TRANG THÙY
Bút ký dự thi
Dọc theo thượng nguồn sông Hương chúng tôi ngược từ đồi Vọng Cảnh nhắm hướng Bình Điền thẳng tiến. Đường đi giờ đã được lát nhựa, xe chạy êm êm qua điện Hòn Chén, qua đồi thông được bao quanh bởi tường rào của lăng vua Gia Long.
Dòng sông uốn lượn như dải lụa phủ màu phỉ thúy chảy qua nhiều ngôi làng cây cối xanh tươi trù phú trước khi qua Kinh thành Huế rồi hòa mình ra Biển Đông. Chúng tôi đi và mang trong mình một ước mơ thôi thúc: được tận mắt chiêm ngưỡng một loài thảo hoa gắn liền với truyền thuyết về sông Hương mang tên thạch xương bồ.
Cụ Vân Bình Tôn Thất Lương là một người thuộc dòng dõi hoàng tộc uyên thâm kinh sử đã viết trong bài Hương giang hành rằng: “Sông Hương phát nguyên từ hai bờ Tả, Hữu Trạch, nguyên từ miền thượng lưu tỉnh Thừa Thiên, quanh co gành bãi ruộng vườn, chảy qua kinh thành, đến cửa Thuận An rồi ra Đông Hải; hai bên bờ Tả, Hữu Trạch có giống thạch xương bồ, là một vị thuốc trường sanh, có mùi thơm, mọc hai bên bờ khe, nước khe lần hóa ra thơm. Hương giang (sông thơm) bởi đó mà có danh vậy”. “Cỏ thơm có giống thạch xương bồ/ Sinh ở hai miền Tả, Hữu Trạch/ Hơi thơm dầm nước, nước trong veo/ Hợp thành sông thơm chảy róc rách”.
Đến Bình Điền sau 20 phút chạy xe máy tính từ điểm xuất phát là Đàn Nam Giao, chúng tôi ghé vào một quán nước ven đường nghỉ chân. Anh Tiến, một người đàn ông có dáng người thấp đậm, nước da ngăm đen nhưng đôi mắt rất sáng đang ngồi bàn bên kia bắt chuyện thân mật. Thì ra anh là người bản địa, cha mẹ anh lên đây theo dạng đi “kinh tế mới”. Anh làm nhiều nghề để sinh sống: thợ nề, trồng rừng, nuôi heo rừng và chăm sóc vườn tược. Thỉnh thoảng anh rủ vài người xuống suối bắt cá. Ở đây nhiều loài cá suối ngon và đã trở thành những món ăn đặc sản đặc trưng của người dân như cá chình, cá lấu, cá xanh… Khi cuộc trò chuyện đã trở nên thân mật hơn, biết ý định đi tìm cây cỏ thạch xương bồ, anh không ngần ngại bày tỏ muốn đi cùng để giúp chúng tôi vì thông thuộc địa hình đồi núi. Vậy là chúng tôi tất cả ba người, đi xe máy thêm một đoạn đường chừng hai cây số xong gửi nhờ xe ở một nhà dân, chúng tôi men theo những mỏm đá to nhỏ nhấp nhô, tìm đường xuống sát mé sông.
Khúc sông nơi đây bề ngang không quá rộng, đứng ở bên này có thể gọi qua bờ bên kia âm vang nghe rõ. Cố nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng nói khúc sông phía thượng nguồn này là “bản trường ca của rừng già”. Mà đúng thế thật, giữa đại ngàn xanh biếc, dòng sông phía thượng nguồn vừa mang hình dáng mềm mại của một cô sơn nữ tuổi đôi mươi lại vừa có dáng vẻ vạm vỡ, hùng mạnh của một chàng “Đam San” lực lưỡng, khí chất. Vẫn đang là mùa nắng nên nước sông còn vẹn nguyên một màu xanh trong, có thể nhìn thấy những viên đá cuội bên dưới. Chúng tôi xắn ống quần, men dọc theo chân anh Tiến đang thoăn thoắt phía trước, mắt không ngừng tìm kiếm. Bỗng anh Tiến khom người xuống, chỉ tay vào một khóm cỏ xanh tốt, lá kim rẽ xòe ra hình cánh quạt, cao chừng gang tay, gốc của nó tuy nhỏ nhưng rất chắc chắn, tựa như một sợi dây thừng được bện chặt, bám vào vách đá kiêu hãnh: “Đây rồi này!”. Chúng tôi không ai bảo ai, dường như trong giây phút ấy đều lặng người. Một niềm xúc động xen lẫn hạnh phúc trào dâng. Thạch xương bồ, loài cây mang theo mùi hương từ đá, từ dòng nước trong lành của thượng nguồn sông Hương đất mẹ, giờ đây đang thực sự hiện hữu trước mắt chúng tôi: thanh cao, thơm thoảng. Sau phút lặng im, ngưng đọng, người bạn đi cùng nhẹ nhàng đến bên, ân cần ngắt một ngọn lá nhỏ như sợ cây đau, khẽ khàng nâng lên mũi, hít nhẹ. Tôi cũng lặng lẽ đến bên, cùng thưởng thức mùi hương cao khiết ấy, thoảng thơm mùi quế, cảm giác thật khoan khoái, nhẹ nhàng. Trong giây phút này niềm xúc cảm dâng lên từ khứu giác, xúc giác chen lẫn vào niềm tự hào về đất trời xứ Huế linh khí hội tụ, hòa vào cỏ cây, để rồi vỡ òa trong tình yêu mãnh liệt mảnh đất nơi mình đang sinh sống. Tôi thấy ánh mắt người bạn rưng rưng qua làn sương mờ ảo. Thật ra tôi cũng không thể phân biệt được đó là màn sương từ vách đá, từ non ngàn hay phát xuất từ đôi mắt của tôi trước loài cỏ thiêng mang trong mình truyền thuyết đẹp như giấc mộng về một dòng sông trước khi chảy ra, hòa hương thơm của mình vào Đông Hải lớn rộng.
Chúng tôi trở về, sau khi xin đất mẹ thượng ngàn để được phép mang theo những khóm thạch xương bồ xuôi về thành phố. Những chậu thạch xương bồ đã trở thành một trong những kỷ vật, kỷ niệm quý giá nhất trong chuyến điền dã của chúng tôi, chở nặng phù sa đất mẹ thượng nguồn, tình yêu quê hương xứ sở và thiên nhiên cỏ cây miền Hương Ngự.
Thú chơi thạch xương bồ có từ thời vua Minh Mạng. Ngày xưa thường đa phần những hoàng tộc, người quyền quý, văn nhân túc sĩ yêu chuộng loài thảo linh này. Cây được trang trí trong các phủ đệ, đặt trong hoa viên, trên bàn trà, cửa sổ, thư phòng nhờ đặc điểm của cây thanh lọc không khí cho ngôi nhà, tốt cho phong thủy, tạo không gian hài hòa, thêm sinh khí, vượng an nên nhiều gia đình rất yêu thích để chưng. Không chỉ là một loài thảo hoa để trang trí, thạch xương bồ còn được coi như một vị thuốc trường sanh, loài thảo dược dùng để chữa các bệnh như phong thấp, trục đàm, tẩy uế. Theo đông y, lá cây này đem phơi khô, gặp người bị ngất xỉu đưa cho họ hít vào sẽ tỉnh táo lại.
Sau một thời gian thú chơi thạch xương bồ mai một nhưng đến nay thú chơi tao nhã này đang dần quay trở lại ở một số người theo lối sống hoài niệm. Phải chăng giữa nhịp sống xô bồ đương đại, xu hướng tìm về thiên nhiên, hướng đến những điều thuộc về tĩnh tại thì thạch xương bồ là một loại thảo hoa được nhiều người lựa chọn. Loại cây chỉ cần một ít bùn và đá, nước sạch là có thể xanh mướt, vẻ đẹp bình dị nhưng không kém phần thanh cao, như cốt cách của con người xứ Huế, xứ của những vương triều vàng son và những ngôi cổ tự trầm mặc. Vươn lên từ đá, thể hiện một ý chí kiên định, uy dũng, thạch xương bồ mang trong mình lớp trầm tích văn hóa của vùng đất, mang trong mình một truyền thuyết gắn với tên gọi sông Hương. Không phải ngẫu nhiên mà một người bạn ở xa của tôi đến Huế lúc về chỉ nằng nặc nhờ hỏi làm thế nào để có thể đem về một chậu thạch xương bồ, phải là loài cây được trồng tại xứ Huế chứ không phải từ trong Nam hay ngoài Bắc. Phải chăng bạn muốn một loài cây được phát nguyên từ thượng nguồn, ấp ủ hương thơm từ nơi ban sơ nhất để rồi dâng người vẻ đẹp thuần khiết.
Ngôi chùa cổ Khánh Vân trên làng Lựu Bảo cách trung tâm thành phố chừng 7km là nơi tu tập của sư thầy Thích Chánh Đức. Hàng ngày sau tiếng mõ lời kinh, thầy là một người điềm đạm, cuộc sống tu hành thanh tịnh chốn thiền môn chỉ xoay quanh cỏ cây hoa lá trong vườn chùa. Thầy tìm đến thạch xương bồ như một thú chơi tao nhã, lặng thầm của người tu sĩ. Thầy cho biết, từ một khóm nhỏ mà cụ trưởng lão Tôn Thất Quỵ vốn là người thuộc dòng dõi hoàng phái cho thầy, từ đó thầy nhân giống lên rất nhiều. Những chậu thạch xương bồ mang đủ mọi kiểu dáng, tư thế khác nhau tùy theo kích thước, hình dáng của đá, của chậu cứ thế mà nhân rộng trong khuôn viên nhà chùa. Phật tử lên chùa ngoại trừ những người đã biết về loài cây này, số còn lại luôn trầm trồ, ngạc nhiên và bày tỏ sự bất ngờ vì lần đầu tiên mới được thấy tận mắt. Thầy cho biết để chăm loài cây này không khó lắm, chỉ cần một nhúm bùn và đá cho rễ bám vào, để trong chậu có nước, từ đó cây sẽ phát triển mạnh mẽ. Cây vốn tính ưa thanh khiết sạch sẽ, thỉnh thoảng thay nước thì sẽ có được một chậu thạch xương bồ như ý. Giữa khung cảnh thanh tịnh cõi thiền, thạch xương bồ dung dị hòa vào lối sống tĩnh tại, vô ưu.
Ngoài cách trồng theo kiểu chưng trong đá và nước, thạch xương bồ cũng có thể trồng theo cách để trong những chậu có đất khô ráo. Anh Hoàng Phúc, một người trẻ với niềm đam mê cây cảnh sống ở một vùng ven đô thuộc phường Thủy Xuân là nghệ nhân cây kiểng trẻ mà chúng tôi mong muốn tìm gặp. Muốn sang nhà anh chúng tôi phải đi qua một nghĩa trang của nhiều người thuộc dòng dõi hoàng tộc triều Nguyễn, trong đó có lăng mộ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị và cụ Hường Thiết là những người tinh thông kinh điển, văn hay chữ tốt vẹn toàn và đều có tên trong hai con đường ở xứ Huế. Người đàn ông có dáng người dong dỏng, tác phong tao nhã. Quanh ngôi nhà có nhiều loài hoa quanh năm khoe sắc. Trong vô số kỳ hoa dị thảo được anh trồng thì thạch xương bồ là loại cây nhiều nhất ở đây. Tuy mới chơi thạch xương bồ khoảng chừng năm năm trở lại nhưng số lượng và chất lượng của những chậu thạch xương bồ quả là đáng nể. Hàng trăm chậu thạch xương bồ to nhỏ, đủ mọi hình dáng khác nhau đều xanh tốt, phát triển khỏe mạnh. Đặc biệt những chậu thạch xương bồ này được anh Phúc tận dụng từ những vật dụng đôi khi rất đơn giản như chiếc gạt tàn thuốc, chiếc dĩa sành; khi đặt cây thạch xương bồ vào thì dường như những vật dụng tưởng chừng như bỏ đi lại sang trọng đến kỳ lạ. Điều đó chứng tỏ thạch xương bồ tuy quý hiếm nhưng rất gần gũi với đời sống thường nhật. Cây không quá bám chấp, mà dễ dàng thích nghi với mọi thứ xung quanh. Chúng tôi thưởng trà trên chiếc bàn đá, thạch xương bồ dịu dàng tỏa hương trong ánh ban mai, hương trà, hương trầm hòa quyện, chợt thấy trên đời còn thú vui tao nhã nào hơn thế.
Cùng chơi thạch xương bồ như anh Phúc, anh Lê Văn Niềm làm nghề điện nước tư nhân nhưng thú chơi sang trọng này được anh chú tâm rất nhiều. Quanh ngôi nhà bao bọc bởi nhiều mảng xanh và những hòn non bộ, thạch xương bồ được trồng rất nhiều nơi đây. Anh cho biết thạch xương bồ có rất nhiều loại, nhiều tên gọi khác nhau: hoàng kim cơ, hữu thê xuyên, thiên nga nhung, truyền thống, chánh tông, long nguyệt, quầng thanh, kim phụng hoàng, mê nhi, kim tiền, kim tiền nghệ, cơ chánh tông, hổ tu, thạch xương bồ Huế, dã bồ Huế (rừng thiên nhiên), dã bồ Hà Giang (tức là rừng thiên nhiên)…
Người sành chơi nhìn đặc điểm của dáng cây, màu lá, mùi hương của cây để phân biệt từng chủng loại của thạch xương bồ. Tuy nhiên ưu thế của thạch xương Huế vẫn được nhiều người trong giới yêu chuộng hơn bởi đây không chỉ là loài thảo hương có mùi thơm đặc biệt mà nó còn gắn liền với truyền thuyết về tên gọi sông Hương, đã đi vào tác phẩm văn học nghệ thuật. Điều hạnh phúc nhất của anh Niềm là vợ anh cũng là người tri kỷ với thú chơi thạch xương bồ. Những lúc anh đi làm bận rộn, hiền thê của anh đã chăm sóc những chậu thạch xương bồ. Nhìn cách chị niềm nở pha cà phê mời khách rồi ngồi bên cạnh chồng, cùng ngắm và trò chuyện về những kỳ hoa dị thảo trong nhà, tôi biết họ là đôi vợ chồng thật tâm đầu ý hợp, có lẽ nhờ vậy mà những chậu thạch xương bồ ở đây luôn xanh tốt.
Nếu trước đây thú chơi thạch xương bồ thường chỉ giới hạn trong những không gian phủ đệ thì ngày nay đã đi vào đời sống, hòa nhập cùng dòng chảy văn hóa đương đại, trở thành một thú chơi của nhiều người thích sự tĩnh tại, nhẹ nhàng. Họ tìm đến thạch xương bồ như một tri kỷ để cân bằng cuộc sống, đối với những người thích hoài niệm thì đây lại là một thú vui làm giàu thêm đời sống nội tâm, thiền định, nhu hòa. Thạch xương bồ giờ đây đã được nâng tầm từ một thú chơi kín kẽ, thầm lặng nay bước ra vùng ánh sáng của văn hóa gắn liền với thiên nhiên cỏ cây xứ Huế. Trước đây với một số người vẫn hay nghĩ rằng thạch xương bồ là loài cỏ gắn liền với truyền thuyết, chỉ còn trong văn học nhưng thật ra thú chơi thạch xương bồ có một đời sống mạnh mẽ âm thầm. Những thú chơi khác đòi hỏi người chơi phải đầu tư nhiều như thời gian, tiền bạc thì thú chơi thạch xương bồ có phần bình dị hơn, luôn có một vị trí nhất định trong giới yêu chuộng cây cảnh. Do những đặc điểm nhu hòa của thạch xương bồ mà người chơi thường kết hợp với không gian nhẹ nhàng như đá, thư pháp, sách, trà... Không chỉ những người chơi thạch xương bồ như anh Nguyễn Hoàng Phúc, anh Lê Văn Niềm, anh Lại Viết Long, cụ Tôn Thất Quỵ mà còn có nhiều ngôi chùa ở Huế cũng thưởng thức thú chơi tao nhã này như chùa Quy Thiện, chùa Châu Lâm, chùa Thiên Mụ. Thầy Hải Trang trước đây tu tập tại chùa Thiên Mụ nay về lập chùa Núi tại phía đầu nguồn suối Voi (Phú Lộc) cũng vui cùng loài cỏ này cũng bởi vì tính cao khiết của nó.
Văn hóa chơi loài thảo hoa thạch xương bồ cũng như tính chất của nó, đa số là những người có tính cách trầm tĩnh, khiêm tốn, sâu sắc, bình dị mà thanh tao. Họ không ồn ào, phô trương, cố tạo thành trào lưu, biến thú chơi thuần chất thành một cuộc chạy đua thương mại mà chỉ nhẹ nhàng, tĩnh lặng chia sẻ như giữa những người tri âm tri kỷ với nhau. Thú chơi này đôi khi chỉ cần một vài người bạn cùng thưởng trà, ngắm thạch xương bồ bên lư trầm lan tỏa, ấy vậy mà giữa họ thấu cảm tiếng lòng của nhau. Giờ đây đã có nhiều nhóm, hội chơi thạch xương bồ và các cuộc giao lưu, trao đổi, mua bán qua các nền tảng xã hội khiến đời sống của thạch xương bồ mở rộng hơn, đa diện hơn.
Văn hóa nguyên là những lớp trầm tích sâu thẳm, càng đào sâu càng phát lộ những giá trị quý báu; nếu biết khơi gợi, trân trọng và gìn giữ thì sẽ là những di sản quý giá tiếp truyền cho đời sau. Từ một truyền thuyết đẹp về tên gọi của sông Hương, từ một thú chơi thanh tao của người xưa giờ đây những thế hệ sau đã bắt đầu tiếp nhận, lan tỏa. Cỏ thạch xương bồ gắn liền với tình yêu thiên nhiên - nét đặc trưng của người Huế, văn hóa Huế giờ đây không còn là thú chơi “kín” trong những phủ đệ, trong chốn thiền môn mà đã gần gũi hơn với đời sống hiện tại. Mong rằng loài thảo hoa này sẽ mang danh thơm của mình lan tỏa sâu hơn khi có những cuộc nghiên cứu, những tìm tòi phát hiện và những biện pháp nhân giống, phổ biến hơn nữa.
Để đưa một triết lý tĩnh lặng bước ra giữa nhịp sống rộn ràng của cộng đồng, biến một biểu tượng của sự u tịch thành hơi thở gần gũi của phố thị hôm nay, thiết nghĩ cần có những nhịp cầu vừa uyển chuyển của văn hóa, vừa dung dị của cuộc đời. Những nhịp cầu đưa thạch xương bồ về với nhân gian, đánh thức hồn xưa qua không gian trải nghiệm thiền trà trang nhã, những không gian mở của đời sống hiện đại như các quán trà đạo, tiệm sách cũ, hay góc quán cà phê cũng được quan tâm thực hiện. Ở đó, người ta không chỉ ngắm chậu cây rêu phong mà còn được hướng dẫn cách tự tay chăm một khóm cây, gieo từng hạt sỏi, vun từng lớp rêu, chạm vào đất trời thu nhỏ, đánh thức sự đồng điệu trong tâm hồn mỗi người.
Còn nữa, nên chăng dệt câu chuyện di sản vào nhịp sống trẻ bằng nghệ thuật; biến thạch xương bồ thành “nàng thơ” trong các thước phim ngắn, những khung hình hoài niệm trên mạng xã hội, hay những buổi workshop. Khi thế hệ trẻ hiểu rằng mỗi khóm thạch xương bồ là một bức tranh thủy mặc sống động, một nốt trầm thanh lọc tâm hồn giữa chốn phồn hoa đô hội, thú chơi ấy tự khắc sẽ lan tỏa bằng sức mạnh của cái đẹp. Mặt khác cũng cần “bình dân hóa tinh hoa” cho những mầm xanh xanh khắp mọi nhà. Không cần phải là những chậu cổ đắt tiền hay chậu sứ đời Tống quý hiếm, nghệ nhân hoàn toàn có thể kết hợp thạch xương bồ với những vật liệu gần gũi, mộc mạc của làng nghề thủ công Việt Nam như gốm đất nung mộc, gò đồng thô hay vỏ dừa tự nhiên. Sự mộc mạc ấy hạ bớt rào cản về khoảng cách, mang cỏ tiên vào đặt nhẹ trên bàn làm việc của bất cứ ai, dù là người tri thức, văn nghệ sĩ, sinh viên hay tiểu thương góc chợ.
Gieo mầm tri thức cộng đồng thông qua hình thức câu lạc bộ và hội hoa lan - thạch xương bồ cũng là một trong những điều cần thiết. Từ đó, người chơi thành lập những hội nhóm, nơi người yêu cây có thể trao đổi kinh nghiệm dưỡng thạch xương bồ, chơi lũa, ghép đá. Khi một thú chơi có cộng đồng sẻ chia, có người “nâng khăn sửa túi” cho từng chiếc lá kim, nó sẽ tự bám rễ sâu vào đời sống, trở thành một nét văn hóa sinh hoạt lành mạnh và tao nhã.
Thạch xương bồ từ muôn đời vẫn chỉ mong được gội mình trong sương gió nhân gian. Đưa thạch xương bồ ra phố, chẳng phải là làm vẩn đục sự thanh cao, mà là đem sự thanh cao ấy gieo vào những tâm hồn đang cần một chốn trú ẩn bình yên giữa muôn vàn bão giông thời đại.
Khi tôi đang viết về đề tài này, có một người bạn từ phương xa nhắn, hẹn một ngày về Huế để được lên thượng nguồn sông Hương chiêm ngắm thạch xương bồ. Loài thảo hoa mang trong mình hồn cốt của văn hóa Huế. Nét văn hóa đằm sâu, dung dị của loài thảo hương giản dị nhưng cao khiết, làm thơm tên một con sông huyền thoại.
T.T
(TCSH62SDB/09-2026)