MAI VĂN HOAN
Cho đến nay vẫn chưa biết thể thơ lục bát xuất hiện vào thời gian nào, ai là người đầu tiên sáng tạo ra thể thơ tuyệt vời này. Chỉ biết rằng các thể thơ cổ: Đường luật, lục bát, song thất lục bát chủ yếu được “thiết kế” trên cơ sở quy luật của trí nhớ.
Để dễ nhớ các thể loại thơ cổ thường sử dụng các thủ thuật: đăng đối, hiệp vần, ngắt nhịp. Nếu thể lục bát ra đời sau thơ Đường luật thì có thể người đầu tiên sáng tạo thể lục bát đã dựa trên một số quy tắc về: đối, vần, nhịp của thơ Đường luật chăng? Thể lục bát sơ khai (còn gọi là lục bát chuẩn mực) có những quy định về số chữ trong câu, về cách thức hiệp vần, về luật bằng trắc, về ngắt nhịp hết sức nghiêm ngặt, chặt chẽ.
Để phù hợp với việc giao lưu bằng điệu nói hoặc chuyển thành lời hát ru và các làn điệu dân ca, có một số bài ca dao được các tác giả dân gian mạnh dạn phá cách. Có thể khẳng định họ là những người đi tiên phong trong công cuộc làm mới thể lục bát. Trong khi Truyện Kiều nhất nhất tuân thủ quy định số chữ 6 - 8 thì có một số bài ca dao thêm tiếng, thêm từ: “Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm” (thêm “nơi”); “Đừng làm như con thỏ nọ đứng đầu truông” (thêm “nọ”). Hiện tượng thêm tiếng, thêm từ ở ca dao chưa phải là cách làm mới thể lục bát. Ca dao làm mới thể lục bát ấn tượng nhất theo tôi là ở cách thức hiệp vần. Truyện Kiều, từ dòng đầu đến dòng cuối, Nguyễn Du chỉ sử dụng một kiểu hiệp vần “chuẩn” (chữ cuối câu lục hiệp vần với chữ thứ 6 câu bát). Trong khi đó các tác giả dân gian sáng tạo thêm một cách hiệp vần hoàn toàn mới bên cạnh cách hiệp vần “chuẩn”. Cách hiệp vần mới đó là: chữ cuối câu lục hiệp vần với chữ thứ 4 câu bát (“Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”). Sáng tạo thêm cách hiệp vần này đã làm thay đổi phần nào nhịp điệu thơ lục bát. Riêng về ngắt nhịp thì cả Truyện Kiều lẫn ca dao đều có những phá cách đáng kể. Những phá cách này giúp cho thơ lục bát đỡ phần đơn điệu, đều đều, bằng phẳng. Về phương diện phá cách nhịp thơ thì ca dao không thể sánh với Truyện Kiều. Từ nhịp 2-2 là nhịp chủ đạo của lục bát chuẩn, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du không ngần ngại chen vào khá nhiều những câu ngắt nhịp khác thường: “Người lên ngựa/ kẻ chia bào” (nhịp 3-3); “Mây thua nước tóc/ tuyết nhường màu da” (nhịp 4-4); “Nửa chừng xuân/ thoắt/ gãy cành thiên hương” (nhịp 3-1-4); “Khi/ vò chín khúc/ khi/ chau đôi mày” (1-3-1-3); “Mặt/ mơ tưởng mặt/ lòng/ ngao ngán lòng” (nhịp 1-3-1-3)… Trong khi đó ca dao phần lớn ngắt nhịp 2-2 hoặc 4-4: “Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng”; “Thuyền ơi có nhớ bến chăng?/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”… Riêng về luật bằng trắc, sự sáng tạo của ca dao và Truyện Kiều gần như ngang nhau. Khảo sát Truyện Kiều, nhà thơ Vương Trọng phát hiện: Trong số 1627 câu lục thì có 21 câu chữ thứ hai là thanh trắc (chuẩn là bằng) và 7 câu có chữ thứ tư là thanh bằng (chuẩn là trắc): “Đau đớn thay phận đàn bà” (chữ thứ 2 thanh trắc); “Mặt nhìn mặt càng thêm tươi” (chữ thứ 4 thanh bằng). Phát hiện này của nhà thơ Vương Trọng đã góp phần đính chính nhận định khá chủ quan của Xuân Diệu, khi Xuân Diệu quả quyết: “Trên án sẵn có con dao” là câu thơ phá niêm bằng trắc duy nhất trong Truyện Kiều”. Số lượng câu “lệch chuẩn” về luật bằng trắc trong ca dao tuy ít hơn so với Truyện Kiều nhưng ca dao lại có những câu “lệch chuẩn” không hề tìm thấy trong Truyện Kiều. Nhà thơ Vương Trọng khảo sát 1627 câu bát trong Truyện Kiều câu nào cũng chuẩn luật bằng trắc. Nhưng khi khảo sát ca dao, tôi phát hiện có không ít những câu bát “lệch chuẩn”: “Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con” (chữ thứ 2 câu lục và câu bát đều thanh trắc). Nếu trong Truyện Kiều, tất cả các chữ cuối câu lục và câu bát đều thanh bằng thì ca dao có những bài chữ cuối ở câu lục thanh trắc: “Tò vò mày nuôi con nhện/ Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”... Bài ca dao: “Có thương thì thương cho chắc/ Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn/ Đừng như con thỏ đứng đầu truông/ Khi vui giỡn bóng, khi buồn giỡn trăng” với tôi là một trong những bài ca dao làm mới thể lục bát ấn tượng nhất. Ngay câu mở đầu “Có thương thì thương cho chắc” đã “lệch chuẩn” (chữ cuối câu lục thanh trắc). Đến câu thứ 2, vừa “lệch chuẩn” luật bằng trắc (chữ ở vị trí thứ 2 thanh trắc) vừa “lệch chuẩn” cách ngắt nhịp (1-2-1-4). Ở câu thứ 3, tác giả tăng thêm 1 chữ (đứng) và cách ngắt nhịp cũng “lệch chuẩn” (2-2-3). Câu “Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn”, tác giả dân gian gieo 4 thanh trắc gần kề nhau, đọc lên nghe trục trặc, diễn tả mối tình gặp vô vàn trắc trở của đôi trai gái và tâm trạng hết sức bực bội của chàng trai.
Từ năm 1930 đến nay, thể lục bát vẫn được nhiều cây bút sử dụng. Trong khi các thể thơ truyền thống như thất ngôn bát cú, song thất lục bát có phần yếu thế thì thể lục bát vẫn không chịu lùi bước. Thơ lục bát tiếp tục “cạnh tranh quyết liệt” và đồng hành với thơ tự do. Bùi Giáng được xem là nhà thơ đi đầu trong phong trào làm mới thể thơ này. Ông phá cách đủ kiểu: thêm từ, mở rộng câu, đảo câu, ngắt dòng… Đáng chú ý nhất là cách ông hoán đổi mối liên kết các từ trong câu bát. Ở lục bát chuẩn mực, chữ thứ 5 câu bát thường gắn với chữ thứ 6, chữ thứ 7 thường gắn với chữ thứ 8 bằng nhịp 2-2-2-2 (“Nước đi/ đi mãi/ không về/ cùng non” - Tản Đà). Bùi Giáng tách chữ thứ 5 đứng độc lập, gắn chữ thứ 6 với chữ thứ 7, bằng nhịp: 2-2-1-2-1: “Em đi lúc gió đang bay/ Gió bay em bước cỏ say sưa mừng” (Đường xuân); “Của em - hồn mộng song trùng/ Khép tình cửa hẹp, mở mông lung trời” (Một nàng tiên); “Ai về thu trước mỏng manh/ Để vần thơ lại nhuộm long lanh chiều” (Lối cỏ trường xưa)… Kiểu phá cách này đã tạo ra một âm điệu khác lạ so với lục bát chuẩn mực. Một số cây bút hiện nay đang làm mới thể lục bát theo hướng này, trong đó phải kể đến Đỗ Thành Đồng. Chỉ riêng ở tập Lục bát đời (Nxb. Hội Nhà văn, 2025) của anh đã có đến 56 câu phá cách kiểu Bùi Giáng: “nhẫn trăng năm ngón tiếc gì/ hồng nhan sấp ngửa ai tri kỷ mình” (Buông). Còn trong tập Lục bát mẹ (Nxb. Thuận Hóa, 2025) cũng có đến 33 câu phá cách như thế: “cắn đau cả những nỗi niềm/ ấp dòng sữa trắng ủ chiêm bao hồng” (Núm vú). Gần đây, khi đọc lại Truyện Kiều, tôi mới vỡ lẽ: hóa ra đại thi hào Nguyễn Du đã từng “thể nghiệm” loại câu khác lạ này cách đây ngót 260 năm. Bốn câu mở đầu Truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau/ Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nguyễn Du đặt “đau đớn” ở chữ thứ 6 và chữ thứ 7. Tôi rà soát tất cả Truyện Kiều phát hiện Nguyễn Du dùng 16 lần loại câu phá cách này. Trong đó có những câu rất hay: “Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao/ Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng”; “Ngọn đèn khi tỏ khi mờ/ Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu”; “Trăng thề còn đó trơ trơ/ Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng”; “Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”… Lục bát trong các truyện Nôm trước và sau Nguyễn Du không hề có câu nào phá cách táo bạo như thế.
Làm mới thể lục bát là xu thế tất yếu. Biết đâu mấy chục hoặc mấy trăm năm sau lại có thêm những câu phá cách, những câu “lệch chuẩn” ở thể thơ này. Nhưng đổi mới hình thức phải đi kèm với những câu thơ gan ruột được viết bằng cảm xúc chân thực, chứ không phải chủ yếu viết bằng kỹ xảo. Việc quá lạm dụng làm mới thơ lục bát rất dễ sa vào hình thức chủ nghĩa. Viết những câu lục bát chuẩn mực hay vẫn hơn viết những câu lục bát phá cách dở. Và ngược lại. Đích cuối cùng của việc làm mới thể lục bát là sáng tác được những câu thơ để đời.
M.V.H
(TCSH452/10-2026)