” trong mình về tiếng nói “lương tâm văn hóa” - thâm ân đối với nguồn cội linh thiêng.
Càng về sau thơ Ngô Đức Hành càng trở nên nhẹ, trong, nhưng vẫn giữ ngọc gìn vàng linh hồn đẹp nhã. Những bài như “Vườn nhà”, “Mùi ngò”, “Miền chua me”, “Mưa rào”, “Vàng thơm rơm rạ”, “Níu” phát sáng mỹ học của lẽ giản đơn - ở đời giản dị thực tế nó là sự “nỗ lực” lớn, dễ gì ta được sống trong lối buông tuồng mộng tưởng vạn lụy để trở về với bản thể tự tại, vốn có của ngày chưa đen đúa điểm tô cho phù phiếm, phụ họa cùng nhân sinh tồn tục: “Mùi ngò thơm lan tỏa!/ Em ơi mùa xuân vun vào năm tháng” - đó là nghệ thuật tinh luyện ngôn từ đời sống thành đạo lý thi ca. Và khi khép lại tập thơ bằng “Níu vào cây lúa quê ta/ níu vào câu hát của bà mà vươn”, thi sĩ đã khẳng định: thơ là hành vi/ cử chỉ níu giữ linh hồn - cốt cách Lạc Việt trước cơn gió bụi phong hóa của thời đại - dưới trời Nam.
T.Q.T
(TCSH59SDB/12-2025)
----------------
“Gọi đồng”, Nxb. Văn học, 3/2025.