NGÔ CÔNG TẤN
Tôi sinh ra và lớn lên ở xóm Thượng Cây Khế, thôn Nam Phổ Cần, bên dòng Hưng Bình của xứ Truồi. Hơn bốn mươi năm đã trôi qua, quê hương đổi thay rất nhiều, nhưng trong ký ức của tôi vẫn còn nguyên một con người đặc biệt.
Đó là Oai - người cùng thế hệ với tôi, bị khiếm khuyết về giọng nói. Điều khiến Oai được người làng nhớ mãi không phải số phận bất hạnh, mà bởi những cái tên rất riêng nó đã đặt cho người và vật trong xóm. Những tiếng gọi ấy đến nay vẫn còn được nhiều người sử dụng như một phần ngôn ngữ của quê hương.
Nam Phổ Cần là một thôn đã hình thành từ lâu, theo cuốn sách Làng Văn vật Thừa Thiên Huế của tác giả Trần Đại Vinh (Nxb. Thuận Hóa, 2017, tr.165) ghi lại: “Trong quá trình hình thành và phát triển, vào khoảng thế kỷ XVIII, đời chúa Nguyễn, một số cư dân 5 giáp trong đó nhiều nhất là giáp Trung đã về vùng Truồi khai phá ruộng đất tại Nam Phổ Hạ, Nam Phổ Cần. Suốt 200 năm cư dân Nam Phổ ở ba vùng cùng ăn chia ruộng đất chung một địa bộ. Đến năm 1815 đời Gia Long cả ba nơi cùng đồng thuận phân chia ruộng đất để làm riêng địa bộ, biệt điền và biệt đinh thành ba đơn vị: Nam Phổ Xã, Nam Phổ Hạ xã và Nam Phổ Cần thôn”.
Vào cấp hai tôi chuyển nhà về nơi khác, nay trở lại Nam Phổ Cần. Con đường làng đã được đổ bê tông phẳng phiu. Những mái nhà tranh ngày xưa đã nhường chỗ cho những ngôi nhà ngói sáng màu. Bờ tre ven sông Hưng Bình cũng thưa dần sau nhiều mùa bão. Cây đa, bến nước, giếng xưa cũng không còn. Thôn Nam Phổ Cần chỉ còn thưa thớt đôi ba cây dâu tiên vốn là thương hiệu của quê hương. Mít ngọt, vườn thơm giờ người dân cũng ít trồng, chỉ còn lại vườn chè bám trụ với làng xóm.
Quê hương có người nhớ nhờ tiếng chuông chùa, có người nhớ bằng mùi khói bếp hay tiếng học bài của các cô cậu học trò vào các buổi sớm mai. Còn chúng tôi, nỗi nhớ quê là những tiếng gọi cũ. Những tiếng gọi tưởng như rất đỗi bình thường mà chỉ người Nam Phổ Cần mới hiểu hết ý nghĩa của nó.
Vâng, một tiếng gọi có thể làm sống dậy cả một đời người!
Chỉ cần ai đó đứng bên đường gọi tên: “Cu Chồi về rồi à!”, lập tức tôi không còn là người đàn ông đã bước qua nửa cuộc đời, trở thành cậu bé chân đất ngày nào, chạy lon ton trên con đường đất đỏ, đầu trần, tay cầm chiếc ná tre, ríu rít theo đám bạn đi tắm sông, hái ổi, bắt dế. Điều lạ là cái tên “Chồi” ấy không phải cha mẹ đặt cho tôi. Người khai sinh ra nó là một đứa trẻ bị câm sau này lớn lên nói trọ trẹ được đôi ba tiếng - chúng tôi gọi nó là Oai.
Ngày ấy, ở Xóm Thượng Cây Khế thuộc thôn Nam Phổ Cần, hầu như chẳng ai còn nhớ tên khai sinh của nó là gì. Người lớn gọi “thằng câm”, trẻ con cũng gọi “thằng câm”. Gọi như vậy không phải là sự miệt thị mà người quê vốn ít lời hoa mỹ, họ gọi nhau bằng những đặc điểm dễ nhớ nhất, như một cách nhận mặt thân tình. Đứa có nước da ngăm thì thành thằng cu Đen, đứa sứt môi là thằng Sứt, người tóc bạc sớm được gọi ông Bạc. Và nó, vì không nói được, trở thành thằng câm.
Nhà nó ở cuối xóm, nép dưới mấy gốc thanh trà quanh năm rợp bóng. Mái tranh thấp đến nỗi mùa mưa chỉ cần một trận gió lớn là nước đã tạt vào tận góc bếp. Cha yếu ốm. Mẹ quanh năm quần quật với mấy sào ruộng và những buổi hái chè thuê. Cái nghèo bám riết lấy căn nhà. Thế nhưng, chưa bao giờ tôi thấy trên gương mặt người đàn bà ấy một lời than vãn. Bà chỉ lặng lẽ sống, lặng lẽ nuôi con và lặng lẽ hy vọng một ngày nào đó phép màu sẽ đến.
Những lần lũ trẻ trong xóm bi bô tập đọc, nó chỉ ngồi nhìn. Mỗi khi muốn gọi ai, nó phải chạy đến tận nơi, kéo nhẹ vào tay áo, rồi dùng ánh mắt và những cử chỉ vụng về để diễn đạt điều mình muốn nói. Có lúc sốt ruột quá, nó phát ra những âm thanh ngắt quãng, méo mó như tiếng gió lùa qua hàng tre mùa đông. Người lạ nghe chẳng hiểu gì, còn lũ trẻ chúng tôi thì cứ cười nghiêng ngả. Nó cũng cười. Một nụ cười rất hiền. Như thể nó đã quen với việc cả thế giới này không hiểu tiếng nói của mình.
Sau này lớn lên, nghĩ lại, tôi mới thấy mình có lỗi. Hồi ấy, chúng tôi còn quá nhỏ để biết rằng mỗi tiếng cười vô tư của mình có thể làm ai đó chạnh lòng. May mà thằng câm chưa bao giờ để bụng. Nó vẫn chạy theo bọn trẻ, vẫn chia nhau từng trái ổi hái trộm, từng con cá rô bắt được ngoài đồng, vẫn nhảy ùm xuống sông mỗi buổi trưa hè. Nó không nói được, nhưng chẳng bao giờ đứng ngoài cuộc vui. Nếu phải kể điều gì khiến tôi nhớ nhất về thằng câm, thì đó là đôi mắt. Đôi mắt ấy sáng lạ thường, thứ ánh sáng của một người luôn chăm chú quan sát thế giới. Nó nhìn rất kỹ. Nhìn đàn cò đáp xuống cánh đồng sau mùa gặt. Nhìn con trâu cúi đầu kéo cày trên thửa ruộng ngập nước. Nhìn lũ kiến tha mồi thành hàng dài dưới gốc khế. Nhìn đám mây đổi màu mỗi buổi chiều khi mặt trời khuất sau dãy Ấn Lãnh.
Có lẽ vì không thể nói nên nó học cách lắng nghe. Nghe tiếng gà gáy để biết trời sắp sáng. Nghe tiếng nước sông Hưng Bình đổi dòng để đoán mùa mưa đã gần. Nghe tiếng gió rít qua rặng tre để biết cơn bão đang từ phía biển kéo vào. Trong khi chúng tôi mải mê chạy nhảy, nó lại lặng lẽ ghi nhớ từng âm thanh, từng màu sắc, từng nét mặt của mọi người. Bấy giờ chúng tôi không ai nhận ra. Mãi nhiều năm sau mới hiểu rằng, chính những tháng ngày im lặng ấy đã nuôi lớn trong nó một thế giới ngôn ngữ rất riêng.
Mẹ tôi là một trong số ít người luôn nghĩ rằng, nếu nó không nói được thì vẫn phải biết chữ nên mẹ tôi đã dạy cho nó. Những đêm trăng sáng, sau bữa cơm đạm bạc, nó lại ôm quyển vở cũ đến ngồi dưới ngọn đèn dầu nhà tôi. Mẹ kiên nhẫn cầm từng ngón tay gầy guộc của nó, nắn từng nét bút, dạy từng con chữ. Mỗi khi đọc đến một âm khó, nó cố gắng mở miệng thật to, cố uốn môi theo lời mẹ tôi hướng dẫn. Âm thanh phát ra vẫn méo mó, vẫn đứt quãng, khiến cả lũ trẻ chúng tôi nhiều phen ôm bụng cười.
Nó cũng cười theo. Nhưng đôi mắt thì sáng rực. Trong ánh mắt ấy không có mặc cảm, chỉ có một niềm vui hồn nhiên khi vừa học được thêm một con chữ mới. Có lẽ, chính từ những đêm đèn dầu leo lét ấy, một cánh cửa khác đã mở ra với nó. Cánh cửa của thứ ngôn ngữ được sinh ra từ trí tưởng tượng, từ sự quan sát và từ một tâm hồn yêu cuộc sống.
Chúng tôi không ai ngờ rằng, đứa trẻ không thể nói tròn một câu ấy rồi sẽ làm một việc mà cả làng không ai làm được. Đó là đặt tên. Và từ những cái tên hồn nhiên ấy, một phần ký ức của Nam Phổ Cần đã bắt đầu được viết nên.
Nếu không có một buổi chiều năm ấy, tôi cũng không bao giờ nhớ được mình đã có thêm một cái tên khác. Hôm ấy, lũ trẻ chúng tôi đang chơi đánh trận dưới bãi cát ven sông Hưng Bình. Sau cơn mưa đêm, bãi bồi còn thơm mùi phù sa. Những chiếc thuyền câu nằm úp mình bên mép nước, xa xa là đàn cò trắng chao nghiêng trên cánh đồng mới cấy. Thằng câm ngồi trên một mô đất, hai tay ôm đầu gối, nhìn chúng tôi chơi. Nó vốn ít khi tham gia những trò cần phải hò hét. Không phải vì không thích, mà vì mỗi lần muốn gọi bạn hay báo hiệu điều gì, nó lại lúng túng với chính tiếng nói của mình. Thế nên, nó thường ngồi ngoài, cười nhiều hơn nói. Khi thấy tôi chạy ngang qua, nó bỗng đứng bật dậy, chỉ thẳng vào tôi. Đôi mắt sáng lên như vừa nghĩ ra điều gì thú vị. Rồi nó cười, miệng phát ra một tiếng rõ hơn mọi lần: “Chồi...”. Tôi dừng lại. Lũ bạn cũng dừng. Băn khoăn không biết nó nói gì…
Nó vẫn chỉ vào tôi, lặp lại:
- Chồi... Chồi...
Cả đám phá lên cười. Từ hôm ấy, cái tên ấy bám lấy tôi. Mẹ gọi. Mấy o trong xóm gọi. Các bác đi cày ngang qua cũng gọi. Đến phiên chợ Truồi, có người gặp tôi còn hỏi: “Cu Chồi đi mô đó?”. Lạ một điều là chẳng ai thấy cái tên ấy gượng ép. Nó tự nhiên như thể cha mẹ tôi đã đặt từ khi tôi mới lọt lòng.
Nhiều năm sau, khi đã lớn, tôi vẫn thường tự hỏi: Vì sao lại là “Chồi?”. Có phải vì tôi là đứa con duy nhất trong nhà, như một chồi non mọc lên từ gốc cây già? Hay bởi quê tôi là xứ Truồi, mà theo lời các bậc cao niên và một số nhà nghiên cứu văn hóa địa phương, hay bài ký “Truồi lên theo Huế lên” của nhà văn Phạm Nguyên Tường đã viết rằng: “Trong số các lý giải tên Truồi, tôi thích giả thiết Truồi do đọc trại từ chữ “Chồi” mà thành, một từ thuần Việt do chính người Việt đặt tên cho một vùng đất miền Hóa Châu trù phú, cây cối xanh tươi bốn mùa đâm chồi nảy lộc cho đến tận ngày nay.” Vâng. “Truồi” có thể bắt nguồn từ âm cổ của chữ “Chồi” - nơi cây cối quanh năm đâm lộc, nơi đất đai lúc nào cũng như đang sinh sôi? Tôi không biết. Chỉ biết rằng, một đứa trẻ chưa từng đọc ngôn ngữ học, chưa từng xem sách khảo cứu, lại vô tình gọi đúng một tiếng gọi mà đến hôm nay, mỗi lần nghe thấy, lòng tôi vẫn rung lên như chạm vào cội rễ của mình.
Trong trí tưởng tượng của nó, người đàn ông cao gầy, quanh năm gánh tre đi bán, được nó gọi là “Cò”. Một bà cụ lưng còng, bước đi chậm rãi, được nó gọi là “o Cong”. Mẹ tôi - cô giáo của nó tên Chanh nó đặt tên là “o Chăn”, chăn có phải là trông nom nó? Một cậu bé mập mạp, nước da trắng trẻo, thành “cu Ú”. Những cái tên mộc mạc ấy không nhằm trêu chọc ai. Chúng chỉ giống như cách nó ghi nhớ thế giới bằng những điều mắt mình nhìn thấy. Mẹ tôi nhiều lần kể rằng, hễ Oai gọi ai bằng cái tên mới thì chỉ ít hôm sau cả xóm cũng gọi theo.
Khi nghe thế chẳng ai giận nó. Có người còn thích thú vì thấy cái tên mới nghe gần gũi hơn tên thật. Rồi không chỉ người, đến con vật cũng có tên riêng trong ngôn ngữ của nó. Con chó vàng chuyên nằm giữ cổng được gọi là “ông Coi”. Con mèo tam thể thích nằm trên mái bếp được gọi là “Khói”. Đặc biệt nhất vẫn là con trâu kéo cày. Không hiểu từ đâu, mỗi lần nhìn con trâu lội trong ruộng, cái đầu cúi thấp, hai sừng chĩa về phía trước, từng vòng cày xoáy nước sau chân, nó đều cười, chỉ tay và nói: “Cọp... đi... xoáy...”. Người lớn nghe vậy thì cười ngặt nghẽo. Con trâu hiền lành như cục đất mà thành cọp. Nhưng nghĩ kỹ lại, chẳng phải khi lao mình qua thửa ruộng ngập nước, hai chiếc sừng cong, bắp vai cuồn cuộn, con trâu cũng mang một vẻ uy dũng rất riêng đó sao? Một cách gọi vừa ngộ nghĩnh, vừa đầy hình ảnh. Thế rồi “Cọp đi xoáy” theo chân lũ trẻ đi khắp xóm. Ban đầu chỉ là trò đùa, sau thành thói quen. Rồi chẳng biết từ bao giờ, ngay cả những người chưa từng gặp thằng Oai cũng buột miệng gọi theo.
Thằng Oai chỉ gọi theo điều trái tim mách bảo, bằng trực giác hồn nhiên của một đứa trẻ, nhưng chúng lại sống bền bỉ trong ký ức của người Nam Phổ Cần. Sau này, nhiều người trong làng đi học, đi làm, rồi lập nghiệp ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, có người vào tận Tây Nguyên, có người sang nước ngoài; mỗi lần tình cờ gặp nhau, chỉ cần ai đó buột miệng nhắc đến một cái tên mà Oai từng đặt, khoảng cách mấy chục năm bỗng chốc tan biến. Họ nhận ra nhau qua một thứ mật ngữ được viết không bằng giấy mực, mà bằng những tháng năm cùng lớn lên trên mảnh đất Nam Phổ Cần.
Một vùng đất có thể đổi tên. Một con đường có thể được mở rộng. Một cánh đồng có thể nhường chỗ cho những ngôi nhà mới. Thậm chí, theo những đổi thay của thời cuộc, ranh giới hành chính cũng có thể khác đi. Những tên làng, tên xóm quen thuộc của một thời dần lùi vào những trang địa chí, những cuốn gia phả hay trong trí nhớ của lớp người cao tuổi. Nhưng có những tiếng gọi vẫn “đâm chồi”. Mỗi lần trở về Nam Phổ Cần, tôi lại nghe những cái tên năm nào vang lên giữa ngõ xóm. Người này gọi người kia bằng biệt danh cũ. Một đứa trẻ được ông bà kể lại cái tên mà thằng Oai từng đặt cho cha nó thuở nhỏ. Có người tóc đã bạc trắng, gặp nhau vẫn cười xòa bằng tiếng gọi của thời chăn trâu cắt cỏ.
Tôi từng gặp nhiều người con của xứ Truồi ở Huế, ở Đà Nẵng, ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có người xa quê đã mấy chục năm, cuộc sống phố thị khiến giọng nói đã pha đi ít nhiều, dáng dấp cũng khác xưa; thế nhưng chỉ cần trong câu chuyện, ai đó vô tình nhắc đến một tiếng gọi mà thằng Oai từng đặt, cả hai cùng khựng lại, rồi bật cười. Tiếng cười ấy ngoài cái tên ngộ nghĩnh, còn là trong khoảnh khắc ấy cả một miền tuổi thơ bỗng trở về. Có dòng sông Hưng Bình lấp lánh dưới nắng. Có xóm Thượng Cây Khế với những buổi trưa ve kêu ran. Có con đường đất đỏ in dấu chân lũ trẻ sau cơn mưa. Có mùi rơm mới trên sân, mùi khói bếp chiều bảng lảng sau hàng cau, tiếng mẹ gọi con vọng từ đầu ngõ. Chỉ một tiếng gọi thôi, mà cả quê hương như hiện ra nguyên vẹn. Có lẽ vì thế mà người xưa vẫn gửi hồn quê vào ca dao.
Đâu chỉ riêng xứ Truồi, mỗi miền đất đều có những câu hát để người đi xa còn có cái mà nhớ. Với quê tôi cũng vậy. Từ thuở nằm võng nghe bà ru ngủ, những câu ca ấy đã theo tôi lớn lên như tiếng gió, tiếng nước: “Xứ Truồi ngọt mít, thơm, dâu/ Anh đi làm rể, ở lâu không về”. Rồi mỗi khi nhìn mây phủ ngang đỉnh núi, người già trong làng lại nhắc nhau: “Núi Truồi đội mũ, âm phủ đội mưa”. Đó không chỉ là kinh nghiệm đoán thời tiết. Đó còn là thứ tri thức dân gian được chắt lọc qua bao thế hệ sống cùng núi rừng, sông suối. Những câu nói ấy, cũng như những cái tên của thằng Oai, đều sinh ra từ sự gắn bó sâu nặng với quê hương.
Tôi chợt nhận ra một điều giản dị. Một cách xưng hô, một câu ca dao hay một cái tên mà ai đó đã vô tình đặt từ thuở tóc còn để chỏm. Có lẽ, ký ức của một vùng đất cũng được gìn giữ theo cách ấy. Nó đi cùng người dân ra đồng, xuống chợ, lên đò, theo những đứa con xa quê đến mọi miền đất nước. Nó sống trong câu chuyện đầu xuân, trong chén trà cuối năm, trong cuộc gặp bất ngờ giữa những người đồng hương. Và mỗi lần được cất lên, những tiếng gọi ấy lại âm thầm nối hiện tại với quá khứ, nối người đang sống với những người đã khuất.
Tuổi thơ của chúng tôi lớn lên cùng dòng Hưng Bình hiền hòa. Đó là những buổi trưa hè rủ nhau nhảy ùm xuống dòng nước trong veo, tiếng cười vang cả một khúc sông. Là những ngày nước lũ đục ngầu, lũ trẻ háo hức theo người lớn thả lưới, đặt lờ, xúc cá sau mỗi trận mưa nguồn. Là những buổi chiều chân đất rong ruổi trên bờ ruộng, đuổi theo cánh diều no gió, bắt cào cào, châu chấu giữa đồng thơm mùi rạ mới. Hay những đêm trăng sáng cùng chơi trò ú tìm trên đất Phủ thân thương.
Sau bữa cơm tối, cả xóm mang chiếu ra ngồi bên bến nước hoặc dưới gốc Vông đầu xóm. Người lớn uống chén trà xanh, trẻ con quây quần nghe các chị, các bà kể chuyện cổ tích, chuyện ma, chuyện về những người mở đất thuở xa xưa. Ngày ấy, người nông dân đâu có điện thoại thông minh hay những bản tin dự báo thời tiết như bây giờ. Họ ngẩng nhìn trời để đoán mưa nắng, lắng nghe tiếng côn trùng, tiếng ếch nhái, tiếng gió đổi chiều mà chuẩn bị cho vụ mùa. Người Truồi vẫn truyền nhau câu nói: “Núi Truồi đội mũ, âm phủ đội mưa”. Chỉ cần mây trắng phủ ngang lưng núi, người già đã biết cất rơm, gom lúa, gọi con cháu đưa trâu bò về chuồng. Những kinh nghiệm ấy không được ghi trong sách vở, nhưng đã nuôi sống biết bao thế hệ trên mảnh đất này.
Mỗi địa danh ở Truồi cũng mang theo một phần ký ức. Bàu Bạc mỗi chiều lộng gió như chiếc gương khổng lồ soi bóng mây trời. Độn Vàng đỏ rực trong ánh hoàng hôn, tựa một đốm lửa âm thầm cháy giữa đồng quê. Dòng Hưng Bình mùa hạ trong đến mức có thể nhìn thấy từng đàn cá nhỏ lượn mình dưới đáy cát. Có lẽ chính vùng đất ấy đã nuôi lớn tâm hồn của thằng Oai. Nó không học ngôn ngữ trong những trang sách. Ngôn ngữ của nó được học từ tiếng gió thổi qua hàng tre mỗi chiều; từ tiếng nước sông Hưng Bình miệt mài chảy suốt bốn mùa; từ tiếng chim gọi bạn trên cánh đồng sau mùa gặt; từ tiếng mái chèo khua nhẹ trong những đêm trăng; từ tiếng bò gọi bê, tiếng gà gọi con, tiếng mõ trâu lốc cốc trên con đường làng. Mỗi âm thanh của quê hương đều lặng lẽ đi vào tâm hồn nó, để rồi một ngày kia hóa thành những cái tên mộc mạc mà giàu sức sống. Ngôn ngữ của thằng Oai được sinh ra từ đồng ruộng, từ dòng sông, từ những mùa lúa chín và từ tình yêu hồn nhiên dành cho mảnh đất nơi mình lớn lên. Mỗi cái tên mà thằng Oai từng đặt, đều có bóng dáng của xứ Truồi. Tôi vẫn nghĩ, chính những ngày tháng gắn với đồng ruộng, với dòng Hưng Bình và cuộc sống thôn quê đã nuôi dưỡng cách nhìn rất riêng của Oai.
Nhiều năm đã trôi qua. Mỗi lần trở về Nam Phổ Cần, tôi vẫn giữ thói quen đi qua con đường cũ, nơi ngày xưa có những gốc thanh trà và căn nhà nhỏ của thằng Oai. Những đứa trẻ ngày ấy giờ đã trở thành những người cha, người mẹ. Những người già từng ngồi bên bến nước, dưới bóng cây kể chuyện làng, chuyện đất, nhiều người đã đi xa về phía bên kia của cuộc đời. Thời gian cứ lặng lẽ trôi. Con người rồi cũng đổi thay…
Ông Lê Hương, Trưởng làng Nam Phổ Cần, là một trong những người hiểu khá rõ những câu chuyện của làng. Khi nhắc đến Oai, ông không nói nhiều; ông chỉ chậm rãi bảo rằng, những cái tên Oai đặt cho người và vật ngày trước, đến bây giờ nhiều người trong làng vẫn còn gọi. Theo ông Lê Hương, điều đáng nhớ nhất ở Oai không phải chỉ là những cái tên nghe ngộ nghĩnh. Đằng sau những tiếng gọi ấy là một cuộc đời nhiều thiệt thòi.
Rồi 10 năm trước, trên đường đi làm thuê trở về, Oai gặp tai nạn giao thông ở Cầu Máng cạnh nhà. Người dân đưa Oai đến phòng khám bằng xe máy. Do điều kiện cấp cứu khi ấy còn khó khăn, chân bị kéo lê trên mặt đường khá xa. Sau lần ấy, Oai bị liệt nửa người. Từ ngày ấy đến giờ, Oai hầu như chỉ nằm trên chiếc giường nhỏ trong căn nhà cũ. Đứa trẻ ngày nào từng chạy khắp xóm, từng cười dưới vườn chè, từng dùng đôi mắt sáng của mình để gọi tên thế giới, giờ chỉ còn nằm lặng lẽ trong căn nhà nhỏ.
Hôm nay, những đứa trẻ Nam Phổ Cần có thể không biết hết nguồn gốc của những cái tên mà chúng vẫn nghe ông bà gọi mỗi ngày. Chúng có thể không biết rằng, phía sau những tiếng gọi tưởng như bình thường ấy là hình bóng một đứa trẻ không nói được, nhưng lại nhìn cuộc đời bằng một tâm hồn đặc biệt. Có những con người không để lại một dòng chữ nào cho đời, nhưng vẫn được nhớ mãi bằng tiếng gọi bập bẹ mà họ trao cho người khác. Oai là một người như thế.
N.C.T
(TCSH62SDB/09-2026)