PHẠM PHÚ PHONG
Trong phong trào đấu tranh của tuổi trẻ đô thị miền Nam, Trần Quang Long là một trong những gương mặt tiêu biểu cho vẻ đẹp cường tráng về ý chí và nghị lực, về niềm tin và thái độ dấn thân đi về phía nhân dân bằng tất cả sức mạnh của tuổi trẻ và tấm lòng của người trí thức yêu nước.
Quê gốc ở Bát Tràng (Gia Lâm, Bắc Ninh, nay là Hà Nội), sinh ra và lớn lên ở Huế, Trần Quang Long đã được thừa hưởng và hun đúc bởi những phẩm chất văn hóa đã trầm tích lâu đời của hai vùng văn hiến đầy bản lĩnh của văn hóa Việt. Cốt tử của đời sống tinh thần người Việt (đất nước nằm ven biển trên bản đồ thế giới luôn bị các cường quốc xâm lăng) là văn hóa yêu nước. Những gì tích tụ của Bát Tràng qua một nghìn năm Thăng Long không hiện nên hình vóc, mà ẩn sâu bên trong, từ trong máu thịt tràn khắp hình hài. Nhưng văn hóa Huế, nơi tiếp nối, chuyển giao và lan tỏa đã hình thành nên vóc dáng một người thanh niên, khi chưa tròn tuổi đôi mươi, thuở còn học sinh Trường Quốc Học Huế đã vững niềm tin vào tình yêu con người, và cũng từ đó mà hình thành nên tình yêu Tổ quốc, qua những con người cụ thể mà có niềm tin và hành động dấn thân vì cuộc sống của nhân dân, vì độc lập, tự do của dân tộc.
Khác với Bát Tràng Hà Nội, Huế nơi sinh ra và lớn lên hiển hiện một cách cụ thể trong dáng hình sông nước, khu vườn, nắng gió, những ngôi nhà từ thuở ấu thơ, cả trong ký ức lẫn trong thơ ông. Năm tháng đã qua đi, tất cả mọi điều rồi cũng sẽ đổi thay, may ra còn sót lại trong ký ức người đang sống. Trong thảm cỏ xanh tươi màu ký ức về người anh trai của mình, người em gái út Trần Thị Kiên Trinh nặng đầy cảm xúc khi trở về căn nhà đã từng gắn bó với Trần Quang Long từ thuở nhỏ: “Tôi đứng đây nhìn căn gác nhỏ, vừa xa lạ lại vừa thân quen. Không còn bảng hiệu Quảng Thành bán đủ loại hàng hóa. Không còn tiếng trẻ nô đùa sau những cánh cửa mở rộng. Không còn biển số căn nhà 61 Huỳnh Thúc Kháng. Không còn hàng dừa xanh rủ bóng bên đường. Cũng không còn những bè tre tấp nập san sát mặt sông. Có lẽ sự gắn bó rồi chia tay với căn nhà ấy đã gắn liền với cuộc đời anh tôi... Tuổi thơ và một thời trai trẻ của anh đã lớn lên ở đó. Một chút trữ tình lãng mạn của làng quê Kinh Bắc. Một chút nên thơ của xứ Huế mộng mơ đã cho anh những bài thơ tình một thời được một số nữ sinh chuyền tay nhau chép nắn nót trong mỗi trang vở học trò.” [1, tr.31-32]. Cũng từ đây, từ những trang thơ tình nhuốm màu thời cuộc, ướt đẫm nước mắt bởi khói lửa chiến tranh, Trần Quang Long tham gia phong trào tranh đấu và trưởng thành thông qua lý tưởng từ ánh sáng của niềm tin.
Ngay từ khi đang học ở Trường Quốc Học Huế, Trần Quang Long đã làm thơ, thức tỉnh và kiên trì tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, xuyên suốt cho đến thời gian học ở Đại học Sư phạm Huế và những năm tốt nghiệp ra trường đi dạy học ở Quy Nhơn và Cần Thơ, mặc dù luôn bị nhà cầm quyền Sài Gòn lúc bấy giờ khủng bố, bắt bớ, tù đày và tra tấn dã man. Hai lần bị bắt vào tù, bị đánh đến mức gãy cả chân,... là những trải nghiệm khắc nghiệt, làm sang chấn tâm hồn nhưng vẫn không làm giảm đi bầu nhiệt huyết trong ông. Ngược lại, nhờ thế ông có nhiều bài thơ hay như Chiều mưa trong tù, Tiếng hát người tù hoặc truyện ngắn Bông cúc vàng - một truyện ngắn phóng túng, tài hoa, có sự hòa quyện hương vị của tình yêu đôi lứa như một đóa hoa vừa chớm nở và tích tụ bền chặt vẻ đẹp lý tưởng của một người biết hy sinh vì Tổ quốc: “Người con gái có lẽ tên là Cúc. Anh nghĩ vậy và thấy lòng mình xao xuyến, nao nao một tình cảm nhẹ nhàng. Những cánh cúc xòe ra như những ngón tay đang chờ những ngón tay nắm lấy, có những cánh hoa còn búp đang xoắn chặt lại với nhau khăng khít tin yêu. Có những ngọn lá màu lục non đang vươn lên, đang lả xuống, dịu dàng như những con mắt to đang mở rộng nhìn vào khoảng không. Có thể, người con gái ấy không mang tên Cúc. Nhưng có hề gì. Đóa hoa cúc vàng mãi mãi là đóa Hoa Cúc Vàng nổi bật giữa nền vải trắng, nổi bật giữa cảnh sống u tối, để từ đó, thấy được một vẻ đẹp huy hoàng vẫn mãi mãi bất diệt trong tâm hồn anh, trong tâm hồn những người thương mến nhau” [2]. Thời dạy học ở Cần Thơ (1965 - 1967), ông thường về Sài Gòn và có mặt trong phong trào đấu tranh đô thị với chức vụ Chủ tịch Hội Sinh viên Sáng tác thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Những tờ báo, tạp chí yêu nước và cách mạng mà ông đã tham gia như: Đất mới, Dân, Sinh viên Huế, Vietnam Vietnam (xuất bản ở Huế), Sinh viên Sài Gòn, Tin văn, Đất nước (xuất bản tại Sài Gòn)... Trần Quang Long viết nhiều thể loại, là tác giả tập kịch thơ Tiếng gọi Lam Sơn (1966); tập truyện ngắn Bông cúc vàng (1967); hai tập thơ Vực thẳm và hy vọng (1966) và Thưa mẹ, trái tim (1974), là tập thơ mà Nhà xuất bản Giải phóng đã sưu tập thơ ông từng in rải rác trên các báo để in thành tập, sau khi tác giả qua đời đã hơn 6 năm. Nếu được kể thêm, còn có Trần Quang Long - cuộc đời và tác phẩm, là tuyển tập thơ, kịch thơ, văn xuôi và hồi ức kỷ niệm của bạn bè, do Nguyễn Hữu Ngô, một trong những người bạn thân thiết, đồng thời sau này là em rể của ông, tổ chức bản thảo và được Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2005. Tuy viết nhiều thể loại, nhưng thành công nổi bật và khẳng định phẩm chất và tài năng văn chương theo “kiểu Trần Quang Long” hơn cả là ở thể loại thơ, nhất là hai mảng đề tài trọng tâm chi phối hầu như toàn bộ cảm thức sáng tạo của ông là thơ tình yêu và thơ tranh đấu.
Căn cứ vào ngày tháng sáng tác được ghi vào cuối các bài thơ, có thể nhận ra Trần Quang Long đến với thơ từ cuối những năm năm mươi, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, khi ông còn học trung học, đã bắt đầu bằng những bài thơ tình giàu cảm xúc lãng mạn, nhẹ nhàng, đơn thuần thiên về nội cảm và trẻ trung, trong sáng (Nghiêng nón, Tình yêu đi qua, Ngày đó chúng mình, Chưa ngỏ, Lời gọi, Ai có biết...). Đó là những cuộc tình đơn phương, thầm lặng, chỉ để “cho chàng làm thơ, cho chàng ngẩn ngơ” (Nghiêng nón), bởi vì người mới bước vào đường tình thường luôn sớm nhận ra rằng: “Tình yêu là buồn thương những ngày xa vắng/ Là nhớ nhung sầu muộn suốt canh dài/ Những chữ trắc bằng tràn ngập tên ai/ Và chỉ dám ngâm một mình trong bóng tối” (Ai có biết). Có những câu thơ hay, không chỉ đáng để “một thời được các nữ sinh chuyền tay nhau chép nắn nót trong trang vở học trò”, mà sẽ còn nhiều thời, nhiều thế hệ nữ sinh khi mới chớm yêu đều miên man say đắm:
Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh mầu
Sẽ làm khô làn môi em dịu ướt
Còn tia mắt anh...
Có sao đâu mà em cúi đầu từ khước
Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
Sao mười ngón tay em bỗng cuống quýt đan nhau
Nửa vành má em bỗng thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước anh nghe chừng sai nhịp
(Nghiêng nón, 1960)
Trần Quang Long vốn là người yêu nhiều, kể cả ngoài đời và trong thơ. Và, quả thật ở cả hai lĩnh vực, ông đều nỗ lực và bền lòng theo đuổi đến tận lúc đi xa. Một trong những người bạn thân cùng thời, cùng học với ông là võ sư, nhà giáo, nhà viết du ký tài hoa Nguyễn Văn Dũng trong hồi ký Trần Quang Long, lớn lên không ngừng, từng kể lại rằng: “Trong tình yêu, Long thuộc loại đa tình thiên cổ lụy. Tôi có anh bạn nhà thơ nổi tiếng tài hoa. Theo anh, “người ta có thể cùng một lúc yêu nhiều người.” Trái tim rộng lớn là thế nhưng so với Long thì chẳng ăn thua gì. Long có thể yêu hết mọi cô gái trên đời, hễ gặp là yêu - yêu chân thành, yêu say đắm, yêu bát ngát càn khôn” [3, tr.39]. Còn trong thơ, hẳn nhiên cũng không thể thiếu hình bóng những người phụ nữ. Con người kiêm ái ấy, buộc phải tự đánh thức trái tim mình trước những sinh thể cảm tính đậm đặc nội dung mỹ cảm, không chỉ là hạt nhân làm nền cho cảm xúc, mà cao hơn, còn định hình cho cảm xúc, đã tuôn trào và kiến tạo nên một thế giới hình tượng, mang vẻ đẹp rạng ngời, vừa thánh thiện, tinh khôi vừa quyến rũ gọi mời. Chỉ cần lướt nhanh tựa đề các bài thơ, các lời đề từ, đề tặng... cũng có thể nhận ra bóng dáng các đối tượng trữ tình đã thu hút năng lượng cảm xúc tâm hồn ông: Tố Chân, Tháng năm nhớ Cúc, Đêm Diệm, Viết cho Phan trong những giọt nước mắt lạ, Viết cho Nguyệt, Của Trâm để nhớ trăng Linh Mụ, Của Đoan chiều Chủ nhật, Tặng Bé chị... Có khi ông tự tha thiết với mình rằng: “Anh gọi hoài em ơi Ngọc ơi/ Anh gọi hoài mà em không trả lời” (Chủ nhật không về); hoặc khi trong lòng đã vang lên thành tiếng nói, nhưng bên ngoài vẫn chẳng dám tỏ bày: “Thương Liên, thương biết mấy cho vừa/ Song anh vẫn cúi đầu đi im lặng” (Tiếc nuối); hoặc có khi lại tôn cao thánh thiện: “Anh sẽ hát bài thánh ca im lặng/ Maria Tố Chân/ Anh yêu em vô cùng...” (Tố Chân). Tình yêu trong thơ ông, hầu như đều là những mối tình lặng thầm, chưa ngỏ, vừa thánh thiện vừa chân chất, mang đậm cảm hứng đợi chờ, khắc khoải và tôn thờ qua những lần chia xa hay bồi hồi nhớ lại. Càng về sau, nhất là thời gian ông hoạt động trong phong trào sinh viên Sài Gòn, thơ tình của ông không còn cảm hứng và âm hưởng lãng mạn, trong sáng mà đã nhuốm màu thời cuộc, in đậm vết hằn của nỗi đau mất nước, nỗi thống khổ của một cuộc sống bất an bởi chiến tranh và sự rạn vỡ của một trật tự xã hội không thể hàn gắn:
Có phải không Tố Chân
Người em gái hiền lành
Người bạn đời chân thật
Người yêu dấu tim anh
Chúng ta đã bao nhiêu lần chong đèn thức đợi
Chờ qua...
Những đêm dài tăm tối
Những đêm dài tội lỗi
Những đêm dài chiến chinh
(Tố Chân)
Khác với nhiều người cùng thế hệ, cùng tham gia phong trào đô thị, đối với Trần Quang Long không hề có bước chuyển giao rõ ràng giữa thơ tình và thơ tranh đấu. Những bài thơ tình của ông, nhất là những bài ông sáng tác vào cuối những năm sáu mươi (Nỗi buồn tình yêu, Trên chuyến xe về Long Xuyên, Ám ảnh...) đều có sự hòa quyện giữa tình yêu và ý thức đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Cũng khác với một số trí thức của phong trào, đến với cách mạng với nhiều lo âu, trăn trở, thậm chí có người cuối cùng vẫn đứng lại bên bờ an phận định vị bản ngã của mình chỉ là người yêu nước (như A. Tolstoy đã từng nói đến trong Con đường đau khổ), Trần Quang Long đi về phía cách mạng với tất cả sự hồn nhiên, hồ hởi, trong sáng, mang vẻ đẹp trong veo của người đã tìm ra Chân lý, nhìn về phía ánh sáng của chân trời lý tưởng mang vóc dáng hiên ngang và vẻ đẹp kiêu hãnh đầy niềm tin son sắt. Hơn nữa, niềm tin về lý tưởng đó đã hình thành/ đúc thành khối kim cương trong suốt trong ông từ rất sớm. Chắc chắn là nó đã thấm vào máu thịt từ trước đó rất lâu, để đến khi chạm đến ngưỡng cửa tuổi đôi mươi, ông bộc lộ ra rằng:
Đâu cánh tay Trường Sơn tha thiết ôm trời
Những đêm thức mắt ngời xây lý tưởng
Những mộng mơ bay vút trời cánh phượng
Trọn đời hải hồ không mỏi chí hiên ngang
(Hai mươi ba)
Yêu nước và dấn thân trên con đường tranh đấu chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, mục tiêu hướng đến hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc là niềm tin và khát vọng thiêng liêng của cả dân tộc, của tất cả mọi người dân Việt sống ở cả hai miền Nam Bắc. Nhất là đối với tuổi trẻ học đường ở các đô thị miền Nam, điều ấy không chỉ là mục tiêu, khát vọng mà còn là đòi hỏi riết róng, là ý thức dấn thân, là âm thanh, tiếng gọi lên đường. “Phong trào” là số đông cùng tâm huyết, đồng lòng tham gia để làm nên nghĩa lớn. Thực trạng cuộc sống xã hội miền Nam thời bấy giờ, đã tác động mạnh mẽ vào tâm tư tình cảm của người trí thức, nhất là đối với người sáng tạo văn học, những người mang sứ mệnh đánh thức thiên lương con người, ngợi ca cái đẹp, chống lại cái xấu, ác, thói áp bức, bất công. Thảm trạng của một xã hội thực dân kiểu mới, một xã hội tiêu thụ nhằm phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược, với bao nỗi bất hạnh, khổ đau phủ bóng lên đời sống con người. Nỗi đau đối với người thường chỉ đau một, nhưng đối với người trí thức, với thi nhân nó đau lên gấp mười. Lại thêm sự tác động của các trào lưu triết học hiện sinh phương Tây tràn vào miền Nam, tác động đến thế hệ trẻ tạo nên sự khủng hoảng, hoài nghi, cô đơn và không ít người bị tha hóa, luôn sống trong sự bế tắc, không còn có ngày mai. Nguy cơ có sự đứt gãy với truyền thống quá khứ, nếu như cuộc chiến cứ kéo dài. Những người tham gia phong trào, là bộ phận tiến bộ, là những người níu giữ truyền thống, biết chọn lựa và tiếp thu những phần tinh túy của những trào lưu triết học ấy, thay vì nổi loạn, họ biết xếp hàng vào đội ngũ những người yêu nước, biết dấn thân đi về phía cách mạng. Ví như trường hợp Trần Quang Long, sau nhiều năm tham gia phong trào đấu tranh đô thị, nhiều lần bị bắt bớ tù đày, đã bí mật thoát ly ra vùng giải phóng, và là thành viên của Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam. Với những phẩm chất tốt đẹp của người trẻ tuổi thương yêu đồng bào, là nhà thơ đau đớn trước nỗi đau của đồng loại, ông không chỉ phản chiến - phản đối chiến tranh, mà còn lên án tố cáo trước bức tranh xã hội đen tối và vạch trần những gì ngụy tín của cuộc chiến tranh xâm lược. Nhiều bài thơ của ông đã tập trung thể hiện chủ đề này như Hồi kết cuộc, Nhận diện, Hoạt cảnh, Bài học cuối năm, Buổi sáng ở đống rác... Với trái tim nhạy cảm của một nhà thơ luôn nhiệt huyết với đất nước, ông đã nhận ra: “Nhưng giữa mùa đông đời sống nhục/ Bỗng sáng bừng lên một ánh hồng/ Ngày qua như một dòng nước mắt/ Đã bốc thành hơi lên khoảng không” (Huế ơi). Đằng sau hệ thống ngôn từ, âm vang từng câu chữ là sự dậy sóng nóng bỏng dâng trào cảm xúc, có thể hình dung ra như những bức tranh liên hoàn về cuộc sống khốn khổ của đồng bào và sự thức tỉnh của cả một thế hệ trẻ đi về phía chân lý, và ông cổ vũ:
Con đường cách mạng còn chưa vững
Bằng hữu dìu nhau bước bước đi
Phan, Ngô, Tường, Ngọc, ôi bè bạn
Tôi gọi tên anh, anh có nghe
(Huế ơi)
Thơ không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống đầy bất an mà còn vạch trần căn tính bản chất của chiến tranh xâm lược, không chỉ gây nên những chấn thương tinh thần mà còn là những chấn thương văn hóa, di chứng dài lâu. Những bài thơ hay, mang cảm hứng như “tiếng hát những người đi tới” của Trần Quang Long, được lưu truyền trong tuổi trẻ các đô thị miền Nam là Thưa mẹ, trái tim; Ta đi tới; Chúng ta bước đi; Tiếng hát người tù; Lớn lên không ngừng; Huế ơi... trong đó, có những câu thơ không chỉ được coi như một tuyên ngôn nghệ thuật, mà còn là sự cam kết của nhà thơ, của cả một thế hệ tuổi trẻ với Mẹ - Tổ quốc, với đất nước mình:
Con sẽ vót nhọn thơ thành chông
Xuyên vào gan lũ giặc
Con sẽ mài thơ như kiếm sắc
Chặt đầu văn nghệ tay sai
Trả thù cho cha, rửa hờn cho nước
Cho con ngẩng đầu nhìn thẳng tương lai
(Thưa mẹ, trái tim)
Chủ đề về đấu tranh chống “văn nghệ tay sai”, bồi bút, chống phá phong trào đấu tranh cách mạng, còn được nhà thơ trở lại trong kịch thơ Tiếng gọi Lam Sơn, khi khắc họa chân dung ba nhân vật trí thức đại diện cho ba kiểu trí thức thời đại: người trí thức yêu nước, dấn thân đến với phong trào khởi nghĩa chống ngoại xâm như Quang Dũng; cũng có người “trí thức trùm chăn”, cam chịu, bất lực trước tội ác xâm lược như Duy Lý và cũng có loại trí thức ích kỷ, chỉ biết lo cho bản thân, cam tâm làm tay sai cho giặc như Lê Kim... Vở kịch khá đặc sắc, khi Trần Quang Long mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, lại còn công khai gọi những người tham gia kháng chiến là “du kích quân”, mặc dù được sáng tác năm 1966, khi còn hoạt động ở nội thành Sài Gòn.
Thơ Trần Quang Long luôn đầy ắp cảm xúc, mạnh mẽ về âm thanh, dậy sóng về ngôn từ. Đọc thơ ông, là tiếp cận hệ thống ngôn từ mộc mạc, giản dị, mang ý nghĩa trực tiếp như tiếng nói vang vọng từ đời sống cần lao, nhưng lại luôn có sức quẫy đạp, tung phá từng lớp sóng ngôn từ, khi thì mơn man, dịu nhẹ đằm vị sắc màu mỹ cảm, khi lại vút cao, vây phủ trùng lấp lên nhau thao thiết, gọi mời. Ông quen thuộc và thành công với thể thơ tám chữ và thơ tự do, rất ít khi đến với thể thơ truyền thống lục bát, như nhiều nhà thơ khác. Dường như cảm xúc lúc nào cũng dồn về nén chặt, đầy ắp tâm hồn ông, luôn đòi hỏi cần phải bộc lộ, mà một khi đã nói ra thì chỉ có sự phóng túng của thể thơ tự do, không gò bó về số câu, số chữ mới truyền tải hết những gì trĩu nặng trong ông. Câu thơ tự do là hiện thân của khát vọng tự do, lối sống mạnh mẽ trong cuộc đời của thi nhân. Kể cũng lạ, trong con người chỉ đi ngang qua cõi đời 27 năm, lại chứa đựng nhiều khối mâu thuẫn: xuất thân là gia đình theo đạo Tin Lành, nhưng lại dấn thân vào những cuộc đấu tranh thường được khơi mào từ Phật giáo! Luôn cháy bỏng trong lòng những mối tình đượm lửa, lại không dám tỏ bày, mà ngoảnh mặt lao vào cơn lốc của cuộc đấu tranh!... những điều ấy chỉ có thể giải thích rằng, nó được dồn nén từ sức mạnh của lòng yêu nước vô bờ bến. Đức tin từ đấng tối cao lòng lành hun đúc trong con người ông đã chuyển sang thành niềm tin tưởng mãnh liệt vào lý tưởng cách mạng. Tình yêu vô bờ, say đắm, “yêu hết mọi cô gái trên đời” đã tạo thành sức mạnh đấu tranh để bảo vệ, gìn giữ cái đẹp - vừa thánh thiện, rực rỡ vừa sáng trong, tràn đầy sức sống, cần được chở che, trước mối họa xâm lăng. Nhìn ảnh chân dung ông, đọc hồi ức kỷ niệm của những người cùng thời với ông, và nhất là buông hồn trôi theo nhịp điệu câu thơ ông, mới cảm nhận và hình dung ra chân dung một thanh niên điển trai, có sức sống mạnh mẽ, tự tin, phóng khoáng, tuổi đời mãi dừng lại ở tuổi đôi mươi (ở cái ngày 11/10/1968 định mệnh, bom đạn đầy trời ở Tây Ninh), đang đi lại nói cười, hỏi nhỏ người yêu:
Bây giờ em đi xa
Một mình anh ở Huế
Những lá thư xanh thay nhau kể lể
Chuyện từng chiều nắng đêm mưa
Gốc đào ngõ hẹn, gác nhỏ môi xưa
Anh muốn hỏi em thật nhỏ
Bao nhiêu lần anh nói yêu em rồi em đếm hết chưa?
(Câu hỏi em)
Trần Hữu Tá, một nhà nghiên cứu gần như suốt cả cuộc đời nghiền ngẫm văn học cách mạng/ giải phóng trên mảnh đất miền Bắc, khi tiếp cận với văn chương yêu nước các đô thị miền Nam, đã phải ghi nhận về đóng góp của Trần Quang Long rằng: “Nhiều bài thơ của ông (Lớn lên không ngừng; Thưa mẹ, trái tim...) được phổ biến sâu rộng trong sinh viên học sinh thành thị miền Nam, lay động tâm hồn họ bằng cảm hứng sử thi và tình cảm chân thành tha thiết” [4, tr.1798]. Đó chỉ là ghi nhận chủ yếu về thơ tranh đấu. Còn về thơ tình của Trần Quang Long, chắc chắn sẽ còn sống mãi với thời gian, khi nào và với những ai, còn biết sống, biết yêu, biết cảm xúc như một con người. Rồi sẽ còn có nhiều người yêu nhau, hay hoài niệm về tình yêu thời tuổi trẻ của mình, đọc thơ ông, nói về ông. Người ta nói về ông, ngay cả khi chỉ đi trên con đường mang tên ông. Mới nghiệm ra rằng, cuộc sống của con người đôi khi là vô bờ bến. Người ta chỉ sợ rằng, mình đã chết khi đang còn sống. Lỗ Tấn có lý khi nói rằng: “Người chết chỉ thật sự là chết, khi nào hoàn toàn không còn sống trong lòng những người đang sống.”
P.P.P
(TCSH450/08-2026)
__________________
[1] Trần Thị Kiên Trinh (2005), Anh vẫn sống trong lòng mọi người, in trong Trần Quang Long - cuộc đời và tác phẩm, Nxb. Thuận Hóa. Thơ trích dẫn trong bài đều lấy từ sách này.
[2] Trần Quang Long (1967), Bông cúc vàng, Trình Bày xuất bản, Sài Gòn.
[3] Nguyễn Văn Dũng (2005), Trần Quang Long, lớn lên không ngừng, in trong Trần Quang Long - cuộc đời và tác phẩm, sđd.
[4] Trần Hữu Tá (2004), Mục từ Trần Quang Long, in trong Tự điển văn học, do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (đồng chủ biên), Nxb. Thế giới.