Truyện dịch
Trang sổ bị xé
15:12 | 13/05/2016

Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.

Trang sổ bị xé
Minh họa: Nhím

Sau Giải phóng, ông quay lại Paris, là phóng viên chính thức cho một tạp chí, rồi bắt đầu từ năm 1947, ông được phái đi làm phóng viên thường trú tại Thụy Sỹ và Italia. Năm 1950, một suất học bổng của Hội Rockefeller cho phép ông tới Mỹ và Canada, thời kỳ này ông hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay Tôi không bao giờ muốn quên điều ấy và cho xuất bản tại Pháp.
Sau đó ông đã sống thời gian khá lâu tại Hi Lạp, thời gian này ông viết
Những chú ngựa lùn hoang dã và cho xuất bản năm 1970 và đoạt luôn giải Interallié. Rồi ông chuyển đến Irlande sinh sống và trình làng bạn đọc tiểu thuyết Chuyến taxi màu tím, tác phẩm này đoạt Giải thưởng Lớn dành cho Tiểu thuyết của Viện Hàn Lâm Pháp năm 1973, và đã được Yves Boisset chuyển thể thành phim màn ảnh rộng cùng tên với sự tham gia của Charlotte Rampling, Philippe Noiret, Fred Astair. Ông đã đóng góp cho làng văn học Pháp rất nhiều tiểu thuyết, các tập truyện ngắn và cả những kịch bản sân khấu.
Cuộc sống đi đây đó nhiều đã nuôi dưỡng các tác phẩm của ông và khơi gợi trí tưởng tượng phong phú hòa lẫn giữa sự kế thừa nền văn hóa Địa Trung hải và văn hóa truyền thống vùng Celtique. Ông được bầu vào Viện Bất Tử từ năm 1978.
Truyện dưới đây trích trong tập
Un parfum de jasmin (Folio số 1055).
Hiệu Constant giới thiệu và dịch  



MICHEL DÉON

Trang sổ bị xé

Từ ba ngày nay, nàng thật sự dịu dàng và điều ấy không lừa được ai, luôn trả lời những yêu cầu của anh bằng: “vâng ạ, dĩ nhiên rồi”. Có thể nói, nàng đã thề trở thành người đàn bà chịu nghe lời nhất và người bạn đời dễ chịu nhất hành tinh. Pierre đã quyết định tin thái độ vui vẻ ấy của vợ anh là thật, nhưng chỉ sau ba ngày anh bắt đầu cảm thấy những phiền muộn của sự vui vẻ này. Anne với những cử chỉ tinh tế của người Trung Hoa đã khiến anh mất vui. Tuy chuyến đi đã khởi đầu bằng những điều thú vị: Bầu trời tháng năm nhẹ nhõm, thoáng đãng, khách sạn hầu như không có khách, bãi biển vắng tanh, những con đường thưa thớt người qua lại, những ngôi làng phủ đầy Glycines và hoa hồng, những cánh rừng đầy rhododendron. Đây là kỳ nghỉ đầu tiên của họ, vài tháng sau một đám cưới mà họ có đủ những lý do để hài lòng, chàng 40 tuổi, nàng 25, chẳng giàu cũng không nghèo, hạnh phúc với những gì nằm trong khả năng tài chính của họ, không hề ganh tỵ với ai. Khi Pierre dừng xe trên chóp cao con đường ven biển để chiêm ngưỡng một trong những bãi biển tuyệt đẹp của đất nước Bồ Đào Nha đang bị gió quất phần phật, ánh mắt anh thay bằng thả dài vào khung cảnh thì lại dừng trên dáng nhìn nghiêng của Anne: thanh mảnh, trẻ trung luôn đứng thẳng, hàng mi cong tuyệt mỹ trở nên hoe vàng dưới làn gió hanh, vầng trán mà anh luôn thấy đáng yêu dịu dàng thì lúc này hình như mới bướng bỉnh làm sao, rắn như đá vậy.

Cái tên Obidos nguy hiểm ấy không bao giờ được nhắc đến nữa. Trách nhiệm của cái tên này thuộc về một tờ quảng cáo do một hãng du lịch gửi đến tận nhà anh. Trong đó Anne đã nhìn thấy hình ảnh của một thành phố trắng, có thành lũy bao quanh. - Khi nào thì mình tới đó hả? - Nàng hỏi.

- Nơi đó nằm không xa đường mình đi, nhưng anh sợ nếu tụi mình muốn thăm Miền Nam thì sẽ không có thời gian để dừng lại, thậm chí còn không có thời gian để rẽ qua.

Sao nàng lại nài nỉ vậy nhỉ? Tính nàng đâu có thế, cũng như tính Pierre không phải lúc nào cũng từ chối với những lý do ngày càng thiếu tính thiết thực, và cuối cùng nói thẳng ra là hết sức phi lý, và điều này làm nảy sinh trong anh một sự bực bội chưa từng có.

- Nhưng, - Anne nói, - tụi mình có phải là đoàn tàu đang lăn trên đường ray đâu, hơn nữa từ chối điều bất ngờ này không giống tính anh lắm, khiến em không thể hiểu nổi. Anh thì chỗ nào ở Bồ Đào Nha mà anh chẳng biết, còn em thì không.

Tuy nhiên anh vẫn khăng khăng không sao giải thích nổi điều đang khiến anh bực mình với chính anh hơn là thái độ hòa nhã của Anne. Sau cùng nàng đã nhượng bộ một cách hết sức dứt khoát và bất ngờ, đến nỗi mà anh không thể coi đó là một chiến thắng, cùng lắm thì cũng chỉ như vừa trút được một gánh nặng. Và từ ba ngày nay, anh tìm kiếm cái mà anh chắc mẩm là Anne đang nghĩ tới, những hiểu biết tinh thần hạn chế nào nấp sau sự từ bỏ quá đỗi dễ dàng này. Pierre không nghĩ chỉ đơn giản là người vợ trẻ yêu dấu của anh đã quên khuấy chủ đề họ tranh cãi và rằng anh đã gán cho nàng một thủ đoạn tinh vi mà chắc nàng không có khả năng. Họ lại vui sướng thừa hưởng hạnh phúc mà không có một ý gì khác vào buổi tối, khi dừng chân ở thành phố Nazaré. Cửa sổ ban công quay ra bãi biển lớn, rải rác những tấm lưới đánh cá đỏ vàng, những con tàu sặc sỡ được trang trí rất đẹp. Màn đêm buông xuống, họ đứng bên nhau cùng ngắm đại dương mênh mông cứ không ngừng tung ra từng làn sóng cao cuồn cuộn đổ vào bãi biển. Trong bóng đêm, từng chùm bọt sáng ánh lân tinh hiển hiện đến tận một vùng xa lắc bàng bạc, vẽ lên những nét cong hoàn mỹ không gì có thể sánh nổi của vùng duyên hải. Thật là đẹp, đẹp mê mải. Điều đó khiến tâm hồn họ ngập tràn niềm tin. Ôm chặt Anne trong vòng tay mình, Pierre nghĩ sẽ nói chuyện ấy với nàng, nhưng sợ sẽ làm khuấy động khoảng khắc diệu kỳ này, nên anh kìm lại, và anh thậm chí còn bày tỏ niềm thích thú sẵn sàng thổ lộ niềm tâm sự mà nó bỗng dưng ào đến mấp máy trên môi anh. Anh im lặng với hy vọng rằng tất cả đã bị vùi sâu vào quên lãng từ lâu. Hôm sau, anh thong dong chạy xe trên những con đường được cắt tỉa đẹp mắt, hệt như các lối đi trong trang viên. Có nhiều tu viện để thăm thú nằm sâu trong đất liền của xứ sở này, nhưng vẻ đẹp mê hồn của bờ biển thu hút khiến họ sẵn sàng từ bỏ khu Batalha và Alcobaca để dán mắt mình vào đại dương, vào những nghềnh đá, những hòn đảo Berlingue và sau cùng là bán đảo Peniche, nơi có những ngôi nhà với ban công trang trí hai màu đỏ và trắng, hệt như một thành phố thời thuộc địa. Họ lại qua một đêm cực kỳ mỹ mãn nữa, nhưng phải dậy sớm do những người đi biển đánh cá lưới rê. Pierre tìm được trên bản đồ con đường mà anh còn nhớ. Rất khúc khuỷu nhưng xuyên qua những khu rừng tuyệt đẹp và con đường đó ít nhiều chạy sát bờ biển cho tới tận Lisbonne. Ngã ba gần Peniche tránh được thành phố Obidos.

Họ rời khỏi bán đảo trong ánh nắng đủ làm tan lớp sương mù. Con đường lại đưa họ qua một tỉnh lỵ khác, tỉnh Estramadura, khu trồng rau quả mọc dựng tua tủa những cối xay gió, cánh quạt quay tít mù. Rời khỏi Peniche một vài cây số, họ tới ngã ba. Hai tấm biển chỉ dẫn: phía này đi Lisbonne, còn phía kia đi Obidos. Thế là cái tên Obidos lại một lần nữa bật dậy trong họ, và trong giây lát Pierre đã biểu thị niềm tuyệt vọng nhói đau, trong khi Anne câm nín. Chỉ có một vài giây để quyết định và chính nàng đã lên tiếng trước.

- Sao anh không rẽ phải để đi Lisbonne? Theo đường này thì chúng ta sẽ đến Obidos còn gì.

- Anh nghĩ rồi. Tụi mình còn đủ thời giờ để ngắm vùng ngoại ô thành phố. Sẽ là rất ngốc nếu như ta bỏ qua dịp này, bởi vì em ấy mà, em vẫn chưa biết thành phố đó, còn anh thì đã biết rồi.

- Em cứ ngỡ là…

- Không, anh đã nhầm.

Chẳng mấy chốc thành phố Obidos hiện ra sau một quả đồi, quang cảnh đẹp tao nhã mê ly và hùng cường bao quanh thành phố là một bức tường thành kiên cố màu hoe vàng, thỉnh thoảng điểm những lỗ châu mai. Pierre thực ra chẳng suy nghĩ gì cả. Tất cả chỉ vừa mới được quyết định trong giây lát đây thôi như thể có một ý chí siêu hình nào đó còn mạnh hơn ý chí của anh đã ngăn anh rẽ phải. Và lúc này, ngôi làng đã ở đây, ngay trước mặt anh và anh thấy tư tưởng vô cùng thoải mái.

- Hẳn sẽ thật đáng tiếc, - Anne nói. - Từ lúc vượt qua biên giới, chưa có nơi nào đẹp như nơi đây.

- Con đường chính sẽ chạy vòng quanh thành phố. Mình sẽ chui qua những bức tường thành kia và sau đó là tới Caldas da Reinha. Từ đó đi thẳng một mạch sẽ tới Lisbonne, còn gần hơn nhiều.

- Do anh quyết định, anh yêu ạ!

Ở khúc đường vòng cuối cùng, từ trên cao, họ khám phá toàn thể thành phố nhỏ với những ngôi nhà lộn xộn không theo một trật tự nào, 13 ngôi nhà thờ chói chang sáng lòa dưới ánh mặt trời. Anh dừng xe, tắt máy. Gió thổi mạnh khiến những cánh cối xay gió xung quanh họ quay tít, gió mơn man cánh đồng cỏ mênh mông, thoai thoải dốc, ở đó có đàn cừu đang gặm cỏ giữa những cây cúc gai xanh lơ, những bông hoa dại màu vàng và từng mảng cỏ ba lá rất lớn màu tím xẫm.

Anne lên tiếng,

- Em nghĩ quả là thần kỳ thật, một cái gì đó trường tồn qua nhiều thế kỷ được tặng lại cho chúng ta mà không mang một vết xước, không một vết hoen ố. Cứ như thể thời gian không trôi vậy!

Anh ấn vào nút khởi động, nhưng động cơ vẫn im lìm, im lìm một cách khủng khiếp, chỉ vì mỗi một cái nút nhỏ xíu ngốc nghếch. Pierre thử đi thử lại nhiều lần, anh xuống xe và ca-pô ngó vào một cách vô ích để rồi nhìn thấy đống máy móc mà anh vốn chẳng hiểu biết gì, anh thì chỉ biết mở máy xe bằng nút khởi động mà thôi.

- Một sự hỏng hóc ngu ngốc, - anh nói. - Anh nghĩ là vẫn còn nhớ có một thợ bơm xe ở ngay lối vào thành phố. Có thể anh ta sẽ tìm ra cái gì chăng.

Anh nhấc phanh và ô tô từ từ trườn xuống, hơi khựng lại trong những khúc ngoặt hình kim châm cài đầu của phụ nữ. Obidos mà hồi này họ nhìn thấy toàn bộ thì lúc này đã ở ngang tầm với họ, và chẳng bao lâu, nó lại cao hơn khi họ dừng lại trước mặt người thợ bơm xe và xưởng sửa chữa của anh ta. Đó là một người đàn ông nhỏ thó, người phủ đầy dầu mỡ chạy bổ ngay đến lấy bơm. Phải vất vả mãi Pierre mới giải thích cho anh ta hiểu vấn đề. Người đàn ông nhỏ thó ấy thò cả người vào thùng máy. Một khoảng thời gian chờ đợi lo lắng trôi qua trước khi anh ta hồ hởi lôi ra bộ phận máy khởi động mà tất cả các phụ tùng thực ra thì đã quá tã. Bằng tất cả những động tác và từ tượng thanh, kèm theo vài từ tiếng Anh hay Tây Ban Nha, anh ta giải thích cho hai người hiểu rằng phải gọi điện thoại tới Caldas da Reihna ngay lập tức thì may ra buổi chiều nay họ sẽ có một cái mới để thay thế.

- Vậy đấy! - Anne nói, - tại chúng ta đã không muốn dừng lại thì bây giờ đấy, buộc phải dừng lại thôi.

Hai tiếng “chúng ta” này thật dễ chịu. Pierre đã sợ đó là một lời mai mỉa, nhưng tất cả sự ma mãnh hình như không xuất hiện trên gương mặt của Anne. Nàng say sưa với sự vô tình ấy mà nó phục vụ ý muốn của nàng, không hề có thái quá mà còn gần như hơi thẹn thùng. Vào giây phút ấy, Pierre yêu nàng vô cùng và tự nhủ rằng mình đã đánh giá nàng chưa đúng, rằng đàng sau sự dịu dàng kia có thể còn giấu trái tim rất thông minh của nàng. Bỏ mặc xe ô tô sau khi đã đẩy chúng vào bóng râm, họ leo lên tận cửa ngầm dẫn vào thành phố được trang trí bằng gạch men hoa màu xanh lơ rất đẹp. Không khí mát mẻ của thành phố điểm thấp thoáng những bóng râm chào đón và bao bọc họ. Sự yên tĩnh bao trùm các khu phố nhỏ vắng tanh, lan đến phía sau những bức tường trắng và những cánh cửa sổ sơn màu. Một sự bình an lan tỏa khắp tâm hồn Anne và thậm chí cả Pierre cũng vậy, tim đập rộn ràng, anh đã băng qua ngưỡng cửa. Anh chờ đợi những kỷ niệm nhảy sổ vào họng anh rồi sẽ lại gây đau đớn cho anh giống như hơn 10 năm về trước, nhưng không phải thế, anh bỗng cảm thấy một sự nhẹ nhõm khó tả. Những cây cam chắc phải chín lắm rồi trong các khu vườn đóng kín của Obidos bởi mùi hương của chúng lan tỏa nồng đượm. Họ bước đi trong các khu phố tới tận quảng trường có khu nhà thờ chính của thành phố, cũng trắng toát những điểm hàng loạt cột trụ xây bằng đá granit màu xám, đi kèm một hàng cột phụ cũng được đẽo từ đá granit. Cánh cửa mở rộng vào phía trong. Do họ tiến lại gần, hai cánh cửa tự động khép mà không hề gây tiếng động, bị đóng vào bởi những bàn tay vô hình trong khi chuông nhà thờ róng rả vang lên, tiếng chuông trở nên trầm đục do độ ẩm của không khí. Thế rồi lại chìm vào yên lặng, và họ bước đi trong một thành phố có vẻ như hoang vắng, mơ màng dưới ánh mặt trời. Một cầu thang dẫn lên các tường thành. Pierre nhận ra nó, anh đã đi trên cầu thang ấy vào một buổi tối, ngay sau khi hoàng hồn buông xuống, khi vùng nông thôn bao quanh đây đang sống những thời khắc cuối cùng trong ngày của chúng. Từ trên cao, anh hồi nãy không nhận ra những gì mình nhìn thấy, có rất nhiều cối xay gió đang quay tít trên đỉnh đồi, bạt ngàn các loài cây hoa thuốc phiện và cỏ ba lá mọc tràn lan trên cánh đồng, những bóng người đi lại dưới các vành mũ rơm rộng to xụ. Xa hơn một tý là khu đầm có cây mọc quanh bờ. Xung quanh họ, tất cả đều sống động và rì rào. Anh phát ra một tiếng thở mạnh, đó là một tiếng thở phào nhẹ nhõm, nhưng Anne có lẽ đã hiểu khác đi, bởi nàng xiết chặt cánh tay anh, và âu yếm tựa hẳn vào người anh.

- Xa xa kia là gì vậy anh? - nàng hỏi.

- Đó là khu Pousada, một tòa lâu đài cổ ở Obidos mà bây giờ người ta đã cải tạo biến nó thành khách sạn nhà hàng.

- Anh đến đó rồi chớ?

- Rồi, - anh đáp lại.

Vào thời khắc đó, anh tự nhủ mọi thứ vẫn chưa hề kết thúc, rằng anh vẫn tiếp tục bị dằn vặt mặc dù 10 năm đã trôi qua, không hẳn là do hoài niệm mà do chính anh vào thời điểm đó đã quá thô lỗ và cục cằn. Tất cả những gì xảy ra với người đàn bà mà giờ đây đã bặt vô âm tín ấy, đã xa lắc xa lơ, và mãi mãi bước ra khỏi đời anh, chẳng lấy gì làm vinh hạnh cho anh cả. Từ thành lũy cao, họ thoáng nhìn thấy một phần sân và chiếc cầu thang quý phái bằng đá cẩm thạch, trên chính đầu cầu thang ấy, họ đã chia tay nhau trong sự lăng mạ, đầy thù hận và nuối tiếc trong sự kiêu ngạo của mỗi người.

- Mình tới đó ăn tối nhé, - Pierre rủ.

Họ đi dọc theo những bức tường thành kiên cố, đầy tiếng ve kêu inh ỏi và đi xuống gần Pousada. Khu sân vắng hoe, ánh lên màu trắng tinh của đá lát nền thỉnh thoảng điểm vài tượng đầu người bằng đá granit sáng. Một người đàn ông trong bộ đồng phục màu xám bước ra và tiến về phía họ. Pierre nhận ra ông ngay, cũng như anh đã nhận ra chị làm phòng và bà giám đốc của Pousada, một người đàn bà đứng tuổi có mái tóc màu xám mà theo lời đồn thì thời còn trẻ, bà đã từng là một ngôi sao ca nhạc nổi tiếng ở Lisbonne. Tất cả những khuôn mặt ấy tụ tập quanh họ và Pierre đã ngỡ bị bủa vây, nhưng đó chỉ là một ảo thị. Chẳng ai còn nhớ gì, hay dù gì thì chẳng ai còn có vẻ nhớ ra anh. Anh có cảm giác như mình bị đâm một nhát vào tim, vừa được nhẹ người, nhưng sau đó lại lo lắng: sự lãng quên này hình như phủ nhận hoàn toàn chuyện anh đã có một cuộc đời khác trong quá khứ mới đây, một cuộc đời không phải cùng với Anne. Họ thăm quan Pousada, những đồ dùng trong nhà, những bông hoa được kín đáo cắm trong các bình hoa, những tấm thảm, những tấm gỗ treo tường minh chứng cho một thú chơi tao nhã. Họ được phục vụ trong phòng ăn bên cạnh những ô cửa sổ được sửa sang từ những lỗ châu mai xưa kia. Khách tối nay chỉ có hai người bọn họ, và một sự phục vụ vô hình diễn ra xung quanh hai người. Anne thao thao bất tuyệt đủ chuyện, còn Pierre lơ đãng nghe nàng nói, trong lúc tìm cách nối lại ngày giờ hôm nay với quá khứ. Nhưng ngoài khung cảnh cũ ra, tất cả đã hoàn toàn đổi khác. Anh còn nhớ, phòng ăn ngày ấy quá đỗi ồn ào, nhiều gia đình, trẻ nhỏ, rồi cuộc hội thoại bằng những câu ngắn ngủn và chán ngắt với người đàn bà ngồi trước mặt anh khi ấy, những câu chữ thông báo đoạn kết cho một mối quan hệ đầy bão giông, và rốt cục chỉ là một sự thất bại. Anne đặt bàn tay nàng lên tay anh, anh mỉm cười với nàng. Nàng đã đoán ra rồi chăng? Trong anh bỗng trào lên một niềm biết ơn vô hạn dành cho nàng, người đã cư xử với anh hết sức tinh tế.

Cuối bữa, người gác cổng đến báo cho Pierre biết rằng bên ngoài có người muốn gặp anh.

- Nhưng chẳng có ai biết là tôi đang ở đây cả! Ai hỏi tôi nhỉ?

- Một người thợ máy ạ.

Quả vậy, bên ngoài người thợ bơm xe đang mỉm cười ngượng ngịu. Anh ta đã tìm họ khắp nơi. Chiếc máy khởi động đã sửa xong. Anh ta cứ xin lỗi liên hồi. Thực ra chỉ là một sợi dây điện bị đứt rời. Lẽ ra anh ta phải nhìn thấy ngay lập tức. Pierre cám ơn rồi nói họ sẽ quay về ngay. Khi quay vào trong Pousada, anh nhận ra trên mặt bàn đặt trong tiền sảnh một cuốn sổ bọc nhung, gáy sổ ép đồng, cuốn sổ vàng. Anh tiến tới mở ra, tìm thấy những năm đứng dưới các chữ ký: 56, 55, 54, nhưng đến con số 54 thì anh ra công tìm kiếm mà không thấy hai cái tên lồng vào nhau. Bực mình, anh lật sổ liên tục hết trang này đến trang khác đến tận lúc anh nhận thấy rằng một trang sổ đã bị xé một cách khá vụng về. Thế là tất cả đã bị xóa nhòa hết. Sẽ mãi mãi chẳng còn lại gì của vài ngày muộn phiền ấy. Anh đã có thể thôi nghĩ về nó. Anh khép mạnh cuốn sổ và quay trở lại phòng ăn.

- Xe sửa xong rồi đấy.

- Đã xong rồi kia à! Nhưng sao anh lại có vẻ bực bội thế.

- Đâu có, đâu có. Anh rất hài lòng mà. Mình đã quyết định ngủ ở Lisbonne, vậy thì chúng ta đi thôi.

Họ ra khỏi nhà hàng, kéo theo những lời chúc nồng nhiệt. Khu sân trắng xóa làm lóa mắt họ và họ chạy thẳng ra tận một con đường xuyên qua làng trong bóng râm và sự yên lặng. Cũng chẳng hơn gì lúc đến, họ không gặp một linh hồn sống nào, tuy nhiên chẳng có gì giống một thành phố hoang cả, như thể có một từ mật khẩu nào đó đã khu biệt họ, tách họ ra khỏi tầm nhìn để họ đi dạo đơn lẻ, tay trong tay, cùng chống lại sự tê liệt của một giấc mơ. Cuộc sống tái xuất hiện sau hầm ngầm. Ánh sáng chói lòa quất mạnh xuống mặt đường trải nhựa khiến con đường như run rẩy. Đám nông dân ngồi vắt vẻo trên lưng những con lừa thấp và không ngừng thúc chân vào sườn chúng, băng qua trước mặt họ. Một chiếc xe ca dừng lại để thả xuống những người nông dân vận toàn đồ đen. Xuống dưới chút nữa, người thợ sửa xe đang mỉm cười trong lúc tay vẫn liên tục lau tấm kính chắn gió ô tô của họ. Họ cảm ơn anh ta và Pierre ngồi vào sau vô lăng, khởi động xe. Máy nổ quay đều đều nhẹ nhàng. Nụ cười của anh thợ sửa xe thật sảng khoái khiến miệng anh ta kéo lên tới tận gần vành tai. Anh ta đưa ngón cái lên một cách đắc thắng.

- Ô, đợi một lát, Pierre, - Anne nói. - Em thấy anh ta có bán kẹo bạc hà. Cho em xin năm escudos để em mua ngậm chơi đi!

Anh đưa cho nàng một đồng, và nàng ra khỏi xe, chạy về phía người thợ rồi giải thích cho anh ta bằng những động tác khua khoắng. Pierre vuốt ve bộ khởi động, vô lăng, nhìn xuống bàn chân mình, đang sẵn sàng nhấn lên các bàn đạp. Gần chân phải, anh phát hiện có một cục giấy vo tròn, anh đẩy ra, nhưng cục giấy lại tự mở dần ra và anh cúi xuống nhặt lên. Đúng là điều anh phán đoán: trang giấy đã bị xé trong cuốn sổ vàng của nhà hàng. Nàng có thể làm điều này vào lúc nào nhỉ? Đàn bà có một năng khiếu trời phú để biến thành tàng hình vào một vài thời điểm họ muốn, để biến đi rồi lại hiện ra trong lúc bắt thời gian dừng lại. Anh nhanh chóng ngồi nhỏm dậy. Anne đã quay lại, trong miệng ngậm viên kẹo khiến má bên trái phồng tướng lên.

- Xong rồi, ta đi thôi!

Nàng huơ tay chào người thợ sửa xe, và xe ô tô bắt đầu từ từ trườn xuống con dốc. Anne cất hộp kẹo vào hộp chứa găng, sửa lại chiếc váy ngắn, đặt sắc cầm tay cạnh cửa xe, rồi cúi xuống nhặt cục giấy vo tròn và bằng một động tác xấc xược, nàng quẳng nó ra ngoài cửa sổ.

- Thế là xong, - nàng lại lên tiếng, hết sức thỏa mãn. - Thực sự, em chẳng hối tiếc gì cả. Em thấy nếu như mình không tạt qua Obidos, thì em sẽ hối tiếc cả đời mất. Và anh cũng vậy chứ, anh yêu, có đúng thế không? Như thể chúng ta đã hất đi một khối nặng vẫn đè lên ngực chúng ta.

Anh không nói gì. Anh đang nghĩ đến cục giấy vo tròn lúc này đã mất hút trong vệ rãnh ven đường, anh nghĩ đến phép trừ tà vừa qua của nàng.

(SHSDB20/04-2016)





 

Các bài mới
Sách Cát (05/10/2018)
Kẻ dối trá (14/05/2018)
Không có Amêrica (09/06/2017)
Boussole (La bàn) (03/08/2016)
Các bài đã đăng
Cơn giông (24/02/2016)
Tiểu đội D (24/08/2015)
Bóng hình xưa (21/04/2015)
Đừng khóc (13/04/2015)
Pháo thủ (05/02/2015)
Đàn bà đêm (30/12/2014)