Truyện dịch
Bên kia bờ giậu
08:15 | 03/09/2026

Edward Morgan Forster (1879 - 1970) là nhà văn Anh. Ông nổi tiếng với nhiều tiểu thuyết, trong đó Nông trang Howards-End Maurice đã được dịch ra tiếng Việt. Ông còn là tác giả của nhiều truyện ngắn, bút ký, phê bình diễn văn. E.M. Forster được xem là nhà văn thành công nhất của Anh những thập kỷ đầu thế kỷ XX.
Truyện ngắn dưới đây được dịch từ bản Anh ngữ, in trong cuốn 50 Great Short Stories (1955, Nxb. Batam Books) do giáo sư văn chương Milton Crane tuyển chọn theo hai tiêu chí: có chất lượng và chưa được in quá nhiều.
                         Thư Uyển dịch và giới thiệu

Bên kia bờ giậu
Minh họa: Nguyễn Hiền Lê

E.M.FORSTER


Bên kia bờ giậu


Máy đếm bước chân của tôi dừng ở con số 25. Dù dừng bước là một chuyện tày trời, tôi quá mệt, phải nghỉ chân ở một cột mốc bên đường. Người ta qua mặt tôi, mỗi lần lướt qua lại chế giễu, nhưng tôi chẳng còn hơi sức đâu mà bực dọc. Ngay cả lúc cô Eliza Dimbleby, một bà giáo đáng kính, vượt qua và động viên, tôi chỉ cười và giở mũ.

Thoạt tiên, cứ ngỡ tôi sẽ chung số phận với cậu em mình, người tôi đã bỏ lại ở góc đường một hai năm trước. Em tôi quá phí phạm hơi thở để ca hát và sức lực để giúp đỡ thiên hạ. Tôi thì bước đi khôn ngoan hơn, và giờ, tôi độc hành trên con đường đã hành hạ mình từ lúc bắt đầu có ký ức. Con đường đầy bụi dưới chân, hai bên đường có bờ giậu màu nâu nứt nẻ.

Tôi cũng đã làm rớt vài thứ khác. Con đường này đầy những món đồ người ta bỏ lại, bụi trắng phủ lên, và chúng nhìn chẳng khác gì đá cuội. Cơ bắp tôi rã rời, không vác nổi đồ đạc nữa. Tôi trượt khỏi cột mốc xuống mặt đường, nằm kiệt sức, mặt hướng về phía bờ giậu khổng lồ khô cằn, cầu cho mình được bỏ cuộc.

Một làn gió làm tôi tỉnh lại. Có vẻ thổi từ bờ giậu. Khi tôi mở mắt, một tia sáng lóe lên qua đám cành lá khô. Bờ giậu có thể không dày lắm. Trong tình trạng yếu ớt và bệnh tật, lòng tôi bùng lên ý định muốn vượt qua để xem bên kia có gì. Không có ai ở đó, chứ không tôi cũng chẳng dám liều. Vì đám người trên đường chúng tôi không bao giờ tin có cái gì gọi là phía bên kia.

Sa vào cám dỗ, tôi tự nhủ sẽ trở ra sau vài phút thôi. Gai nhọn cào trầy mặt, tôi dùng tay che như một tấm khiên, chỉ dựa vào đôi chân để tiến bước. Nửa đường, có lúc tôi đã muốn quay lại vì khi xuyên rào, đồ đạc trên người bị kéo rớt hết và quần áo rách bươm. Nhưng tôi đã bị nêm chặt đến mức không quay ngược lại được, chỉ còn cách nhắm mắt mà luồn lách, lòng canh cánh lo nếu sức cùng lực kiệt, chắc chắn sẽ bỏ mạng trong bụi rậm này.

Đột nhiên, nước lạnh ngập đầu tôi, cảm tưởng như đang chìm nghỉm. Tôi đã rơi từ bờ giậu xuống đáy một hồ nước sâu. Rốt cuộc tôi cũng trồi lên, la hét cầu cứu và nghe ai đó từ bờ bên kia cười và nói: “Lại một người nữa!” Sau đó tôi được vớt lên và cho nằm sặc sụa trên đất khô.

Đã thoát khỏi nước, nhưng tôi vẫn choáng váng vì chưa bao giờ ở trong một khoảng không rộng, cũng chưa bao giờ thấy cỏ và nắng như vậy. Bầu trời không còn là một dải hẹp, mà dưới đó, mặt đất dần vươn lên thành những ngọn đồi trọc và quang đãng, những cây sồi mọc ở phần eo đồi, đồng cỏ và hồ nước trong trẻo nằm dưới chân. Nhưng những ngọn đồi không cao, cảnh sắc có hơi hướng bàn tay con người, đến nỗi có thể gọi đây là một công viên hoặc một khu vườn, nếu hai chữ ấy không hàm ý tầm thường và giới hạn.

Vừa khi thở được đều, tôi quay sang kẻ đã cứu mình, hỏi: “Chỗ này dẫn tới đâu?”

“Không tới đâu cả, cảm ơn Chúa!”, lão nói, rồi cười. Người này cỡ năm sáu mươi tuổi - độ tuổi mà trên đường người ta không còn tin tưởng - nhưng phong thái vô ưu, và giọng nói là giọng của một cậu trai mười tám.

“Phải dẫn đến đâu đó chứ!”, tôi hét, bất ngờ về câu trả lời, tôi quên luôn cảm tạ ơn cứu mạng.

“Hắn muốn biết chỗ này dẫn đến đâu kìa!”, ông nói vọng lên ai đó trên đồi, họ bật cười vẫy nón đáp lại.

Tôi nhận thấy sau đó, cái hồ mà tôi té vào thực chất là một hào nước được bẻ cong về phía phải rồi phía trái, và bờ giậu chạy dọc theo nó. Phía bên này của bờ giậu xanh mướt - đám rễ cây nhìn rõ mồn một qua làn nước trong, tôm cá bơi lượn luồn qua, quanh giậu vắt vẻo tầm xuân và hoa ông lão. Nhưng nó là một rào chắn, một thoáng, tôi mất hứng thú với cỏ cây đất trời, với những con người hạnh phúc ở đây, tôi nhận ra chốn này chẳng khác gì một nhà tù, dù nó đẹp đẽ và bao la.

Chúng tôi rời khu vực ranh giới, lần theo một con đường gần như song song, ngang qua những đồng cỏ. Đi bộ kiểu này tôi thấy không thoải mái, vì tôi luôn cố đi nhanh hơn người kế bên, mà điều đó giờ đây vô nghĩa vì nơi này chẳng dẫn đến đâu. Từ ngày bỏ em tôi lại vệ đường, chưa bao giờ tôi bước cùng nhịp với một ai.

Tôi làm lão phá lên cười khi đột ngột dừng lại, chán chường nói: “Cứ đi vô định thế này thì thật là tệ. Không tiến về phía trước thì không thể tiến bộ được. Những người đi đường chúng tôi…”.

“Vâng. Tôi hiểu”.

“Tôi đang nói, những người đi đường chúng tôi lúc nào cũng tiến về phía trước”.

“Tôi biết”.

“Chúng tôi luôn luôn học hỏi, mở rộng, phát triển. Nhờ đó, chỉ trong mấy năm ngắn ngủi đời mình, tôi chứng kiến biết bao nhiêu là bước tiến vượt bậc - chiến tranh Transvaal, chính sách Thuế quan, Khoa học Cơ Đốc, nguyên tố radium. Đây, một ví dụ…”.

Tôi lấy máy đếm bước chân ra, nhưng nó vẫn chỉ 25, không nhích hơn một mức nào.

“Ôi, đứng rồi. Định cho ông xem. Đáng ra nó phải đếm cả những bước nãy giờ tôi đi cùng ông. Nhưng nó chỉ cho tôi tới 25 thôi”.

“Nhiều thứ không hoạt động ở đây lắm”, lão nói. “Một bữa, có gã mang cả khẩu Lee-Metford, nhưng bắn tịt”.

“Định luật khoa học thì ở đâu mà chẳng như nhau. Chắc chắn do nước ở cái hào đã làm hư máy. Chứ ở điều kiện bình thường, mọi vật đều hoạt động. Khoa học và tinh thần cạnh tranh thi đua là những động lực tạo nên chúng ta như hiện giờ”.

Tôi phải dừng lại để nhận những lời chào niềm nở của những người chúng tôi lướt qua. Người ca hát, người trò chuyện, kẻ bón cây, phơi cỏ, chạy máy thô sơ. Ai cũng đầy vẻ phấn khởi; và tôi đáng ra cũng phấn khởi, nếu quên được ý nghĩ nơi này chẳng dẫn tới đâu.

Một chàng trai chạy vèo ngang qua làm tôi giật mình. Cậu nhảy qua một hàng rào thấp một cách điệu nghệ, băng qua một cánh đồng đang cày bừa rồi nhảy ùm xuống một cái hồ và bắt đầu bơi. Một nguồn năng lượng đích thực, tôi thốt lên: “Một cuộc đua băng đồng hấp dẫn! Những tay đua khác đâu?”

“Không có ai khác hết”, gã đồng hành đáp. Sau đó, ở một trảng cỏ dài, chúng tôi nghe giọng oanh vàng của một cô gái đang hát cho chính mình, lão lại nói: “Không có ai khác hết”. Chẳng hiểu tại sao người ở đây lại phung phí năng suất lao động như vậy, tôi thầm hỏi: “Những chuyện này có ý nghĩa gì?”

Lão trả lời: “Thích thì làm, cần gì ý nghĩa” và nhắc lại từng chữ chầm chậm cứ như tôi là con nít.

“Hiểu rồi”, tôi thì thào, “nhưng tôi không đồng ý. Mỗi thành tựu sẽ hóa ra vô nghĩa nếu không là mắt xích phục vụ cho cả dây chuyền của sự phát triển. Và xin phép không làm phiền ông nữa, ông đã rất tử tế. Tôi phải tìm cách trở về con đường, còn đi sửa cái máy đếm bước”.

“Trước tiên, anh phải thấy mấy cánh cổng đã”, lão đáp, “vì chúng tôi có cổng, nhưng không bao giờ dùng”.

Tôi cả nể không dám từ chối, chẳng mấy chốc, chúng tôi về lại cái hào nước, ở chỗ có một cây cầu bắc qua. Cuối cầu là một cánh cổng, trắng như ngà, lọt vừa vặn trong một khoảng trống trên bờ giậu ranh giới. Cổng mở hướng ra ngoài, và tôi thốt lên sửng sốt, vì thấy một con đường y chang như con đường tôi đã bỏ lại - bụi dưới chân và bờ giậu màu nâu nứt nẻ ở hai bên kéo dài ngút tầm mắt.

“Con đường của tôi”, tôi hét to.

Lão đóng cổng và nói: “Nhưng không phải đoạn của anh. Chính từ cánh cổng này, nhân loại đã đi ra ngàn vạn năm trước, lúc họ bắt đầu khao khát mãnh liệt việc tiến bước”.

Tôi không tin, rõ ràng đây là đoạn tôi đã rời đi, và giờ nó chỉ cách tôi chưa đến hai dặm. Nhưng với sự cố chấp của tuổi già, lão nhắc đi nhắc lại: “Cùng một con đường, nhưng đây là khởi đầu. Dù có vẻ nó chạy thẳng từ chỗ chúng ta, nhưng con đường này uốn lượn vòng vèo, đến mức nó không bao giờ đi quá xa đường ranh giới, thi thoảng lại còn cắt vào nữa”. Lão cúi xuống hào nước, vẽ lên bờ mép ẩm ướt một hình thù khó hiểu như một mê cung. Chúng tôi quay bước, qua đồng cỏ, tôi cố thuyết phục lão đã nhầm.

“Con đường đôi khi vòng vèo, chắc chắn rồi, nhưng đó chỉ là những khúc thử thách người đi. Chứ xu hướng tổng thể của con đường là tiến về phía trước, ai có thể nghi ngờ điều đó? Mục đích cuối là gì thì không biết - có thể dẫn đến một ngọn núi cao chọc trời, hoặc những vách đá sâu dưới đáy biển - nhưng nó luôn tiến lên, ai dám nghi ngờ điều đó? Chính niềm tin ấy thúc đẩy chúng tôi luôn phấn đấu, mỗi người mỗi cách, và tạo ở chúng tôi một sức bật mà các người không có. Hãy nhìn cậu trai đã qua mặt ta - nó chạy tốt, nhảy tốt, bơi tốt; nhưng chúng tôi còn có người chạy nhanh hơn, nhảy cao hơn, bơi lướt hơn nữa kìa. Sự chuyên môn hóa của chúng tôi tạo ra những kết quả khiến các ông kinh ngạc. Tương tự, con bé…”.

Đến đây tôi tự cắt lời mình mà thốt lên: “Lạy Chúa tôi! Rõ ràng là cô Eliza Dimbleby đây mà, tại sao cô lại ở đó, mà lại còn đang thong thả ngâm chân ở đài phun nước!”

Lão già thì tin chắc là cô ấy.

“Vô lý! Tôi đã vượt qua cô ấy trên đường. Tối nay, cô dạy ở Tunbridge Wells. Tại sao, chuyến tàu của cô sẽ rời đường Cannon lúc… à, đồng hồ của tôi cũng hư như mọi thứ khác ở đây. Không thể tin cô ấy có mặt nơi này”.

“Người ta luôn sửng sốt khi nhìn thấy người quen ở đây. Đủ mọi loại người vượt qua bờ giậu, ở đủ mọi thời điểm - khi đang dẫn đầu, khi trượt lại phía sau, cả khi sắp chết bị bỏ lại. Tôi thường đứng gần ranh giới để nghe tiếng con đường - anh còn lạ gì cái tiếng ấy - tò mò nhìn xem ai sẽ rẽ vào. Tôi rất lấy làm hài lòng được kéo ai đó ra khỏi hào nước, như tôi đã giúp anh. Vì cái đất quê này còn thưa người, dù vốn dĩ nó dành cho cả nhân loại”.

“Nhân loại còn có mục đích khác”, tôi trả lời lịch sự vì biết lão chẳng có ác ý gì, “và tôi phải về với họ”. Tôi chúc gã buổi tối tốt lành vì mặt trời đã xuống, còn tôi thì muốn ra đến đường khi trời vừa tối. Bất ngờ, lão vòng tay ghì chặt tôi, hét: “Chưa được đi!” Tôi cố gắng thoát ra, vì tôi với lão không có lợi ích gì chung và hành tung của lão càng lúc càng trở nên đáng ghét. Nhưng mặc cho tôi vùng vẫy, lão già phiền phức không lỏng tay. Và vì đấu vật không phải là chuyên môn của tôi, tôi đành phải đi theo.  

Đúng là một mình thì tôi chẳng thể nào tìm lại được chỗ tôi đã chui vào. Hy vọng sau khi tôi thấy được phong cảnh mà gã muốn tôi thấy, lão già sẽ chỉ lối cho tôi về. Nhưng ngủ qua đêm ở đây thì nhất quyết không, không tin được cái chỗ này và cả đám người ở đây, dù họ có niềm nở hiếu khách thế nào. Bụng đói cồn cào, nhưng tôi quyết tâm không ngồi vào bàn ăn bữa tối có sữa và trái cây với họ, và, hoa họ tặng, tôi vứt đi ngay khi họ quay đi. Chưa gì mà những người này đã nằm ngửa ra chờ đêm xuống, một số nằm ở sườn đồi trọc, số khác dưới gốc sồi. Trong ánh sáng cam của buổi chiều tà, tôi sốt ruột đi theo gã dẫn đường không mời, mệt muốn chết, đói đến xỉu, nhưng vẫn lì lợm lẩm bẩm: “Trả lại tôi cuộc sống, với nhọc nhằn và vinh quang, với chiến bại và thù hận, với những ý niệm đạo đức thâm sâu và những đích đến vô định!”.

Cuối cùng, chúng tôi đến một nơi mà hào nước uốn quanh có một cây cầu khác bắc qua, nơi ấy cũng có một cánh cổng chặn ngang bờ giậu ranh giới. Cổng này khác với cổng đầu tiên, vì nó trong mờ như sừng và mở vào trong. Nhưng qua nó, trong ánh sáng của ngày tàn, tôi lại thấy con đường mà tôi đã bỏ lại - đơn điệu, bụi bặm, bờ giậu nâu nứt nẻ hai bên, kéo dài ngút tầm mắt.

Tôi băn khoăn một cách lạ lùng trước phong cảnh này, nó như tước sạch sự tự chủ nơi tôi. Một người đàn ông đi ngang qua, trên đường về nghỉ đêm ở những ngọn đồi, với lưỡi liềm trên vai và một bình đựng thứ nước gì đó trong tay. Tôi quên hẳn vận mệnh của giống loài. Tôi quên hẳn con đường đang trải ra trước mắt, và tôi nhảy xổ vào người ấy, giật phăng cái bình trong tay hắn và ừng ực nốc.

Là một thứ nhẹ cỡ bia, nhưng thể trạng tôi đang kiệt quệ, nó quật ngã tôi ngay tắp lự. Như trong một giấc mơ, tôi thấy lão già đóng cổng lại và nghe lão nói: “Đây là chỗ con đường của anh kết thúc, và qua cánh cổng này, nhân loại - tất cả những ai còn sót lại của nhân loại - sẽ vào đây với chúng tôi”.

Giác quan của tôi đang trôi vào hư vô, dù vậy, chúng vẫn kịp tỏa ra trước khi tan biến. Chúng nhận ra bài ca màu nhiệm của chim họa mi, hương rơm hương rạ từ một nơi nào đó, và ánh sáng của những vì sao xuyên thủng nền trời chuyển tối. Người đàn ông bị tôi cướp bia đặt tôi nhẹ nhàng xuống để tôi ngủ cho qua cơn say, và, khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra đó là em trai mình.

E.M.F
(TCSH450/08-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Nụ hôn (24/07/2026)
Champoon (08/07/2026)
Sau đám tang (09/04/2026)
Thái thú Nam Kha (20/11/2025)
Quả chanh (10/11/2025)
Vườn Kew (22/09/2025)
Bác sĩ huyện (18/08/2025)