NGUYỄN VĂN ĐỨC ANH
“Người Trạch Phổ thì không ăn canh”1
Hình như, con người có một mối liên hệ mật thiết nào đó với trời đất. Mẹ tôi cho tôi đến với thế giới này trong chạng vạng chiều hôm, thời gian mà con người thường cảm thấy mông lung, trống trải và vô định nhất trong ngày.
Ngước nhìn bầu trời Trạch Phổ làng tôi, thấy ánh sáng và bóng tối nhập nhoạng. Tựa trời hôm ấy, buồn và vui vẫn năng nhảy nhót qua lại trong tâm trí tôi. Nhưng cơ hồ, có một thứ tình cảm đứng lặng yên trong tâm tưởng, bất biến. Đó là tình yêu quê hương - một trong hai ngọn linh sơn của đời tôi.
1.
Đã có một cái tên khác, trước khi người ta gọi làng tôi là “Trạch Phổ”!
Và tôi mò mẫm đi tìm. Quả thực, trong Ô Châu cận lục của Dương Văn An có ghi chép lại rằng làng tôi xưa có tên là Khuất Phố/Khuất Phổ. Danh xưa rồi, còn ai nhớ? Thảng hoặc trong tiết thu phai hay đông sầu, ngồi chống má đỡ cằm, ngẫm nghĩ về tên cổ để tôi mơ hồ thấy một vài ý niệm sâu xa của tiền nhân.
Giáp mạn phía Tây của làng Trạch Phổ có dòng sông Ô Lâu hiền hòa chảy qua. Chồng chềnh xuôi theo dòng nước lành về đến hạ lưu, bên bờ nam, có làng tôi ở đó, nhỏ bé nép mình bên sông như đứa trẻ chui rúc vào lòng mẹ. Vì không chảy vào lòng Trạch Phổ, nên người dân đã đào mương hói dẫn nước vào làng. Con hói hình bán nguyệt, nhìn từ trên cao, tựa hồ một bào thai.
Trong cảm thức của tôi, Ô Lâu cố nhiên chỉ có thể là một bà mẹ quê đôn hậu. Bà mẹ ấy đã hiến dâng, đã hy sinh cả cuộc đời để hạt lúa bật lên mầm sự sống trinh nguyên trên mảnh đất sỏi đá rệu rạo bước chân người. Từ chính cây lúa ấy mới sinh ra mảnh hồn quê, sinh hạ cả những đứa con Trạch Phổ có đôi mắt sáng trong, giữa tù mù rợn ngợp vẫn thấy lối về làng.
Nửa sau thế kỷ XVI, theo bước chân chúa Nguyễn Hoàng, những con người từ đất Bắc gánh gồng bồng bế đến đây đã lập nên làng2. Họ, hẳn đã trào nước mắt khi nhìn địa thế, khí hậu vùng này. Cơ cầu bày ra trước mắt, cần lao in hằn trong những dấu chân đầu tiên.
Nhưng, có lẽ, tiền nhân của chúng tôi đã thở phào nhẹ nhõm khi thấy dòng nước Ô Lâu. Họ đến trước sông, khỏa nước, rửa ráy bụi bặm dặm dài thiên lý cơ man trúc trắc. Chính nguồn nước mát ngọt ấy đã khiến họ quyết định ở lại với mảnh đất này, nhen lên những bếp lửa ấp iu suốt mấy trăm năm sau vẫn còn âm ỉ cháy. Hậu thế như tôi xin vo gạo hai nước, bắc lên cái kiềng ba chân để nấu tiếp những nồi cơm trắng dẻo thơm trên ngọn lửa hồng.
Và như vậy, có thể nói, chính mẹ Ô Lâu đã đứng ra làm chủ hôn trong cuộc thành thân giữa người với đất Trạch Phổ. Thứ tình yêu hết mực hồng hoang, trước sau như một đã được thoát thai như thế.
Trạch Phổ là vùng thấp trũng. Trong Ô Châu cận lục đã chứng thực điều ấy: “Bồn Phố, Khuất Phố, mưa xuống, nước chớm tràn đầy”3. Nơi đây, từ cuối tháng chín, nhìn trời hao gầy, người ta đã bắt đầu nơm nớp lo sợ, tính chuyện mưa bão, lụt lội. Lúa vụ hè - thu gặt vào, phơi phóng khô khén. Những con người suốt đời chỉ rành rọt chuyện ruộng nương cầm lên một nắm lúa để cảm nhận, rồi bóc vài hạt, lộ ra hạt gạo trắng ngà, cắn xem đã đạt độ khô chưa. Họ mỉm cười trong nhễ nhại mồ hôi, rồi đổ vào bao, bắc thang, vác lên tra mà cất. Cái tra là nơi cao nhất trong nhà, khi nước lụt dâng cao, người nằm co ro bên lúa. Héo hon và xót xáy lắm.
Mỗi lần gần gũi với lúa, da thịt tôi hay nổi sảy ngứa. Cũng chính từ những dạo ấy, tôi nhận ra, Ô Lâu quả thực là một người đàn bà đức hạnh, trước hết là với đứa con mang tên Trạch Phổ. Mẹ Ô Lâu đã chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau, đến tháng thứ mười trong năm thì cho con bú mớm giọt phù sa ngọt. Cứ thế, tuần tự, những cánh đồng mà “chim cò chưa sải hết cánh thì đồng bãi đã cụt” cứ xanh lên rồi lại nghiêng mình trả hiếu.
2.
Ô Lâu khắc khoải chảy. Những cánh đồng “đỏ hỏn” của làng Trạch Phổ được Mẹ ẵm ngửa mà đong đưa ru hời. Văn hoá được hoài thai từ thuở nuôi con mọn ấy, nương theo gió gieo xuống đất những đền, những miếu; gieo vào lòng người những đức tin thiêng liêng.
Làng Trạch Phổ có 4 xóm, là xóm Tây Thuận, xóm Đình, xóm Rôộc, và xóm Đông An. Ở xóm Tây Thuận, bên con hói nhỏ là ngôi miếu thờ nữ thần Poh Nagar, mà người làng tôi gọi là miếu Bà Giàng. Thuở xa xưa, người Champa đã thực hành tín ngưỡng ở vùng đất này. Người Việt khi di dân đến, cũng núp mình trong bóng râm mát mẻ của đức tin; hẳn là dâu bể quá nhiêu khê và có muôn hình vạn trạng hiểm nguy nơi đất lạ người thưa.
Trong Ô Châu cận lục, ngôi miếu được nhắc đến là “Đền thờ thần Y Na. Ở xã Khuất Phố huyện Kim Trà. Tục truyền đền ấy thờ nữ thần, rất linh ứng. Hằng năm đầu xuân có lễ cầu mưa, mở hội đua thuyền, thường có quan triều đình đến làm chủ tế, năm đó liền được mùa”4. Là một nước gốc nông nghiệp, việc coi trọng thời tiết là điều dễ hiểu.
Tôi đến miếu buổi tan tầm. Ngôi chợ gần đó đã tàn và người đã vãn. Ngôi miếu cổ nằm lọt thỏm giữa một vạt tràm, tạo nên không gian thâm nghiêm, u hoài. Lịch sử, văn hóa, và nói một cách trừu tượng hơn nữa là linh hồn đất và người Trạch Phổ bao đời hiện hữu ở đây. Tôi đi chậm rãi từ bình phong vào đến chánh miếu. Đó là những bước chân trở về, từ hữu thể đến vô hình. Tôi về trong một chiều gió Lào bỏng rát. Tôi về để diện mục với một phần tâm hồn và ý niệm của tổ tiên. Hẳn đó là một trong số ít cuộc độc bước hành hương bất hối của đời tôi.
Tôi hé mở đôi cánh cửa gỗ đã cũ, những thớ gỗ khô cong lộ rõ từng đường vân. Khi đặt bước chân đầu tiên vào nền miếu, trái tim tôi bất giác đập nhanh hơn. Cảm tưởng có một nguồn khí thiêng đang giao hòa mạnh mẽ trong thinh không. Phía sau bàn thờ được sơn son thếp vàng, tỏa rạng những quầng sáng từ chậu lung đặt tôn tượng Bà làm tôi hồi hộp. Tôi chắp tay, cúi lạy Bà ba lạy. Mắt tôi dại đi như một đứa trẻ khi ngước lên nhìn Bà.
Tôi đi sâu vào phía sau, nơi Bà uy nghi ngự tọa trên bàn thờ hậu. Tôn tượng Bà có màu trắng ngọc. Mũ mão sặc sỡ. Y phục trên châu thân Bà là một khối liền có màu đỏ và họa tiết trắng. Bà ngồi trên ngai trong tư thế hai tay ngang ngực.
Phía dưới bàn thờ sát vách hậu, có một ngẫu tượng Linga. Đây là hiện vật duy nhất còn sót lại của người Champa ở làng tôi. Thời gian liên tục vần xoay, khiến ngẫu tượng đã có phần sứt mẻ. Song, người làng Trạch Phổ đã đắp sửa lại bằng xi măng.
Linh mục Léopold Cadière đã đến đây vào những năm đầu của thế kỷ XX, quan sát ngẫu tượng Linga nằm khuất dưới bàn thờ, ông đã miêu tả lại chi tiết: “Nó nằm trên phần đế dùng làm trụ, trụ đá được chôn sâu trong đất và mặt cắt hình vuông nhưng có cạnh vát vào tạo thành như hình bát giác với những cạnh không đều nhau, ở phần trên, ngay dưới phần bán cầu của Linga, có chạm một đường gờ chân sọc kẻ ở hai bên”5.
Ngôi miếu cổ. Tuy nhiên, tôi không tìm thấy được một tư liệu hoặc thông tin nào nói về quá trình khởi công, hay tuổi đời của ngôi miếu hiện tại. Tôi mang câu hỏi lớn ấy đến đây, chỉ mong tìm thấy một vài dấu vết để xác định niên đại.
Ngó ngàng từng vị trí tối nhất trong miếu. Tôi phát hiện trên hai trụ tiêu có khắc chữ Hán. Cơ số chữ đã phai nhạt. Ở trụ gỗ bên phải có một vết nứt to, nhưng thật may là vết nứt chỉ chạy dọc ở rìa hàng chữ. Lúc ấy, tôi chưa thể xác định chính xác nghĩa của từng từ. Nhưng, tôi đã thấy nhẹ lòng một phần nào, khi có căn cứ để viết một điều gì đó về ngôi miếu này, mà bấy lâu còn nhiều điều chưa được hé mở.
Lê Tiến Huy - anh tôi, một người hiểu biết về Hán tự - đã mất nhiều ngày để dịch những từ mà cơ hồ chỉ thấy được vài nét. Chúng tôi đã nhận diện và phát hiện một thông tin, là ngôi miếu hiện tại được khởi công xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 14 (明命拾肆年) (1833). Như vậy là hệ thống cột kèo của ngôi miếu đã tồn tại ở làng Trạch Phổ của tôi gần hai thế kỷ. Nó đã chứng kiến bao đổi thay trong đời sống tinh thần, bao biến chuyển trong hình thái tâm hồn của người Trạch Phổ suốt 193 năm qua.
Hằng năm, các bậc hương trưởng trong làng vẫn thực hiện lễ tế ở miếu theo truyền thống. Ngày 12 tháng Giêng, các cụ già đến miếu để khai báo. Một cặp cá vược còn sống được dâng lên Bà. Ngày 13 là chánh tế. Các cụ mang áo dài khăn đóng, thực hiện lễ tế bài bản và công phu. Cặp cá vược hôm qua được nấu thành món. Cùng với xôi, bánh chưng, và các món dân dã tạo nên một mâm cúng với tất cả lòng thành của con dân làng Trạch Phổ. Đặc biệt, trong mâm tế Bà không thể thiếu chè khoai mài.
Chiêng trống vang đi từ miếu Bà, cây cỏ, đất trời, mùa màng và con người dang tay mở lòng để đón nhận linh khí từ Bà ban phát. Trầm hương tỏa khói nghi ngút cả một không gian, lan theo gió bay ra tận bến nước Ô Lâu.
Tượng nữ thần Poh Nagar được đặt trong khung kính, đèn đóm thắp quanh năm suốt tháng, hương khói nghi ngút những ngày sóc vọng, và lễ tế vẫn được tổ chức bài bản trang nghiêm hằng năm; cho thấy dẫu có những giá trị tín ngưỡng, tâm linh mà người làng có thể chưa hiểu hết, nhưng họ vẫn một lòng phụng thờ và tôn kính. Có lẽ, trong sâu thẳm tiềm thức của người Trạch Phổ vẫn luôn cảm thấy an toàn và được chở che bởi một đấng siêu nhiên. Theo tôi, lối ứng xử nhân văn ấy, xuất phát từ ý niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” của người Việt, khi nhìn dưới lăng kính mang tính phổ quát.
Trong quyết định số 1277/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Huế ngày 16/04/2026 đã xếp hạng ngôi miếu cổ ở làng Trạch Phổ là di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố. Từ quyết định này cho thấy đây không chỉ là sự quan tâm mà còn là một nỗ lực của chính quyền cùng người dân bảo tồn di sản văn hóa nhằm lưu giữ, phát huy, trao truyền những giá trị tốt đẹp của tiền nhân. Không phải sớm, nhưng chưa bao giờ là muộn.
3.
Trong 4 xóm của làng Trạch Phổ, xóm Rôộc là xóm nhỏ nhất. Khoảng 50 ngôi nhà (2026) được những thửa ruộng nhỏ ôm ấp. Con người, lúa và những nỗi buồn nằm vắt vẻo trong khoảnh đất 17,20ha. Và, người ta vẫn thường gọi xóm Rôộc của tôi là “xóm ung thư”.
Những năm từ 2010 trở đi, nỗi buồn loang trong sự hồ nghi và lo âu bủa vây lấy xóm nhỏ. Trong ký ức của đứa trẻ lên bốn, một vài người đã hóa thành cát bụi giữa muôn trùng hư vô. Song, bằng cách nào đó, họ vẫn ở lại trong tâm trí tôi. Bây giờ, trong một chiều giông gió, nhắm mắt và hồi tưởng là tôi có thể thấy lại o Bê, từ gương mặt, dáng người, mái tóc. O Bê - một người đàn bà tội nghiệp của xóm Rôộc.
O Bê không lập gia đình như bao người con gái đến thì. O bán tiêu ở chợ. O có dáng người phốp pháp. O đi một chiếc xe Cub 78, yên sau luôn chất chồng hàng hóa. Khi đi chợ về, o thường ghé vào nhà tôi chơi. Rồi bỗng một ngày, tôi không thấy o Bê đến nhà tôi nữa. Ít lâu sau thì mẹ nói với tôi là o đã mất rồi, vì căn bệnh ung thư. Lúc ấy, tôi chưa hiểu quá nhiều về cái chết. Chỉ là o Bê không ghé nhà tôi nữa, tôi thấy thiêu thiếu một cái gì đó, nên buồn, rồi quên.
Trước nhà tôi là một cánh đồng bạt ngàn lúa và gió. Nhìn xa xôi qua bên kia con hói là thấy đất Quảng Trị. Những ngày hè, tôi hay nằm trước nhà, nhìn cánh đồng và nghĩ vu vơ. Thảng hoặc, có đám tang của người trong xóm đi ngang qua. Chiêng trống. Nấc nghẹn. Tức tưởi. Hoa cúc. Màu trắng khăn tang. Đoàn đưa đám khuất dần về phía xa xôi, những tờ tiền âm phủ tung lên trời rồi nhẹ rơi xuống đất. Và như thế, cái chết hưởng dương của nhiều người xóm Rôộc đã từ từ bước vào tàng thức của tôi, gặm nhấm và trú ngụ hiền ngoan ở đó. Đến khi lớn, chợt thảng thốt bởi những ký ức thuở ấu thơ trầm trở mình trong hanh hao.
Chiều hôm, tôi và mẹ tản bộ quanh xóm. Tôi nói với mẹ, con muốn đến nhà o Suy. O Trần Thị Suy, người đang mang vào mình căn bệnh hiểm nghèo và ngày qua ngày chống chọi. Khi mẹ con tôi đến thì thấy nhà o đã cửa đóng then cài. Tôi và mẹ đành sang nhà khác thăm chơi.
Đến nhà o Hường, hỏi han o. O kể mùa ni o trỉa đến 50 lon đậu phụng, “cầu trời thương mà cho”. Tay o Hường vẫn phe phẩy cái quạt mo cau suốt buổi chuyện trò. Mẹ con tôi lại sang thăm chơi nhà mụ Trại. Mụ Trại năm nay đã gần 90 tuổi, ở cùng người con gái bị câm bẩm sinh. Khi còn ẵm ngửa, mụ đặt tên o là Sương. Nhưng, người làng tôi quên dần cái tên thật đẹp mà mụ Trại đã đặt cho con gái, người ta gọi o là Câm.
“Con Câm, con mụ Trại. Người xóm Rôộc. Đẹp người, vì câm mà ở giá”. Chao ôi!
Mẹ con tôi bước lên thềm, mụ Trại nheo mắt nhìn rồi mừng rỡ: “Ôi chao, thằng cu, bữa ni to cao hơn mạ hung rồi”. O Sương từ trong nhà chạy ùa ra, huơ huơ hai tay, múa may. Mụ Trại liền nói như rào chắn suy nghĩ của tôi: “Cháu đừng sợ nghe, o hiền lắm. Mần rứa là có ý vui đó”. Lúc đó, thâm tâm tôi nghĩ, rằng người ta vẫn có thể tha hồ thương nhau mà không cần đến một tiếng “thương” nói ra thành lời mà. Phải rồi, đâu nhất thiết, đâu nhất thiết.
O Sương quơ tay cầm một cái rổ, đưa qua đưa lại. O cứ “a a, ờ ơ”. Chẳng ai hiểu chính xác o đang nói gì, chỉ có mụ Trại mới hiểu. “Hắn nói thằng cu lúc nhỏ xíu mà chừ to rứa rồi tề!”, mụ Trại giải thích.
Mụ Trại ngồi bên giường, kể chuyện vừa bị bổ bên thềm giếng cách đây mấy ngày, rồi xắn quần để méc cái chân vẫn còn máu bầm. O Sương ngồi trên cái đòn gỗ, bên bếp lò xô để ủi lá nón. Mùi dầu hăng hắc tỏa đi khắp nhà. Bóng đèn điện tù mù đổ dài bóng người. Cảm tưởng một ngọn gió yếu ớt cũng đủ làm cái bóng lỏng lẻo ấy lung lay. Tay o vẫn thuần thục ủi từng lá nón. Tôi thấy, trên vách tường cũ có treo chồng lên nhau hai cái khuôn nón. Và trong căn nhà cuối xóm ấy, hai mẹ con mụ Trại vẫn tựa vào nhau, nương dìu nhau để đi qua cuộc đời.
Uống hết ly nước lá vối thì tôi thưa về. Trời nhòe nhoẹt một màu buồn không tên. Chiều hôm sau, tôi và mẹ lại sang nhà o Suy. Thấy bóng người thấp thoáng ngoài ngõ, con chó đang nằm thiu thiu ở sân tức thì đứng dậy sủa inh ỏi.
Tôi ngồi đó, lắng nghe người phụ nữ sống đời với đậu mè giãi bày, trần tình miên viễn cơ cầu. Dâu bể in hằn trên dáng người gầy gò và mái tóc pha sương. Dấu vết của thời gian và bệnh tật gấp lại thành từng nếp, nằm ngay ngắn trên trán.
O Suy bị ung thư trực tràng, đến nay đã 6 năm sống chung với căn bệnh ấy. O phát hiện bệnh từ năm 59 tuổi. O kể, khổ nhất là năm dịch bùng phát, đi lại khó khăn, một tuần ở nhà, một tuần vào viện. Cứ thế, của cải tích góp cả một đời ruộng đồng cạn kiệt, đời sống kiệt quệ. O Suy bấm đốt ngón tay, lẩm nhẩm tính: “Gần một trăm rưỡi triệu vì bệnh ni. Bán chi được là bán hết, may răng còn giữ được cái nhà chơ mô. Thôi thì cũng nhờ ơn trên”. Tôi nghe, xốn xang lòng.
Trong căn nhà mà o gắng gượng níu giữ, hai vợ chồng sống với nhau. Bệnh tình của o Suy nay đã ổn định, giảm dần những cơn đau giày vò thân xác. Bây giờ thì cứ 3 tháng o mới phải đi tái khám một lần. Mỗi tháng, o Suy được nhà nước hỗ trợ 1 triệu đồng để giảm bớt gánh nặng thuốc thang.
Nhưng có lẽ, ông trời không muốn người phụ nữ tội nghiệp ấy của xóm Rôộc được yên phận. Chú Lai - chồng o Suy - người đàn ông gầy rạc ngồi bên tôi đây cũng mắc phải căn bệnh suy tim.
Thiết nghĩ, trời đất đã thả con người vào một cái hộp với cơ man khóc cười và được mất, sung sướng lẫn tủi nhục, hạnh phúc xen khổ đau. Người ta thường gọi cái hộp vô thể ấy là “cuộc đời”. Con người, không thể trốn chạy, càng không thể biến mất, khi nắng vẫn còn chảy trên vai.
Chuyện là, người các xóm khác trong làng Trạch Phổ đều lấy nước giếng để sinh hoạt. Nhưng mạch nước ngầm dưới lòng sâu xóm Rôộc lại không được trong. Vì vậy mà người xóm Rôộc năm xưa đã ra những cái hố bom xói lở đọng nước mưa để gánh nước về nấu nướng, tắm giặt trong một thời gian rất dài, trước khi có nước sạch. Trong những hố bom ở xóm Rôộc, thì hố nước cạnh nhà thờ họ Nguyễn Văn là trong xanh nhất. Cái hồ nước ấy là điểm lấy nước chính của cả xóm.
Xóm Rôộc nhỏ nhoi thôi, nhưng có tới 8 hố bom. Tôi đến với cuộc đời trong ánh sáng của hòa bình. Tôi không thể mường tượng nổi, mảnh đất xóm Rôộc đã 8 lần run lên và quặn thắt. Máu huyết của đất đai chảy ròng ròng rất thật, mà mắt trần của người đời không thể thấy.
Một thời gian lâu sau, nhiều người trong xóm Rôộc nằm xuống do căn bệnh ung thư. Đỉnh điểm là vào những năm 2010 đến 2013. Thời điểm ấy, xóm Rôộc không nhiều hộ gia đình như bây giờ, nhưng đã có tới 11 người lâm bệnh và lần lượt ra đi. Đa phần, họ đều là bà con của nhau. Chú Tiệp và o Bê là anh em ruột đều mắc bệnh. Năm nay, người con trai của chú Tiệp là anh Nam cũng đã ra đi khi tuổi thanh niên vì căn bệnh ám ảnh ấy với người xóm Rôộc. Hay như ông Mưu, mụ Oánh, hai vợ chồng đều rời xa cõi tạm vì ung thư.
Mỗi lần nhìn những cái hố sâu hoắm, đất bị xới tung lên, mưa xuống thì nước đọng lại, tôi lại thấy nhói buốt trong lòng. Đó là những vết thương hở thật đau đớn của đất. Người sống trên đất nên người gánh chịu?
Về cơ bản, chưa có kết quả nghiên cứu nào khẳng định chính xác có phải nguồn nước sinh hoạt từ các hố bom là nguyên nhân trực tiếp gây nên ung thư hay không? Nhưng, người xóm Rôộc vẫn truyền tai nhau rằng vì nguồn nước ấy chứa chất độc hóa học từ bom mìn tàn dư chiến tranh. Báo chí phản ánh, cũng đã đặt ra giả thiết như thế, để lý giải hiện tượng ở mức sơ khởi. Và o Suy, năm xưa cũng như cha chú của tôi, chiều chiều ra đó gánh nước về nhà.
Những giả định, những hoài nghi đều tương đối. Duy chỉ có nỗi đau là tuyệt đối, là có thật.
Trong thế hệ những người sử dụng nước hố bom ở xóm Rôộc, thì o Suy, tính đến thời điểm hiện tại, là người cuối cùng mang bệnh ung thư. Tôi hỏi o có nghĩ rằng do nguồn nước hố bom mới gây nên bao cớ sự không. “Không biết có phải do rứa không, nhưng xóm ni nhiều trường hợp quá, không tin không được”, o nói, rồi lại trầm tư. Hốc mắt sâu, gò má cao, nước da ngăm cùng chất giọng đặc sệt thổ âm Trạch Phổ của o Suy xoáy hút tôi vào một nỗi thâm trầm lạ lùng.
Câu an ủi quen thuộc mà người ta vẫn thường nói với người bệnh: “Đừng suy nghĩ nhiều, cứ thoải mái tâm hồn cho mau lành bệnh”. Nhưng, thử hỏi, sống giữa đời, mắt thấy tai nghe cái bộn bề, làm sao buộc con người khước từ được những âu lo? O Suy nhìn ra vạt nắng chiều nằm dài mỏi mệt trước sân, trầm ngâm một lúc rồi nói: “Trôn (mong) cho thằng Lượng có vợ, tội nghiệp hắn, thương ba mạ bệnh tật mà không chịu vợ con chi hết”. O Suy có ba người con, hai gái, một trai. Bây giờ, chỉ còn một người con trai chưa lập gia đình.
Trời nghiêng vai trút nắng như người đàn bà trút hết uất nghẹn ở đời qua ba nén hương thơm. Nắng héo úa như đang trào một dải buồn bã trên những mái nhà của xóm Rôộc. Mẹ tôi phải về nhà để nấu cơm tối, còn tôi thì đi ra nhà thờ họ Nguyễn Văn. Gió chiều thổi mềm xóm nhỏ. Nước hố bom cạnh đó vẫn xanh trong leo lẻo, tựa hồ con mắt long lanh ứa lệ, ngước lên nhìn trời xanh mây trắng trôi về.
Tuổi thơ tôi rất ít khi ra hồ nước này. Mệ nội tôi dặn con nít đừng ra đó chơi, nước độc không hay về sau. Mỗi năm, tôi chỉ ra nhà thờ họ Nguyễn Văn một lần vào dịp hè, đó là khi Họ của tôi phát thưởng khuyến học cho con cháu. Tôi đã cùng anh em đứng vắt víu trên cây vối vươn ra giữa hồ mà nói cười rôm rả.
Giờ đây, tôi lại đến từ đường họ Nguyễn Văn, đứng cạnh hồ nước trong một chiều hè đỏ lửa. Gió vẫn thổi. Nước vẫn trong. Chỉ là tôi đã lớn rồi, ra dáng thanh niên trai tráng. Và chỉ là, ở đây, lúc này, có một mình tôi, cùng những nỗi buồn rất thẳm sâu lặn dần rồi chìm lút dưới lòng hồ.
Anh em của tôi, bạn bè của tôi thời ấu thơ vô lo vô nghĩ, trong chật chội và vội vã của thị thành, có khi nào chợt thấy nhớ thương xóm nhỏ, hiện lên trong tâm trí một cái hồ nước với cơ man câu chuyện, để rồi bất giác muốn khóc như tôi không?
Bây giờ thì nguồn nước này, không ai còn dám đụng đến nữa. Nỗi đau được thời gian phủ bụi, nhưng ký ức màu xám tro vẫn khôn khuây. Tất lẽ dĩ ngẫu, người xóm Rôộc miệt mài lom khom trên đồng, khi vươn thẳng lưng lên, chợt thảng thốt một nỗi niềm gì đó, rất hoang vu, về người thân của họ đã ra đi vì ung thư.
4.
Năm 32 tuổi, mẹ tôi đem nhau thai, cuống rốn của đứa con rạ chôn xuống đất thịt làng Trạch Phổ. Mùa màng sau, mồ hôi ba tôi chảy ướt cánh đồng, thấm vào sợi dây liên sinh ấy. Tôi chầm chậm bước đi rồi thong thả lớn lên. Cho đến khi, đôi chân tôi đã cứng cáp, mẹ nói với tôi: “Vì mẹ ít chữ nên mẹ không biết chi mà khuyên con. Con suy nghĩ thiệt kỹ, chọn ngành mà con thích, con thương”.
Trước muôn vàn phương lối, tôi đã nói với mẹ rằng tôi muốn được học đại học ở Huế. Trong sâu thẳm tâm tư và chạm đến những vỉa tầng riêng mang nhất của tình yêu, thực sự tôi không nỡ rời xa Huế, không nỡ đi quá xa ngôi làng đã nung nấu, dưỡng nuôi tâm hồn tôi.
Những ngày đầu tiên xa quê, trong đêm, khi nhắm mắt lại, tôi thấy mình trôi miên vô định trên dòng sông không tên, thi thoảng có ý thức le lói vụt lên: đi tìm một bến bờ quê nhà trong tâm tưởng. Tôi loay hoay, hoảng hốt, bấn loạn giữa muôn vàn vụn ký ức. Bật đèn, đứng rồi ngồi. Sao mãi mà trời chưa sáng? Lòng tôi cứ bồn chồn, nôn nao như thế suốt nửa đêm về sáng.
Cuối tuần, tôi về quê. Một tuần thôi nhưng tôi thấy dài lê thê. Cậu là sinh viên năm 3 của trường Y. Cậu chở tôi về trên chiếc xe máy cũ. Cậu cháu tôi về nhà trong một buổi chiều êm ả. Gần đến làng, cậu quay lui hỏi tôi: “Về tới đây rồi, cảm thấy nhẹ nhõm, an toàn phải không?”. Tôi bất ngờ khi cậu gọi đúng tâm trạng và cảm xúc của tôi lúc ấy. “Răng cậu hỏi rứa?”. “Thì cậu cũng từng là sinh viên năm 1 mà”. Cậu cháu tôi bật cười.
Qua hết cánh đồng sắn Câu Nhi, gặp một cây cầu nho nhỏ. Cầu có tên là Trạch Phổ. Làng tôi ở đó rồi!
Tôi lên mệ nội. Mệ tôi không thể đi lại được mà chỉ nằm một chỗ trên giường đã nhiều năm, nhưng trí tuệ vẫn còn minh mẫn và sáng suốt. Mệ hay nói về cái chết, hay khóc vì buồn tủi tuổi già, đôi khi chuyện nhỏ cũng mếu máo chảy nước mắt. Thấy tôi, mệ mừng quay quắt, rồi rưng rưng: “Răng một tuần mà lâu dữ rứa? Khi mô cháu vô lại trong nớ?”. Tôi vừa về đây mà mệ đã hỏi khi nào tôi đi lại. Chừng như cuộc đời mệ cũng vậy, luôn nghĩ và chuẩn bị chu toàn trước mọi chuyện.
Tôi nhớ, năm tôi học cấp 2, mệ dành dụm, chắt chiu, tằn tiện để làm 5 phân vàng cho tôi. Mệ nói cho cháu trước để không thôi mai mốt lẫn rồi không biết mà cho. Các anh chị đều tới tuổi dựng vợ gả chồng, mệ đã trao, còn tôi nhỏ nhất nhà, chờ tôi lập gia đình thì sợ… mệ đã không còn.
Tôi dùng 5 phân vàng ấy để đâu một cái bàn học và đóng một cái kệ sách to. Tôi đặt bàn sát tường. Tôi đem hết sách đặt lên kệ. Và tôi đã ngồi ở đó, đem quyển vở ô li ra, say sưa viết tiếp những trang văn hồn nhiên, thơ dại mà suốt đời sau nhớ lại, tôi ngậm ngùi thương tôi…
Quê hương tôi vẫn nằm yên ả ở đó, cong mình trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Tháng ba đất ráo. Tháng mười đất nhão. Đời sống người dân Trạch Phổ nghèo khó khi quanh năm chỉ trông cậy vào hai vụ lúa. Trời thương thì mừng, trời không thương thì một năm buồn, ngước nhìn trời mà chỉ biết thở ra xao xác đắng cay. Vì lẽ đó, những đứa trẻ lớn lên, dẫu không chọn con đường học vấn, vẫn phải cất bước ra đi.
Nhưng giờ đây, đời sống của người dân đã khấm khá hơn nhiều so với trước. Trạch Phổ là làng thí điểm nông thôn mới Saemaul do Quỹ Saemaul Hàn Quốc tại Việt Nam hỗ trợ triển khai từ năm 2017, mà đằng sau đó là nhờ một phần vào việc tích cực hợp tác, ký kết của Ủy ban nhân dân các cấp. Tổng kinh phí cho dự án này tại làng tôi lên đến 14,2 tỷ đồng6. Họ - những chuyên gia - về làng tôi, nói chuyện với nông dân, hướng dẫn kỹ thuật canh tác, định hướng thực hiện nông thôn mới, và cùng người dân bắt tay vào xây dựng cơ sở hạ tầng. Cả một vùng độn cát rộng lớn vốn chỉ để chôn cất người chết, thì nay, người dân làng Trạch Phổ biết trỉa xuống đó hạt ném. Ném hăng nồng ướp tràn sự ấm no cho những mái nhà và phận người từ độ ấy.
Tôi vẫn thường nghe thanh âm trầm bổng ngân vang trong những chiều đi lang thang qua các xóm nhỏ. Đó hẳn là những bài ca được viết bằng cây lúa và hạt ném. Lúa hát ở đây. Ném hát ở xa, từ trên độn cát vọng về.
Vĩ thanh: Chiều rụng rơi. Gió Lào quầy quả. Mẹ Ô Lâu đang nằm than trong những tháng ở cữ yếu ớt. Trước sông, tôi ngụp lặn hồn mình xuống dòng nước hâm hẩm. Chợt nhiên, tôi nghĩ, đất và người Trạch Phổ chẳng phải được cưu mang bởi hai bà Mẹ? Một ngự tọa trong ngôi miếu cổ, dân làng tôi tôn kính gọi là Bà Giàng. Một chảy thành dòng, người Trạch Phổ yêu thương gọi là Ô Lâu. Ý nghĩ ấy tựa hình trước Mẹ, khiến tôi bỗng muốn trong tay mình có sáu nén hương thơm; ba nén quay ra, ba nén quay vào.
N.V.Đ.A
(TCSH450/08-2026)
------------------------
1 Câu nói cường điệu tạo tiếng cười. Song, nó còn thể hiện đức tính cần lao của người Trạch Phổ. Ngày trước, người làng Trạch Phổ khi làm đất khô để trồng khoai sắn, đậu mè, cần có sức bền và mạnh. Việc ăn khô, không ăn canh là hòng no lâu, có sức để làm đồng cạn.
2 Ủy ban nhân dân huyện Phong Điền (2005), Địa chí Phong Điền, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 97, 98.
3 Dương Văn An (2001), Ô Châu cận lục - Tân dịch hiệu chú (Trần Đại Vinh - Hoàng Văn Phúc hiệu đính và dịch chú), Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 88.
4 Dương Văn An (2009), Ô Châu cận lục (Văn Thanh - Phan Đăng dịch và chú giải), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 101.
5 Tài liệu gốc: Léopold Cadière (1905), “Monuments et souvenirs chams du Quảng-trị et du Thừa-thiên”, Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient, Tome 5, No. 1-2, pp. 192.
Tài liệu dịch: Léopold Cadière (2020), “Di tích và di vật Chăm trên vùng đất Quảng Trị và Thừa Thiên” (Salem Phan dịch), Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, số 2 (156), tr. 133.
6 Công Điền (2023), “Thí điểm mô hình làng mới của Hàn Quốc tại Thừa Thiên Huế”, Báo Nông nghiệp và Môi trường. Địa chỉ truy cập: https://nongnghiepmoitruong.vn/thi-diem-mo-hinh-lang-moi-cua-han-quoc-tai-thuathien-hue-d359508.html