Tác giả-tác phẩm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
14:48 | 24/09/2026

HỒ THẾ HÀ

Đọc và thích thơ La Mai Thi Gia trên dưới 10 năm. Khoảng thời gian đó đủ để tôi từ tin yêu, hy vọng đến khẳng định một tài thơ với một hồn thơ không bao giờ tĩnh tại, luôn xôn xao tỏa phát.

Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Ảnh tư liệu

Thơ Thi Gia ổn định và vận động trên cái nền thi pháp vững chắc bằng cái nhìn nghệ thuật đậm thiên tính nữ và cái tôi đang tư duy luôn dựa vào chính mình để kiến tạo nên thế giới nghệ thuật thơ mang cá tính sáng tạo riêng. Mà cụ thể là sự xác lập cái tôi trữ tình/ hình tượng tác giả, kế đến là thể loại, cảm hứng nghệ thuật. Và cuối cùng là ngôn ngữ và giọng điệu.

Hình tượng tác giả ở đây chính là La Mai Thi Gia đóng vai trò cái tôi trữ tình ngôi thứ nhất đang cảm nhận và thể hiện mình cùng thế giới khách quan bằng tiếng nói thi ca phù hợp với từng cảm xúc và trạng huống; còn nhân vật trữ tình của bài thơ ở đây là những con người, thiên nhiên, cảnh vật mà nhà thơ chiếm lĩnh, gắn bó và yêu quý. Thể loại mà tác giả ưu tiên sử dụng chủ yếu là các thể thơ vốn có của thơ Việt hiện đại, đặc biệt là thể thơ tự do mới, mỗi bài nhiều khổ, mỗi khổ 4 câu với số từ dài ngắn khác nhau, gieo vần theo các kiểu quen thuộc như vần liên tiếp (consecutive rhyme), vần gián cách (spaced rhyme), vần truyền thống (traditional rhyme)… để tạo nhạc tính dễ thuộc, dễ nhớ. Cảm hứng nghệ thuật ở đây là cảm hứng trữ tình đời tư và nhân sinh - thế sự để tự tình, lãng du, tâm tình và đối thoại cùng nhiều đối tượng. Cuối cùng là ngôn ngữ giọng điệu, ở đây là ngôn ngữ đời thường, gần gũi, tạo thành giọng điệu giãi bày giàu chất dân gian, chiêm nghiệm pha chất tự thoại, tự vấn. Tất cả đều toát lên không khí gần gũi, dân chủ và trữ tình sâu lắng, đậm căn cước thơ La Mai Thi Gia.

Từ những vấn đề có tính lý luận về quá trình sáng tạo như trên, tôi muốn lần theo tập thơ Gia ơi, Đời xanh đấy!1 để tìm hiểu và giải mã thơ chị ở những nội dung tạo thành hồn thơ và thi pháp thơ căn bản nói trên. Mà cụ thể ở tập thơ này là chủ đề tình quêtình yêu.

Bắt đầu là tình quê và nỗi nhớ quê đến day dứt trong những tháng năm ly hương sầu xứ mà chị luôn thao thức muốn quay về. Niềm nhớ ấy, chị thổ lộ cùng mẹ, cha và những người thân yêu nhất bằng tiếng quê/ giọng quê thiêng liêng xúc động: “Ba ơi!/ 18 năm lần đầu tiên con biết nhớ/ Biết thương cái giọng nói quê mùa của bè bạn đã xa”. Đó là âm thanh đồng vọng trong hiện thực và cả trong giấc mơ của Thi Gia đến thiết tha, buốt nhức: “Những cánh thiệp hoa/ Những lời chúc bay qua đường bưu điện/ Đến với con trong câu hát/ Chúc mừng sinh nhật kẻ ly quê”. Tiếng quê là tiếng của ông bà, mẹ cha nhắc đứa con bé bỏng xa quê ngày nào, giờ đã là cô gái tuổi mười tám, đôi mươi, khiến chị quay quắt nhớ ngày ba tiễn con lên tàu xa xứ với tâm trạng xót xa khi liên tưởng đến thân phận nàng Kiều hồng nhan, bạc phận:

Mai con về khi tuổi 18 đã qua
Nối lại câu Kiều miền Trung khi xưa
Lúc tiễn con lên tàu ba nghẹn ngào làm đứt
Để thảng thốt lòng khi biết mình không ở lại
Dụi mặt vào lưng ba con khẽ thầm thì
Tiền Đường đưa Kiều đi mô rứa ba ơi?
                                   
(Tiếng quê)

Chính từ nỗi nhớ đó, cái tôi trữ tình tác giả xuất hiện cụ thể để phản ánh chính mình và những đối tượng chung quanh mình bằng nhiều con đường của cảm xúc và tâm trạng. Là cây bút nữ trẻ, nhưng Thi Gia đã có giọng điệu già dặn kiểu hành phương Nam như Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm trước đây khi nghĩ về quê nhà để thành khúc ly quê hề!: “Quê hương lớn lên trong ta từng ngày như vũ trụ/ Vũ trụ quê hương, vũ trụ ta hề/ Quảng Nam, Quảng Nam!/ Quê cha đất mẹ/ ai ra đi mà không nhớ không thương/ Ta ra đi mà mong quay trở lại/ Về với mẹ ta, cha ta, Tam Kỳ ta, Quảng Nam ta hề/ Quê ơi, quê ơi!/ Lũy thừa nỗi nhớ/ Dâng lên ngập trời!” (Khúc ly quê). Lũy thừa nỗi nhớ là cách nói ẩn dụ của tác giả để nhân tâm trạng nhớ lên nhiều lần theo thời gian: dai dẳng và không giới hạn. Cho nên với mẹ, cha - những người thương yêu nhất nơi quê nhà thành đối tượng trữ tình mà tác giả luôn buốt nhắc, muốn được quay về sum họp: “Mẹ!/ Con đau về phía trái/ Nơi chốn ngàn thương trăm nhớ dồn về/ Con không thể chờ lâu thêm nữa/ Đã đến ngày về nơi con gọi là quê”. Mỗi lần nhớ quê là mỗi lần dòng máu trong con cựa quậy: “Mẹ!/ Con đau ngay phía rốn/ Nơi bờ nhau có hơi thở mẹ truyền/ Nơi sự sống dẫn vào con từ mẹ/ Gốc chuối vườn nhà, cọng dây rốn chôn sâu”. Nỗi đau lây lan trên thân thể chị như một thứ ngôn ngữ kỳ lạ nhất có liên quan đến các thần kinh giác quan làm thay đổi từng nhịp sống chính bên trong con người chị từ khi được sinh ra đến thời thiếu nữ và lúc trưởng thành làm vợ, làm mẹ: “Mẹ!/ Con đau ngay bầu ngực/ Nơi vẫn cưu mang thương ái ngọt ngào/ Nơi cơn khát tình yêu và khát sữa/ Đã nhiều lần làm con khóc vì đau/ / Mẹ!/ Con đau từ phía dưới/ Quặn từng cơn thời con gái dại khờ/ Đêm giông ấy bỗng dưng mà con lớn/ Sau một lần đau đến ngẩn ngơ/ /Mẹ!/ Con đau khi rời mẹ/ Và đau khi con làm mẹ con mình/ Ai đó bảo cửa sinh là tử huyệt/ Chôn những người con gái chớm đôi mươi!”. Bài thơ xúc động nên tôi trích nguyên để trọn vẹn ý nghĩa nhân bản của nỗi đau về sự hiện hữu nữ giới trên trái đất khi chị được sinh ra từ mẹ, được làm con của mẹ và được làm mẹ của con mình:

Đau lần nữa, đau thêm ngàn lần nữa
Từ những cơn đau mà hóa phận người
Mẹ,
Có phải ngày sinh con mẹ khóc?
Nên đến bây giờ tim đau mãi mẹ ơi!

           (Từ những cơn đau mà hóa phận người)

Nỗi nhớ ấy thành ẩn dụ để nói lên nhiều nội dung có liên quan đến sự sống của con người, nhưng trước hết là của chính người thơ. Với mẹ cha, đó là quan hệ thiêng liêng khởi đầu cho mọi quan hệ hiện sinh bản chất khác của La Mai Thi Gia: “Ngày mẹ sinh em trời sao chẳng xót thương/ Cứ tơi bời giông gió/ Cha cười, chắc là trời muốn xua đi nghèo khó/ Cho mai này con gái được hiển vinh// Ngày mẹ sinh em/ Năm nay/ Em chỉ có một mình/ Bơ vơ ở xứ người ta em thèm hơi mẹ ấp/ Dẫu chốn quê xa có thêm trăm ngàn cơn lũ/ Giông gió có là gì khi em có mẹ cha?” (Ngày mẹ sinh em). Quả là nhà thơ đã nói giúp mọi người về nỗi nhớ quê kỳ diệu như thế. Theo đó, hãy lại lắng nghe Thi Gia tâm sự cùng cha rất đời thường, nhưng có cốt cách của một người xa quê, dù còn trẻ, nhưng từng trải về lẽ nhân sinh: “Cuốc cày chi nữa cha ơi/ ngồi xuống đây cùng con nhấp đôi chén trà,/ nhấp dăm chén rượu/ nhấp nỗi nhọc nhằn buồn vui trên những đường cày con trâu đi trước/ 60 tuổi đời, 50 tuổi ruộng/ tuổi thơ cha tôi quen cầm cuốc cầm cày/ Quen đồng ruộng con trâu./ Quen giọt mồ hôi mặn mà hạt lúa/ lớn lên trong rơm rạ đốt đồng/ Nghỉ tay thôi cha ơi/ quấn điếu thuốc rê mà phì phà/ đốt lên niềm vui từ những hàng mạ non xanh tít tắp/ phì phà cơm no áo ấm/ từ những vết chai”. Một người con gái hiểu và thương cha như thế phải nói là tận cùng yêu thương, tận cùng gan ruột. Không những mượn trà mà chị còn mượn rượu tăng độ nồng ấm để tâm sự cùng cha:

Cuốc cày chi nữa cha ơi
ngồi xuống đây mà nhâm nhi cùng con ly rượu
Uống cho tuổi cha như cây lúa chín vàng
trĩu hạt đòng đòng bên đám mạ xanh con.

                 (Tuổi cha tôi như cây lúa chín vàng)

Thương cha, nhớ mẹ bao nhiêu, Thi Gia ngẫm phận mình để càng thương phận chị cũng một lần làm thân con gái theo chồng xa xứ trong phức cảm vui - buồn của mẹ: “Chị đội nón qua cầu/ Lá mồng tơi rơi xanh xao cả thời thiếu nữ/ Bếp tro tàn nguội lửa/ Mẹ cố nén tiếng ho trong ngày vui con gái/ Chị theo chồng mãi tận xứ người ta/ Chị đội nón qua cầu/ Ước mơ đổi đời cho lũ em rách rưới/ Dậu mồng tơi héo hon nhớ mùi hương con gái/ Chàng trai bên nhà cũng bỏ xứ biệt tăm”. Hiểu, cảm thông lẫn thương xót tình cảnh của chị và nỗi lòng của mẹ nên Thi Gia đã nhập vào nỗi buồn lặng sâu, ngậm ngùi tiễn chị theo chồng tha phương, viễn xứ:

Chị đội nón qua cầu là đi biệt ngàn năm
Áo cưới tím màu hoàng hôn
Cô dâu không điểm trang mà diễm lệ
Đuôi chân mày cong cong vẽ thời thiếu nữ
Có còn giấu được nỗi đau?

         (Có còn giấu được nỗi đau?)

Đó là tình thương nén thành biệt khúc thơ tiễn chị. Còn với em gái nhỏ thì sao? Thi Gia cũng dồn hết tình thương cho em nơi ruộng đồng bờ bãi vất vả sớm hôm. Nhìn dáng em gầy nghiêng trong đồng chiều nắng gió mà lòng chị mừng vui lẫn âu lo, phấp phỏng: “Lấp lánh cánh đồng trắng khô rơm rạ/ lấp lánh cánh đồng nắng lên/ bùn non loang loáng khô rồi/ trên bắp chân em trắng ngà/ đôi gánh trên vai nhịp nhàng, nhịp nhàng thắt đáy lưng ong em tôi/ trên bờ đê xa xa”. Vẻ đẹp chân quê hiện lên dáng em nhịp nhàng trên triền đê chiều vắng: “Lấp lánh ánh trời/ trên chiếc nón tơi loang loáng/ nắng nhảy múa cười trên vai em tôi thon thon từng nhịp, từng nhịp em đi”. Em có chút nên thơ điệu đàng lẫn vẻ trữ tình lãng mạn hòa cùng cảnh vật, thiên nhiên làm cho chị bâng khuâng, xúc động:

thắt đáy lưng ong điệu đàng, điệu đàng
Có con bướm vàng theo sau chiếc áo hoa cà hít hà hương tóc
hương bưởi, hương chanh hay hương bồ kết mà say say thế bướm vàng?
Thêm con ong mật dềnh dàng
Lang thang
Chàng ràng
Mơn man hương tóc
Em tôi qua đọt mù u…
mặc con bướm vàng
mặc con ong mật
Ngồi ru tuổi mình...!
               
                 (Em tôi qua đọt mù u)

Cây mù u trổ bông trắng thơm dịu nhẹ, lũ bướm vàng về vờn hoa lấy mật, gợi liên tưởng đến câu ca dao: “Bướm vàng đậu đọt mù u/ Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn”. Một khung cảnh yên bình nơi làng quê với hình ảnh em gái nhỏ hiện lên nên thơ và quyến rũ, nhưng cũng gợi liên tưởng đến nỗi buồn man mác, mỏng mảnh như chị ngày theo chồng. Âu lo, thương cảm cho em trong tương lai cũng chính là tấm lòng cảm thương của Thi Gia trước đây dành cho chị. Thiên tính nữ hiện lên trong từng tác phẩm, tạo thành chất thơ bao dung, nhân ái ngày càng đậm nét trong tập thơ Gia ơi, Đời xanh đấy!.

Có thể nói, nỗi nhớ quê và nhớ người thân là liệu pháp tâm lý để người thơ càng yêu cội nguồn trong những tháng năm ly hương, sầu xứ. Cả một không gian hoài niệm hiện về để chị đồng hiện cảnh cũ, người xưa trong hiện tại. Tiêu đề tập thơ Gia ơi, Đời xanh đấy! ẩn dụ nhiều ý nghĩa, trong đó, có ý nghĩa về sự xanh non, tươi đẹp của quê mình để chị tự hào và ân nghĩa: “Quê mình đây nè bạn/ Bữa mô buồn ghé chơi/ Nắng hè trong leo lẻo/ Biển còn xanh hơn trời/ / Quê mình nghèo rứa bạn/ Làng chài chừ quạnh hiu/ Ai mang về muôn sắc/ Đổ vào loang lổ chiều”. Thi Gia đồng hiện ký ức làng quê chân thành và xúc động để thấy lòng mình xa quê nhưng không mất quê dẫu hiện tại đã nhiều thay đổi: “Quê mình thương lắm bạn/ Tiếng quê thì thật quê/ Mái chèo cong dấu hỏi/ Răng cá tôm chẳng về?/ / Làng chài như tranh vẽ/ Khách xa về thăm đây/ Trẻ con chừ tập nói/ Hello và goodbye”. Sự thay đổi môi sinh đã làm cho chị hoang hoải, tiếc nuối đến ngậm ngùi ngày trở lại quê nhà: “Mình cũng từ xa xứ/ Chiều về thăm chốn này/ Chẳng còn nghe mùi mắm/ Quyện vào trong gió bay/ /Làng chài không chài nữa/ Muối chẳng còn ai phơi/ Thuyền câu trơ giữa bãi/ Ghe buồn loang đến trời”. Chỉ còn biết tự thoại với chính mình như một tiếng thở dài, rồi im lặng tiếc than: “Mình đi xa lăng lắc/ Biết răng chừ quê ơi?” (Biết răng chừ quê ơi?). Biết nhớ và biết giữ tình quê, hồn quê yêu dấu chứ biết răng bây chừ phải không Thi Gia? Nặng lòng với quê hương, cội rễ là vậy, bảo sao thơ Gia không lay động lòng người, nhất là những người xa quê biền biệt.

Ngoài đề tài quê hương như trên, âm chủ còn lại của tập thơ Gia ơi, Đời xanh đấy! là đề tài tình yêu với nhiều cung bậc, nhiều sắc thái xuất phát từ tình yêu và sự sống thật của chính tác giả. Chị không giấu giếm nỗi niềm sâu kín của trái tim mình, trái lại, chị chủ động phác họa sơ đồ tình yêu chân thành, mê đắm bằng tiếng nói thi ca rất mạnh bạo, mang đậm âm hưởng nữ quyền - quyền được yêu, được bảo vệ tình yêu và quyền được triết lý khi yêu theo kinh nghiệm nếm trải có thật của bản thân.

Nhiều nhà tâm lý học cho rằng bản chất và diễn biến của tình yêu mang thuộc tính người thì thường nó sẽ diễn ra theo trình tự hiện thực và tâm lý phổ quát: từ cảm xúc, nhớ nhung, say đắm đến giai đoạn mơ yêu, say yêu và mộng tưởng, kế đến là giao hòa và thấu hiểu, rồi tiếp theo, có thể là vỡ mộng, ly tan hoặc gắn kết, hạnh phúc tùy theo thực tế và diễn biến tình cảm của mỗi cuộc tình. Đối chiếu với “lược đồ” tình yêu như trên, thì có thể thấy tình yêu của La Mai Thi Gia diễn ra với phức cảm đắm say, mộng mơ, buồn vui và hạnh phúc như thế, được biểu hiện dưới dạng cảm hứng thơ, hình tượng thơ và ngôn ngữ thơ mang cá tính và giọng điệu riêng.

Tôi xem Gia ơi, đời xanh đấy! như là bài thơ khóa (key poem) để nương theo tìm hiểu những cung bậc, sắc thái và khát vọng tình yêu trong thơ La Mai Thi Gia. Trước hết, chị tự thổ lộ nỗi gian nan đời mình như là chuyện mặc định đã rồi, không thể khác: “Đã qua rồi tháng tám/ Ngày buồn nhiều hơn vui/ Tưởng là thu chạm ngõ/ Mùa sao giông gió nhiều?” mà thời gian là chứng chỉ xác thực nỗi buồn trong tự vấn của người thơ: “Gia ơi, nghe buồn lắm!/ Tim bất ngờ đông sang/ Lòng lạnh run trong gió/ Đâu bờ vai dịu dàng?”. Xuất hiện lây lan những câu hỏi tu từ và chị tự trả lời chân thành như chị nghĩ: “Gia ơi, mong gì đấy/ Chờ một bờ môi ngoan/ Mát lành như suối mộng/ Rót vào em, thiên đàng”. Tâm lý tự vệ liên tục xuất hiện để chị chữa lành những mặc cảm khuyết, rỗng đang tồn tại: “Gia ơi, chừ em hát/ Lời ngọt lành như mưa/ Gia ơi, chừ em khóc/ Thương ngày mình xuân xưa”. Chị xem đó như là sự bù đắp để xoa dịu và tiếp tục ươm tình trong yêu thương và hy vọng: “Đời dài như nỗi nhớ/ Rộng thênh như chỗ nằm/ Nơi một người bỏ lại/ Thoắt mà thành trăm năm/ / Gia ơi, đời xanh đấy/ Người còn thương lá vàng/ Cho em mầm hoa biếc/ Ươm tình chờ xuân sang”. Cuối cùng chị cũng đã tự mình hóa giải mọi âu lo, phiền muộn để tiếp tục lựa chọn và mơ mộng theo từng tình huống: “Gia ơi, đừng nuối tiếc/ Những ngày dài hoang mang” (Gia ơi, đời xanh đấy!). Từ bài thơ khóa này, tôi thử vẽ lược đồ tình yêu của La Mai Thi Gia để thấy phức cảm tình yêu (love complexe) thông qua từng cảm xúc, động thái, từng hiện thực tình yêu và triết lý khi yêu của tác giả.

Khởi đầu là nỗi thổn thức trong tâm hồn cô bé 16 tuổi với trái tim biết xôn xao, xúc cảm, nhưng còn cả tin, e ngại: “Ủ trong ta mãi hồn thơ bé/ Rót cạn tim mình yêu thiết tha/ Cả tin nghe gió lời ân ái/ Ai biết ngàn dương có thật thà?”. Nhưng vẫn không thể không đắm mê theo nhịp ái tình: “Hồn ta yêu lắm từ dạo ấy/ Đứng tựa vai người trong gió hanh/ Nghe cơn khao khát luồn qua tóc/ Hai kẻ cuồng điên trên núi xanh”. Để rồi hai tâm hồn nhập lại, tan nhau trong hoang dại:

Hồn bay qua đỉnh trời hoang dại
Hai kẻ đùa chơi không áo manh
Vùi nhau xuống vực đời biêng biếc
Từ ấy hồng hoang mới kết thành.

                 (Từ ấy hồng hoang mới kết thành)

Một niềm vui đến ngỡ ngàng hiện ra trong tâm hồn cô bé chớm vào thời thiếu nữ cùng người yêu say luyến ái bằng ly rượu tình trăng: “Thế là ly chạm ly rồi/ Mời trăng 16 cùng ngồi với ta/ Trăng thời say với hằng nga/ Ta thời say với người mà ta yêu”. Trăng hòa điệu cùng em ngả nghiêng khao khát, cạn hết đa đoan tuổi ngọc ngà: “Này trăng, trăng quá mỹ miều/ Này em, em quá gợi điều khát khao/ Rót đầy ly với ta nào/ Cạn đi, cạn cả cơn sầu em mang”. Lãng du, ngất ngây cùng hoan ca, viễn mộng để thỏa mãn cơn say thần thánh:

Dẫu rằng đã triệu giấc mơ
Vẫn không biết được ta giờ có nhau
Lạy trời đừng đến ngày ngâu
Cho ta được gánh cơn đau cùng người
Van em, em hãy mỉm cười
Van cơn say giữa đất trời,
Cạn đêm.

                   (Cạn đêm)

Đó là trạng thái mơ yêu và được yêu trong hiện thực cùng anh, ánh mắt hướng về nhau trong tin yêu, mời gọi để những nụ hôn dâng hiến được nồng nàn, quyến rũ: “Em ngồi yên rồi/ Ngồi yên cho anh nhìn ngắm/ Ngồi yên cho anh hôn/ Cho anh vuốt ve làn da em mát dịu ngày hè/ Cho anh vùi mặt vào ngực em lắng nghe/ Em thở/ Tim em thở/ Nhịp của cuộc tình trong giấc em mơ/ Nhịp của cuộc tình em giấu trong thơ”. Đó là khi ngôn ngữ âm thanh trở nên bất lực, nhường chỗ cho ngôn ngữ thân thể và ngôn ngữ trái tim lặng im độc thoại trong buốt tê, rạo rực: “Em ngồi yên rồi/ Yên như pho tượng/ Không nói gì đâu, không cười đâu, không khóc đâu/ Em ngồi yên rồi/ Yên như đêm vậy/ Người rót tình đi, ta uống nhau” (Người rót tình đi, ta uống nhau). Tuổi vào yêu như vậy phải nói là hồng phúc, thỏa mãn được sự hồi hộp, đê mê đầu đời thơ - thiếu - nữ. Em cảm nhận được sự mát lành, dịu êm trong vòng tay ân ái. Thế rồi, một cảm giác mơ hồ nhưng ngày càng dai dẳng hiện ra thành nỗi nhớ trong cô gái ngày nào yêu anh đến hoang mê và ngây dại: “Nỗi nhớ bời bời/ Miên man trên những ngón tay/ Râm ran trong từng thớ thịt/ Nhớ nơi vầng trăng tôi mê mãi ướt sương tình/ Tôi dang tay vào đêm ve vuốt bóng mình/ Đêm soi tôi vào tôi cô lẻ/ Nhớ người, đau thắt ngực người ơi!”. Nhớ đến nỗi con người sinh học của em cùng với thiên nhiên tương cảm. Em gọi mây gió, cỏ hoa và cánh đồng, cơn mưa về đây với em để cùng biếc xanh bỡ ngỡ: “Tôi nhớ vạn lời cuồng si/ Khi người hối hả: yêu đi/ Yêu đi nào mây gió/ Yêu đi nào cỏ hoa/ Yêu như cơn giông trút xuống cánh đồng cháy khô giữa hạ/ Yêu như đám mây đen thả mình làm mưa vội vã/ Yêu đi cho nhau xanh mướt trong nhau” (Tôi và người sinh nhau ra lần nữa).

Yêu nhau. Rồi xa nhau. Rồi nhớ thương mong đợi là hiện thực và tâm lý có thật để tình càng gắn kết mặn nồng. Thi Gia đã cảm nhận nỗi nhớ ấy rất thật với nhiều trạng huống: vần vũ cuộn dâng, thét gào và cả cân đong đo đếm:

- Tôi nhớ người tôi yêu, tôi nhớ lắm
 Nhớ cơn giông vần vũ tự trong người
- Tôi nhớ người tôi yêu, tôi muốn hét
 Tiếng hét từ châu thân thăm thẳm khôn cùng
- Tôi nhớ người tôi yêu, tôi đếm
 Ngày qua nhanh như cái cựa mình

Một kiểu nhớ rất người, rất chân thành và cụ thể, không gì ngăn được tiếng khóc của em: “Tôi nhớ người, người ơi tôi nhớ/ Giần giật cơn đau ở phía khôn cùng/ Trong cơn khát tôi vùi tôi với gió/ Nơi mải mê nào…/ người có nhớ tôi không?” (Tôi nhớ người tôi yêu tôi khóc!). Thơ tình yêu của Thi Gia phản ánh thiên tính nữ mạnh mẽ của chính chị, không ngại ngùng, che giấu: “Em biết/ Chẳng có làn gió nào xua được/ Nỗi nhớ của em dài như giấc mơ đêm/ Em biết/ Chẳng có cơn mưa nào trôi được/ Anh trong em chật cứng nỗi niềm”. Chính điều đó làm cho thơ Thi Gia nhân bản và thu hút người đọc, nhất là những người phụ nữ mơ yêu và khát yêu mà nói theo Phân tâm học của S. Freud là để thỏa mãn năng lượng eros/ libido của mỗi chủ thể hiện sinh: “Em vén chiếc váy mềm lấp lánh hoa/ Mang em ra khỏi lụa là/ Chân trần, đùi trần lội vào con suối nhớ/ Anh hay là con nước/ Vây em trong cơn khát đau/ Vây em trong cơn khát nhau”. Vì vậy mà con người bản năng thể hiện ra nhằm thỏa mãn những ước mơ tình ái:

Trong em là em hay trong em là người trai…
Em nhớ
Em khát
Em đau
Em thèm cái vùi đầu dịu dàng
Nghe em thổn thức từ sâu trong nỗi bàng hoàng
Nghe em da diết từ sâu trong cõi thiên đàng
Quặn đau
           
       (Vén nỗi nhớ đầy tim)

Nhưng rồi, người đọc bắt gặp trong thơ La Mai Thi Gia cảm thức tình yêu không trọn vẹn. Hoài nghi và ngờ vực hiện ra sau những mặn nồng, tha thiết: “Anh có yêu em thật không/ Có biết quanh em đang phủ đầy bóng tối/ Anh vật lộn với đời nghiệt ngã/ Sao còn… nghiệt ngã đời em?/ Em lạnh!/ Trong sân ga gió lùa/ Nỗi cô đơn nhấn chìm em vào nó/ Có bờ vai nào cho em tựa đầu/ Có vòng tay nào cho em hơi ấm”. Những câu hỏi gấp gáp hiện lên như những độc thoại và linh thoại trong đêm: “Anh à/ Anh có yêu em thật không?/ (Anh có yêu em thật không?)/ Suối dẫu cạn dòng vẫn có lúc tràn mưa/ Bếp lửa tàn đêm vẫn còn hơi tro ấm/ Bướm vẫn vì hoa mà nồng nàn thưởng mật/ Ngày tắt ánh trời, trăng lại thắp vì đêm”. Những câu hỏi và luận suy theo triết lý dân gian đời thường xuất hiện nhiều trong thơ Thi Gia phản ánh sự sống thật và kinh nghiệm nếm trải riêng để làm giàu chất thơ đầy nữ tính của tác giả:

Anh dẫu bạc đầu vẫn trai trẻ vì em
Hai kẻ ngàn năm lại cùng thơ dại
Đâu phải cần nhau là cả đời gần mãi
Chỉ cần có nhau ở chốn nhau về
Mình lại bắt đầu dại dột, si mê…
           
        (Chỉ cần có nhau ở chốn nhau về) 

Mong ước và hy vọng giản đơn là vậy, nhưng mọi cuộc yêu không diễn ra như thế nên cơ chế của tâm lý tự vệ/ phản vệ bao giờ cũng hình thành với nhiều tính chất nhằm trì hoãn, níu kéo những điều tốt đẹp. Hãy nghe Thi Gia tập buồn và tập yêu lại (love again) sau những tin yêu và dại ngộ: “Giờ thì mình tập yêu những thứ thuộc về mình/ Vì biết chẳng thể yêu những điều mình chưa từng có/ Và tập yêu cả những yêu thương mà mình mắc nợ/ Yêu đôi mắt thật hiền rưng rức những âu lo” (Hết buồn rồi thì mình sẽ hết đau). Trong những nhà thơ nữ hiện đại Việt Nam, tôi đồ rằng, không có nữ sĩ nào diễn tả tình yêu và triết nghiệm khi yêu bằng diễn ngôn trực tiếp, mạnh bạo mà vẫn hấp lực tự nhiên, quyến rũ như La Mai Thi Gia. Vì vậy, có thể xem thơ tình của chị thuộc mỹ học của cái đẹp nhân văn, mang âm hưởng nữ quyền thời hiện đại, phản ánh tâm thức hiện sinh của con người và hoàn cảnh thời chị sống, nó vừa là vô thức cá nhân vừa là vô thức tập thể nên người đọc dễ đồng cảm, sẻ chia: “Hết buồn rồi mình cũng sẽ hết đau/ Tỉnh giấc ngây thơ suốt một thời con gái/ Còn phải khôn lớn thêm bao nhiêu mới thôi khờ dại/ Hễ cứ yêu ai là yêu kiệt hết tim mình”. Yêu trong dâng hiến nồng nàn, thanh xuân và đam luyến là thuộc tính không thể khác của Thi Gia:

Khi em hôn chiếc áo ngực của mình
Em chạm… dấu môi anh
Đôi môi thật ngoan, nồng nàn, trẻ dại
Nhanh nào người ơi, mùa không chờ ta mãi
Đôi quả mọng cành
Chín nốt... cho anh.

                (Chín nốt cho anh)

Dù đó là tội tổ tông thì em vẫn yêu hết đam mê, dại khờ, run rẩy của một người đàn bà mang khuôn mặt người/ khuôn mặt yêu không giả tạo, không che đậy sự thèm khát dục tính: “Em chẳng có gì ngoài một trái tim/ Nhạy cảm và run rẩy/ Chỉ một chiếc lá vàng thôi cũng làm em thổn thức/ Trắc ẩn đa đoan lèn chặt hết tim mình/ Trái tim được sinh ra đã biết khóc vì tình/ Cho những niềm đau tưởng như chẳng có mình trong ấy/ Những nỗi đau và những yêu thương đầy rẫy/ Khắc đầy trên khuôn mặt tháng năm”. Một logic không thể khác của cơn khát ái ân ấy là gì? Nếu không phải là sự hiến dâng - một sự giải thiêng đầy nữ tính mà Thi Gia muốn được thành thật với chính thân thể sinh học của mình. Mà cũng chính là của mọi người thiếu nữ trên thế gian mà E. Fromm trong Phân tâm học tình yêu cho rằng đó là một cố gắng hợp nhất trong tình yêu của hai cá thể để thành sự hợp nhất toàn thể. Hãy cảm nhận sự ảo hóa hiện tượng yêu thành sự giải thiêng cao đẹp ấy của Thi Gia bằng thơ lục bát ngọt ngào, được ngắt nhịp thành những ngữ động từ, ngữ giới từ và ngữ danh từ thể hiện sự ngập ngừng của phút giây ái ân huyền diệu cùng thiên nhiên, cảnh vật: “Trời ơi!/ Đêm giải thiêng tình/ Dường như con bướm đuối mình/ Trong hoa/ / Mây đen ấp bóng trăng ngà/ Cho hoa ứa mật/ Mà hòa giọt sương/ / Bờ lau lách dậy nồng hương/ Giải thiêng đi!/ Chốn thiên đường thẳm sâu”. Liên hệ theo những phạm trù vô thức của phân tâm học Freud, thì có thể xem đó là những vọng âm của cái tôi cá nhân mang cảm quan thiên nhiên để hình thành những phức cảm vô thức, dẫn đến những giấc mơ với hành vi tâm lý phù hợp với khát khao giải phóng năng lượng eros nhằm thỏa mãn tình yêu và nỗi nhớ: “Cho đêm, đêm hết nhiệm màu/ Cho con bướm/ Chẳng còn khao khát gì/ Cho hoa rót cạn xuân thì/ Cho giun dế/ Chán thầm thì chuyện yêu”. Chính những vọng âm đó đã giúp Thi Gia thể hiện bằng thơ rất hay và rất logic sự giải thiêng liều của mình: “Tại đêm bày chuyện dập dìu/ Nên ta/ Ta cũng/ Đánh liều... / giải thiêng!” (Tại đêm bày chuyện dập dìu). Bài thơ kiến trúc thành chỉnh thể rất đúng về tâm lý và rất nghệ thuật về ngôn ngữ và nhịp điệu.

Đó là những cơn khát và cơn đau mang gương mặt con người, bởi vì: “Em chẳng có gì ngoài chính em thôi/ Với những thương yêu ứ đầy/ Và một trái tim sưng tấy/ Người có thể vì em... những tháng năm còn lại/ Buồn cùng em.../ Bằng cả trái tim người?” (Chẳng có gì ngoài chính em thôi). Tình yêu như thế sẽ đầy ắp, nhiều hơn khả năng vốn có của nó: “Đứng bụi ngồi bờ/ Mà chờ trăng lặn/ Hái sao làm gối/ Lót mây làm giường/ Giữa mênh mông gió/ Nằm chờ người thương”. Khi ấy, chỉ có xiêm y thiên nhiên và da thịt em cùng dịu dàng, tươi mát: “Áo không thèm mặc/ Váy không thèm mang/ Đôi bầu ngực nhỏ/ Vừa như quá rằm/ Ở miền trăng khuyết/ Mưa vừa ghé thăm” (Đêm hư). Dẫu biết con đường quanh là con đường dài nhất, nhưng em vẫn đi và vẫn đợi, vẫn thiết tha như thuở ban đầu:

Chỉ cần được ở bên anh thật lâu dù không có mai sau
Thì em vẫn cứ đi và đi thôi về phía anh đang đợi
Dẫu mỗi bước đến gần nhau là tình thêm vời vợi
Dẫu cứ đến thật gần là để lại cách xa
Và dẫu có thế nào tình vẫn cứ thiết tha.
           
         (Có phải con đường quanh là con đường dài nhất?)

Còn gì chân thành, nồng say hơn thế nữa không? Vậy mà sao trong thơ Thi Gia, mặc cảm thiếu, khuyết vẫn hiện lên?: “Nợ anh lời thương chưa nói/ Bởi tim đập nhịp muộn màng/ Ừ, yêu có gì mà khó/ Đời được mấy lần trăm năm?”. Mặc cảm ấy do mình nhận biết và tự mang trả cho người, nhưng sao tình còn thản nhiên, hờ hững đến là đau?: “Mai này tóc mây qua núi/ Em mang nợ trả cho người/ Anh mang tình trả cho đời/ Ta còn thản nhiên đến thế?” (Thản nhiên mà đi qua nhau). Nhưng rồi, trái tim yếu mềm, nhân hậu của em sẽ luôn dành cho anh những ân huệ ngọt ngào như ngày xưa dào dạt: “Em mong phía anh bình yên chỉ có trời trong và nắng xanh/ Thổi gió mưa và đêm về nơi em lạnh buốt/ Em sẽ biết tự mình thắp lên ngọn lửa yêu thương từ tình ta cho nhau trong đợi chờ dẫu muộn/ Sâu thẳm hoàng hôn mãi mãi là chiều/ Sâu thẳm tim em mãi mãi là yêu dẫu có phải đi qua trăm ngàn nghi ngại/ Em đã học được cách bảo tim mình nhẫn nại/ Yêu anh theo cách của anh giản dị hiền lành”. Còn gì nghi ngại đâu anh khi em gom hết nắng chiều để hong khô nỗi nhớ, dù biết không có cam kết nào buộc chúng mình phải nói lời thề: ta yêu nhau muôn thuở:

Vì ta biết rằng đời chúng ta đang đồng hành một con đường
Nếu một kẻ sa chân rơi vào hố thẳm
Kẻ còn lại và những sinh linh ta cùng nhau tạo ra trong hình hài bé bỏng
Sẽ đi tiếp thế nào khi chân bước cứ chênh vênh?
           
         (Chọn phút giây cho ly rượu cuối cùng)

Em vẫn yêu anh và thơ em là chứng chỉ cho tấm lòng thành của em, dẫu có lúc em nhận ra chỉ là viễn mơ và ngang trái: “Và xin tình cứ về giữa trang thơ/ Cho em mộng mị hồn nhiên dẫu chỉ là hư ảo/ Cho em ngủ say trong giấc mơ có anh mặc ngoài kia giông bão/ Mặc ngoài kia ngang trái bời bời”. Không gì chân thành và nồng nàn hơn thế, cả trong những giấc mơ cỏ hát khiến em đắm chìm, quyến rũ: “Sao những giấc mơ tình cứ thổn thức ở phía đêm/ Sao trong phút dào dạt bên nhau em cứ hoài nông nổi?/ Ước gì chiêm bao không tan/ Ước gì đêm mãi nồng nàn/ Để em say giấc miên man/ Để cơn mơ về anh và nụ hôn còn mãi” (Nếu có đi vào giấc mơ em).

Đến đây, ta có thể thấy, tình yêu trong thơ La Mai Thi Gia hiện ra với nhiều cung bậc và trạng huống, dẫu có lúc buồn và hoang hoải, nhưng rồi cuối cùng, cả hai vẫn nối được nhịp cầu hạnh phúc mà hôn nhân là đích đến kỳ diệu nhất để hướng về những khát vọng người thiêng liêng, cao đẹp nhất, đó là sự ưu sinh để duy trì nòi giống. Đó là sự hoài thai những thiên thần bé nhỏ cho tương lai của chúng mình và cho xã hội - một dạng thức hiện sinh lý tưởng, biến tình yêu từ quan hệ cá nhân sang quan hệ xã hội và thiên nhiên, hướng về sự thiêng liêng, kỳ diệu như Vladimir Soloviev - nhà tư tưởng Nga đã xác tín trong tác phẩm Siêu lý tình yêu của ông. Cho nên với Thi Gia, cuối cuộc tình dẫu là gì thì chị vẫn có nơi nương tựa bình yên để yêu thương và sống vì con trẻ: “Khi em không còn làm thơ cho anh/ Là khi trái tim em đã quay về với tháng ngày bình yên cũ/ Em vẫn dịu dàng đi về trên con đường quen/ Nhẫn nại theo bàn chân con trẻ/ Trở mình trong mỗi sớm tinh mơ, nghe chim ríu ran ngoài khung cửa/ Thấy tình yêu quá đỗi an lành”. Một hiện thực an yên, để em, dẫu không còn làm thơ nữa, nhưng vẫn có nơi an trú cho tâm hồn và an trú cho thơ:

Khi em không còn làm thơ cho anh
Là khi trong nỗi nhớ em không còn anh ở đó
Là khi đời em thôi yêu thương vụng dại
Bàn tay nào thay thế một bàn tay
Bờ vai nào thay thế một bờ vai?
Và giữa hoàng hôn ai sẽ là người thay anh vùi em trong vòm ngực ấm
Ai sẽ là người đau với nỗi đau em?

Vì vậy mà: “Nếu một mai em không còn có thể làm thơ cho anh được nữa/ Xin người hãy hiểu tình em” (Sau mỗi nụ cười buồn là đôi mắt đầy mưa). Nhưng dù gì, kết cục, vòng tròn sự sống lại hiện ra ngọt ngào, hạnh phúc - một kết quả của tình yêu không thể khác. Những thiên thần đã chào đời. Con của chúng mình giúp em bay bổng trong khát vọng được tự do giam cầm và hạnh phúc: “Nụ cười của chúng nhốt hồn vía tôi ở đấy/ Tiếng khóc của chúng nhốt tình yêu tôi ở đấy/ Tôi trở thành người tù vui vẻ an lành/ Hân hoan trong chiếc lồng son mang tên Hạnh phúc/ Kể từ ngày những thiên thần ấy đến chơi/ Tôi biết tự do của mình đã ra đi mãi mãi/ Mãi mãi.../ Vì bởi chính tôi khao khát được giam cầm”. Đó là sự giam cầm nhân ái mang khát vọng người cao đẹp hơn mọi giam cầm nào khác, bởi vì: “Những đứa trẻ được sinh ra từ máu thịt của mình/ Dạy cho tôi biết chẳng có nỗi đau nào là đáng sợ/ Và có những thương yêu/ Cả cái chết cũng chẳng thể nào xua tan được nó/ Khi ta đã được duyên lành chọn để đến bên nhau”. Khi ấy, chị là người mẹ phi thường, dang đôi cánh tay mạnh mẽ và trái tim vĩ đại để ôm giữ và che chở đời con:

Và khi đời còn đầy rẫy đớn đau
Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ
Thật phi thường, mạnh mẽ
Sừng sững như non cao che chở đời con trẻ
Như mẹ đã từng che chắn đời tôi

                (Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ)

Có con là có tất cả. Mọi nhọc nhằn, lo toan rồi cũng qua đi. Mọi nỗi buồn biến thành nước mắt sung sướng lăn dài trên má. Mẹ muốn mình biến thành những đồ chơi nhỏ cho con tung tăng, rộn ràng cùng chúng bạn: “Mỗi lúc buồn mình thích nắm tay con/ Đi dọc theo bãi hoang nhìn lũ diều trên cao ngất/ Nếu mình như cánh diều kia, liệu có ngày bay mất/ Khi không có sợi dây đang cột chặt tay mình?/ / Mỗi lúc buồn mình hay hát con nghe/ Bài hát về một bé thơ nhớ nụ cười của mẹ/ Mẹ thường đến ôm em dịu dàng trong giấc ngủ/ Bài hát có tựa đề Gặp mẹ trong mơ”. Và khi ấy, chỉ có thơ là ngôn ngữ của nỗi buồn hóa thành kinh nghiệm sống của chính người thơ: “Và mỗi lúc buồn mình còn viết những vần thơ/ Kể lại những hoang mang trong tim mình chật cứng/ Bài thơ đến trong đêm luôn khiến mình thao thức/ Thức mà chẳng làm gì, thức chỉ để buồn thôi” (Rồi cũng sẽ hết đêm). Đó là nỗi buồn thơm từ nỗi đau và đắng như hạnh phúc phải không La Mai Thi Gia?

Vậy là, tôi đã phóng lướt theo tập thơ Gia ơi, Đời xanh đấy! để “vẽ lược đồ” tình yêu của La Mai Thi Gia trên hành trình sống và yêu - yêu và sống mà chị đã nhiệt thành, mạnh mẽ sống hết cái tôi của mình để gặp và chan hòa với cái ta ân nghĩa quanh đời. Qua thơ, Thi Gia đã tự hiện hữu mình là một nữ thi sĩ góp tiếng nói nồng say, mãnh liệt, giàu thiên tính nữ vào thành tựu của thơ nữ trẻ Việt Nam thời đương đại.

*

Trong dòng chảy của thơ nữ từ Đổi mới đến nay, luôn tiếp nối xuất hiện những cây bút nữ có cá tính sáng tạo mới mẻ, trong đó, La Mai Thi Gia có thể xem là cây bút trẻ có nội lực và tiềm năng thi ca vững chắc, nhờ vốn sống, vốn tri thức liên ngành và vốn nghệ thuật vững vàng, giúp chị thể nghiệm và thay đổi thơ theo hướng tìm tòi cái Mới và cái Khác trên cơ sở biến mọi tình cảm và đối tượng khách quan - từ cái nhìn trực quan cụ thể, sinh động thành cảm xúc nội tâm của ý thức thẩm mỹ để cuối cùng biến thành cái nhìn nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo thi ca mang phẩm tính riêng. Từ Thơ trắng (2017) đến Tôi không rảnh để buồn đâu là sự nối tiếp thành công ấy của một cây bút nữ trẻ luôn tìm tòi, đổi mới mà Gia ơi, Đời xanh đấy! là cái gạch nối để xác tín sự vận động và phát triển của cả quá trình sáng tạo thơ. Ngôn từ - hình tượng - tư tưởng thơ La Mai Thi Gia luôn vận động trên cơ sở giải quyết hài hòa mối quan hệ bản chất và mối quan hệ tương tác giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ. Và thơ chị tạo được hiệu ứng nghệ thuật bằng tư duy hình, tư duy ý bất ngờ, hình thành thi pháp đối lập và song song giữa: cái tôi và cái ta, giữa chủ thể và khách thể, giữa giấc mơ và hiện thực, giữa những gì đã qua và những bất ngờ rồi sẽ đến; bên cạnh nỗi âu lo, hoài nghi và bất tín, ta bắt gặp cái biếc xanh, tin yêu và bỡ ngỡ… Tất cả đều xuất phát từ sự sống thật của chính người thơ nên chân thành và chân cảm. Thơ chị thuộc mỹ học của cái đẹp tương hợp giữa cuộc sống, tình yêu và tình thơ. Vì thế, đọc thơ Thi Gia, ta nhận ra tất cả đều xanh đấy: Đời vẫn xanh, Tình vẫn xanh và Thơ vẫn xanh, chúng có khả năng đánh thức sự đồng cảm trong tiếp nhận đồng sáng tạo của người đọc, nhất là những người đọc trẻ.

H.T.H
(TCSH451/09-2026)

------------------------
1 Đọc tập thơ Gia ơi, Đời xanh đấy! của La Mai Thi Gia, Nxb. Hội Nhà văn, 2018.

 

 

Các bài đã đăng