KHẢI ĐÔNG
Tôi đến Huế đôi lần, từ những ngày xanh trẻ tới khi đã qua non nửa sườn đồi. Ngồi nhớ lại cái chạm mặt đầu tiên, chắc cũng phải từ hơn hai mươi năm trước, vào mùa hè tôi cùng ba khăn gói ra dự kỳ thi đại học.
Chuyến xe khách lăn bánh từ Bình Định (hiện là Gia Lai) lúc 5 giờ sáng, tới Huế đã chạng vạng 16 giờ chiều. Trong cuộc “thiên di” ấy tuy có dừng lại quãng giữa ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) để nghỉ ngơi, ăn uống, nhưng vẫn khiến hai ba con “lặng nửa con người”. Chưa bao giờ chúng tôi đi xa đến thế.
Ba xách chiếc túi vải đã sờn quai, bên trong là vài cuốn sách cùng hồ sơ dự thi được mẹ tôi quấn kỹ bằng mấy lớp bì nhựa chống ướt, còn tôi thì thong dong hơn, vừa đi vừa lén nhìn phố xá. Mọi thứ đều lạ, nhưng không hề xa cách như tôi từng nghĩ. Ở Huế, nhịp sống rất chậm rãi.
Ba tôi thuê một căn phòng trọ ở gần Kim Long, cạnh nơi tôi sẽ dự thi. Chủ nhà là một đôi vợ chồng già. Căn nhà nép sau hàng chè tàu được cắt vuông vức, phía trước có giàn hoa giấy tím rủ xuống cánh cổng gỗ, phía sau là một khu vườn rộng với đủ thứ cây trái. Bà chủ nhà mở cửa đón hai cha con bằng nụ cười hiền hậu và giọng Huế nhỏ nhẹ. Dàn xếp ổn thỏa, chúng tôi ăn cơm chung cùng ông bà chủ nhà sau khi bàn bạc sẽ tính thêm vào tiền trọ.
Đêm đầu tiên ở Huế, tôi nằm mãi mà không sao chợp mắt. Căn phòng nhỏ đủ kê hai chiếc giường đơn, cái quạt trần quay nhè nhẹ phát ra tiếng kẽo kẹt đều đều. Ngoài cửa sổ, ánh đèn đường hắt qua tán cây, in những vệt sáng mờ lên bức tường vôi cũ. Tôi kéo chiếc chăn mỏng ngang ngực, nghe tiếng côn trùng rả rích đâu đó trong khu vườn sau nhà. Ba nằm ở giường bên cạnh, tôi biết ông cũng chưa ngủ. Thỉnh thoảng ông trở mình khe khẽ. Hai cha con chẳng nói với nhau câu nào, nhưng trong căn phòng nhỏ ấy, tôi vẫn cảm nhận được nỗi lo của ba. Chuyến đi này là một quá trình chắt chiu của cả gia đình. Mấy vụ lúa, từng đồng tiền dành dụm mới đủ cho ba đưa tôi lên đường thi đại học. Tôi nhìn lên trần nhà, tự nhủ lòng phải cố gắng thật nhiều, không chỉ vì ước mơ của tuổi trẻ mà còn vì đôi vai đã bắt đầu còng xuống của ba mẹ. Đêm ở Huế cứ thế dài ra, với những cảm xúc trĩu trịt đáy lòng.
Ba tôi mở cửa sổ, tôi cũng ngồi dậy theo, ngó mắt ra xa. Huế về đêm yên tĩnh đến lạ. Con đường nhỏ trước nhà trọ gần như chẳng có tiếng xe, chỉ có ánh đèn vàng trải dài trên mặt đường còn vương hơi mưa ban chiều. Mùi hoa ngọc lan từ khu nhà vườn bên cạnh theo gió thoảng sang, dịu nhẹ vấn vít. Ở quê, giờ này chắc mẹ cũng chưa ngủ, hẳn là còn thấp thỏm không biết hai cha con đã tìm được chỗ trọ chưa, đã ăn uống đàng hoàng chưa. Cái thời điện thoại di động là thứ đồ xa xỉ, muốn báo bình an chắc đành gửi cho vạt gió trời.
Sáng hôm sau, tôi dậy rất sớm để ôn bài. Cánh cửa sổ ở phòng mở ra trước mắt tôi một khoảng xanh dịu mát, khác hẳn với đêm qua. Những hàng cau cao vút đứng thành hai dãy, thân cây thẳng và thanh thoát. Ánh nắng đầu ngày xuyên qua tàu lá, vương xuống nền đất thành những vệt sáng lung linh. Ở quê tôi cũng có cau nhưng chỉ vài ba cây để lấy trái ăn trầu; còn ở đây cau như trở thành một phần của nếp nhà. Chúng đứng lặng lẽ bao quanh mái ngói rêu phong, khiến cả không gian trở nên thanh thoát.
Lúc đó ba bước ra sau lưng tôi, tay cầm ly trà nóng bà chủ nhà vừa pha. Ông nhìn theo ánh mắt tôi rồi mỉm cười, bảo chiều nay sau khi làm thủ tục xong sẽ dẫn tôi đi dạo cho khuây khỏa, sẵn tiện thăm mấy khu nhà vườn. Tôi ngạc nhiên hỏi sao ba biết nơi đó? Ông kể rằng nhiều năm trước, trong một chuyến làm công ngắn ngày, ông từng ghé Kim Long và bị mê hoặc bởi những khu vườn cổ. Đến Huế mà không đi nhà vườn thì giống như về miền Tây mà chưa từng ngồi xuồng vậy. Ba tôi chốt lại một câu tỉnh rụi, rồi cười, nụ cười hiếm hoi làm gương mặt sạm nắng bỗng hiền hẳn đi.
Buổi chiều, sau khi hoàn thành thủ tục, hai ba con men theo con đường nhỏ rợp bóng cây. Chẳng có lịch trình, cũng không mang theo bản đồ, ba bảo cứ đi, gặp ngõ nào đẹp thì rẽ vào. Sau những bức tường thấp phủ đầy rêu là những mái nhà ba gian lợp ngói liệt đã ngả màu thời gian. Trước sân là bình phong, non bộ, hồ cạn và những khóm hoa được cắt tỉa cẩn thận. Cây cối nhiều đến mức khiến người ta có cảm giác ngôi nhà đang nằm lọt thỏm giữa lòng khu vườn, nhỏ bé và bí ẩn. Cái đẹp của nhà vườn Huế nằm ở sự hài hòa giữa con người với cây cối, cùng nếp sống thuận với thiên nhiên. Mỗi gốc cây như đang gìn giữ một câu chuyện của thế hệ trước, mỗi khoảng sân như còn in dấu những bữa cơm sum họp. Và cô học trò mười tám tuổi năm ấy, giữa bao nỗi lo của kỳ thi phía trước, đã bất giác mơ một ngày nào đó, nếu có thể dựng một mái nhà cho riêng mình, cũng sẽ trồng trước sân vài hàng cau, một gốc bưởi, để giữ lại chút bình yên từng gặp trong buổi đầu đến với Huế.
Sau khi đi hết con đường nhỏ ở Kim Long, ba không đưa tôi đến những nơi đông khách du lịch. Ông bảo, nếu muốn hiểu Huế thì đừng chỉ đứng trước Đại Nội hay chụp vài tấm hình bên sông Hương. Huế còn nằm trong những con ngõ yên tĩnh, nơi người ta vẫn thức dậy cùng tiếng chim, vẫn mở cánh cửa gỗ đã bạc màu mỗi sớm và vẫn coi việc chăm một khu vườn cũng quan trọng như chăm một nếp nhà. Thế rồi hai cha con cứ thong thả đi, qua những hàng rào chè tàu xanh mướt, qua những cánh cổng thấp khép hờ như đang cất giữ một miền ký ức. Càng đi, tôi càng nhận ra nhà vườn Huế không giống bất cứ kiểu nhà nào mình từng biết. Người miền Tây thì quen dựng nhà nhìn ra sông, trước sân thường là khoảng đất rộng để phơi lúa, hong cá, trẻ con chạy nhảy. Còn ở Huế, ngôi nhà như lùi lại một bước để nhường phần đẹp nhất cho cây cối. Từ ngoài nhìn vào, người ta chỉ thấy thấp thoáng mái ngói rêu phong sau hàng cau cao vút, sau những tán thanh trà, mộc lan, ngâu, vả, hay hồng quân. Ngôi nhà nép vào thiên nhiên như người con gái Huế luôn giữ sự ý nhị.
Ba bảo, ngày xưa người Huế quan niệm dựng nhà cũng là dựng một nếp sống. Nhà cũng là nơi nuôi dưỡng cốt cách của con người. Bởi vậy, từ chiếc cổng, bình phong, lối đi, hồ nước cho đến từng gốc cây đều được sắp đặt có chủ ý. Cây cao chắn gió, cây thấp đón nắng. Hoa thơm đặt gần hiên để sáng mở cửa đã ngửi được hương. Cây ăn trái trồng quanh vườn để mùa nào cũng có thức quả dâng lên bàn thờ tổ tiên.
Đi được một quãng, hai cha con dừng trước một căn nhà cổ. Cánh cổng gỗ mở hé. Trên mái ngói, rêu phủ thành từng mảng xanh mướt. Một cụ ông tóc bạc đang tỉ mẩn tưới mấy chậu lan trước hiên. Thấy khách đứng ngập ngừng, ông mỉm cười mời vào uống trà.
Ngồi trong gian nhà ba gian mát rượi, tôi có cảm giác thời gian cũng chảy chậm lại. Bộ trường kỷ bằng gỗ đã lên nước bóng loáng, những bức hoành phi, câu đối treo trên cao nhuốm màu năm tháng. Mùi trầm thoảng trong không gian quyện với hương hoa ngọc lan ngoài sân. Cụ ông rót trà rồi kể, ngôi nhà này đã hơn trăm tuổi. Ông là đời thứ tư sống ở đây. Hàng cau trước sân do cụ cố trồng. Cây thanh trà sau hè là của bà nội. Giàn thiên lý bên hiên do mẹ ông cắm lúc mới về làm dâu. Mỗi đời chỉ trồng thêm vài gốc cây, sửa lại vài viên ngói, thay một cánh cửa khi thật cần thiết.
Tôi nhìn ra khu vườn ngoài cửa. Nắng chiều rải xuống những tàu cau thành từng vệt vàng óng. Vài chiếc lá khô lặng lẽ rơi xuống lối gạch. Điều làm tôi nhớ nhất hôm ấy không phải là ngôi nhà cổ, mà là câu chuyện cụ ông kể về những năm chiến tranh. Ông nói rằng hồi ấy, nhiều khu nhà vườn ở Kim Long, Phú Mộng hay Nguyệt Biều không chỉ là nơi ở. Đó còn là nơi cưu mang những người đi qua bom đạn, là chỗ trú chân của cán bộ, là nơi giấu những gùi gạo, những bao thuốc men dưới gốc cây ăn trái. Có những đêm, cả khu vườn tối om vì phải tắt hết đèn, chỉ còn tiếng chân người lặng lẽ đi trong bóng tối. Chiến tranh qua đi, cây vẫn lớn lên, nhưng mỗi gốc cau, mỗi viên gạch dường như đều cất giữ một câu chuyện mà người đời sau chỉ có thể cảm nhận bằng vài lời kể lại và một trái tim biết yêu thương cội nguồn.
Nhà vườn Huế rồi cũng sẽ già đi như con người. Những mái ngói sẽ bạc màu hơn, những bức tường sẽ thêm rêu, những thân cau sẽ cao thêm vài mét. Nhưng nếu còn có người lặng lẽ tưới cây mỗi sáng, còn có người quét lá mỗi chiều, còn có người kiên nhẫn giữ lại một cánh cổng cũ thì nhà vườn vẫn luôn tồn tại như một biểu tượng của Huế.
Trên đường trở về phòng trọ, nắng Huế nhạt dần sau những hàng cau. Tôi ngoái nhìn khu vườn vừa đi qua lần cuối. Gió khẽ lay những tàu lá, tiếng chim gọi nhau về tổ vang lên giữa khoảng không yên tĩnh. Trong khoảnh khắc, tôi bỗng có cảm giác mình không chỉ vừa tham quan một ngôi nhà cổ, mà là vừa bước qua một lớp trầm tích của văn hóa Huế nơi con người đã học cách sống chậm, sống cùng cây cối, cùng tổ tiên và cùng thời gian.
Mấy ngày ở Huế trôi qua nhanh hơn tôi tưởng. Những buổi lang thang cùng ba qua các con đường nhỏ dần trở thành quen thuộc. Có hôm hai cha con chỉ đi vài cây số rồi quay về, có hôm đi mãi đến lúc đèn đường vừa sáng. Đến ngày cuối trước khi trở về, bà chủ nhà trọ bảo với hai cha con rằng nếu còn chút thời gian thì nên ghé thăm một gia đình ở cuối con đường. Họ là một trong số ít những người vẫn giữ gần như nguyên vẹn khu nhà vườn của tổ tiên. Chúng tôi tìm đến khi nắng vừa dịu. Cánh cổng gỗ mở rộng, trước sân là hai hàng cau xanh mướt vươn lên nền trời trong veo, không gian yên ắng. Một người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi đang cắt tỉa bụi nguyệt quế.
Câu chuyện giữa ông với ba tôi bắt đầu bằng những điều rất giản dị, như hỏi thăm quê quán, mùa màng, cây trái. Hai người đàn ông cùng lớn lên ở những vùng quê khác miền nhưng lại dễ tìm thấy tiếng nói chung. Tôi ngồi lặng nghe, thi thoảng nhìn ra khu vườn đang đón nắng cuối ngày.
Ông Phúc kể, khu vườn rộng gần một mẫu này đã có từ thời cụ nội. Mỗi đời người đi qua đều để lại một dấu vết. Với gia đình ông, khu vườn chưa bao giờ chỉ là tài sản. Nó giống một cuốn hồi ký, mỗi thế hệ viết thêm vài trang rồi lặng lẽ trao lại cho thế hệ sau. Ông dẫn chúng tôi đi dọc lối gạch quanh vườn. Bên trái là hàng thanh trà đang mùa sai quả, từng chùm trái xanh lấp ló sau tán lá. Bên phải là những cây mộc lan và ngọc lan, dành dành tỏa hương dìu dịu. Xen giữa là những luống rau nhỏ được chăm sóc cẩn thận. Điều khiến tôi ngạc nhiên là trong khu vườn rộng ấy chỗ nào cũng có cây, có hoa, có cỏ, nhưng lại không hề tạo cảm giác chật chội.
Câu chuyện chuyển sang những đổi thay của nhà vườn Huế. Ông Phúc nhìn ra cánh cổng, giọng chùng xuống. Ông bảo bây giờ giữ một khu vườn không còn dễ như xưa. Đất ngày một có giá. Con cháu học hành rồi lập nghiệp ở những thành phố lớn. Người trẻ ít ai còn đủ kiên nhẫn để mỗi sáng quét lá, tỉa cành, chăm từng gốc cây như cha ông họ đã từng làm. Không ít khu nhà vườn đã bán đi, bị chia nhỏ hoặc cải tạo thành những công trình mới. Trước khi chia tay, ông Phúc đưa chúng tôi ra tận cổng. Bất ngờ, ông bẻ một nhánh ngọc lan còn nguyên nụ rồi trao cho ba tôi. Ông bảo cứ mang về cắm trong ly nước, vài hôm nữa hoa sẽ nở. Hương ngọc lan càng về khuya càng thơm.
Trên đường trở về, hai cha con vẫn đi bộ. Trời Huế đã ngả sang màu vàng mật. Gió từ sông Hương thổi vào mát rượi. Những hàng cau ven đường nghiêng nhẹ trong nắng chiều. Ba tôi nhìn về phía cuối con đường, nơi bóng cau đang đổ dài trên mặt đất. Có lẽ, đó cũng là điều kỳ diệu nhất của nhà vườn Huế. Giữa những đổi thay không ngừng của cuộc đời, vẫn luôn cần có những con người lặng lẽ sống chậm, như những hàng cau xanh trước hiên nhà vườn, để gìn giữ cho mai sau một khoảng bình yên.
Rời Huế, tôi mang theo nhiều bài học hơn là một kỳ thi vừa khép lại. Trong ba lô là vài cuốn sách, mấy gói mè xửng, ít trái thanh trà bà chủ nhà trọ cho để ăn dọc đường.
Cuộc đời sau đó cuốn tôi đi như bao người trẻ khác. Tôi không đậu đại học ở Huế mà đậu nguyện vọng 2 tại Đà Nẵng. Những năm tháng học hành, lập nghiệp rồi mưu sinh khiến khoảng cách giữa tôi và Huế ngày một xa hơn. Có những giai đoạn, tôi đi qua rất nhiều thành phố. Nơi nào cũng có những tòa nhà mới mọc lên, những khu đô thị sáng đèn, những đại lộ rộng mở. Người ta nói nhiều về tốc độ phát triển, về sự hiện đại, về những công trình kỷ lục. Ít ai còn nhắc đến một khu vườn cũ hay một hàng cau già. Có lúc, tôi cũng tưởng mình đã quên. Cho đến một ngày, nhiều năm sau, tôi trở lại Huế.
Lần này không còn ba đi cùng. Ba đã rời xa chúng tôi sau một cơn bạo bệnh. Những năm cuối đời, mỗi lần nhắc đến Huế, ba vẫn thường hỏi vu vơ rằng không biết những hàng cau ở Kim Long giờ còn xanh như trước không, khu nhà vườn năm ấy có còn người quét lá mỗi sáng hay đã đổi thành quán xá, khách sạn? Tôi chỉ cười, hứa sẽ có ngày đưa ba trở lại. Vậy mà lời hứa ấy mãi mãi không còn cơ hội thực hiện.
Con đường từ bến xe về Kim Long bây giờ rộng hơn trước. Hai bên đường xuất hiện thêm nhiều quán cà phê, homestay và những ngôi nhà mới. Dòng người cũng đông đúc hơn. Thành phố không còn trầm lặng như ký ức của cô học trò mười tám tuổi năm nào. Thế nhưng, chỉ cần rẽ khỏi con đường lớn, bước vào những con ngõ cũ, tôi lại gặp một Huế rất quen. Vẫn những bức tường rêu xanh, những giàn hoa giấy buông xuống cánh cổng gỗ, những tiếng chim ríu rít trên tán thanh trà và những hàng cau đứng thẳng trong nắng sớm.
Tôi tìm đến căn nhà trọ cũ. Cây khế đã lớn hơn. Giàn thiên lý phủ kín một góc hiên. Hai hàng cau vẫn cao vút giống hệt ngày nào. Tôi đứng dưới gốc cau rất lâu, bất giác ngẩng đầu lên như thể đang tìm bóng ba ngày ấy giữa những tàu lá đung đưa.
Chiều hôm ấy, anh hướng dẫn viên đưa tôi đi thăm vài khu nhà vườn khác. Có nơi vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn. Có nơi đã mở cửa đón khách tham quan, tổ chức những buổi thưởng trà, nghe ca Huế hay giới thiệu nghề làm bánh truyền thống. Ban đầu, tôi băn khoăn không biết việc đưa du lịch vào nhà vườn có làm mất đi sự tĩnh lặng vốn có hay không. Một bác chủ vườn ngoài bảy mươi tuổi cười hiền khi nghe tôi hỏi điều ấy. Bác bảo, nếu cứ đóng kín cổng, chỉ vài chục năm nữa sẽ chẳng còn ai biết nhà vườn Huế từng đẹp ra sao. Người trẻ bây giờ phải đi làm, phải kiếm sống. Muốn giữ một khu vườn rộng hàng nghìn mét vuông đâu chỉ cần tình yêu, mà còn cần cả kinh phí để chăm sóc, sửa mái ngói, chống mối mọt, cắt tỉa cây cối. Tôi thấy trong lời bác không hề có sự nuối tiếc, chỉ có một sự bình thản của người hiểu rằng mọi giá trị muốn tồn tại đều phải tìm được cách thích nghi. Nhà vườn Huế cũng vậy. Nếu cứ khư khư giữ nguyên mà tách mình khỏi cuộc sống hôm nay, có lẽ một ngày nào đó chúng sẽ chỉ còn là những căn nhà vắng người. Điều đáng quý là nhiều gia đình vẫn giữ nếp nhà, vẫn giữ cây cối, vẫn giữ cách sống của cha ông, mở rộng cánh cổng để nhiều người bước vào lắng nghe câu chuyện của khu vườn.
Điều khiến tôi xúc động nhất trong chuyến trở lại ấy là gặp những người trẻ đang tiếp nối công việc của cha ông. Có cô gái vừa học xong đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh trở về Huế để chăm sóc khu vườn của gia đình. Có chàng trai từ chối công việc ổn định ở nước ngoài vì không muốn căn nhà trăm tuổi của ông bà bị bỏ hoang. Họ chẳng bao giờ nói những điều lớn lao về bảo tồn văn hóa, mà chỉ lặng lẽ cắt cành, tưới cây, học cách pha một ấm trà, học cách kể cho du khách nghe lịch sử của từng gốc cau, từng viên gạch cũ.
Chiều buông trên khu nhà vườn. Tôi ngồi dưới hiên, nhấp một ngụm trà sen, nghe tiếng chim tìm về tổ. Thành phố này vẫn đang chuyển động từng ngày, chỉ có điều, những ngôi nhà vườn biết cách mang theo quá khứ của mình trên hành trình mới.
K.Đ
(TCSH450/08-2026)