PREMCHAND
1.
Lò gạch của ông Haridas nằm gần thành phố. Hàng trăm phụ nữ, trẻ em và đàn ông từ các làng bên cạnh đến làm việc ở đó. Họ đội gạch trên đầu, xếp gạch thành từng dãy. Một người đàn ông cầm một rổ tiền vỏ ốc đứng cạnh lò gạch. Anh ta trả cho nhân công theo số gạch mà họ xếp được. Vì muốn kiếm tiền thêm nên nhiều nhân công làm hơn cả sức họ. Cảnh tượng người già và trẻ em còng lưng dưới sức nặng của gạch thật đáng thương.
Thi thoảng, ông Haridas đến đứng gần người đàn ông cầm rổ tiền và khích lệ nhân công. Cảnh tượng càng đau lòng khi nhu cầu mua gạch tăng lên đột ngột. Những lúc đó, tiền công tăng lên và nhân công phải làm việc nhiều gấp đôi. Mỗi bước đi của họ thật khó nhọc. Thân thể họ ướt đẫm mồ hôi, từ đầu tới chân, đầu họ cúi xuống dưới sức nặng của gạch. Nhìn họ, người ta nghĩ là có một con quỷ tham lam đang đánh đập họ và leo lên ngồi trên đầu họ. Đáng thương nhất là cảnh một cậu bé đội số gạch nhiều gấp nhiều lần số gạch mà một cậu bé ở tuổi cậu có thể đội được. Cậu bé này làm việc mà không có chút nghỉ ngơi. Khuôn mặt u buồn và dáng vóc gầy gò của cậu làm người ta thương cảm. Trong khi các cậu bé khác mua đường ăn, xem xe chạy, hoặc cãi nhau, đánh nhau thì cậu bé này chỉ biết lao động. Cậu không nghỉ ngơi, không tinh quái như các cậu bé khác cùng tuổi. Thực sự, không ai thấy cậu cười bao giờ. Vì thương cảm, ông Haridas thi thoảng nói với người đàn ông phát tiền cho thêm cậu tiền. Lúc khác, ông cho cậu thức ăn.
Ngày kia, ông kêu cậu tới gần và hỏi thăm về gia đình cậu. Nhờ đó, ông biết là cậu đến từ làng bên cạnh và đang sống với mẹ già bị bệnh mãn tính. Trách nhiệm trong gia đình đổ lên vai cậu, không có ai nấu nướng cho cậu. Khi trở về nhà, cậu tự nấu ăn và đút thức ăn cho mẹ. Cậu từng thuộc đẳng cấp thakur, được sinh ra trong một gia đình từng giàu có, chủ một nhà máy đường. Gia đình cậu cũng từng có đất đai nhưng vì anh em tranh giành nhau nên kết cục là cậu giờ phải chật vật lắm mới có bánh mỳ hàng ngày. Tên cậu là Mangan Singh.
Ông Haridas hỏi: - Người trong làng có giúp đỡ cháu không? Mangan nói: - Dạ, điều duy nhất họ muốn làm là giết cháu. Họ tin là trong nhà cháu có chôn tiền.
Ông Haridas tò mò hỏi: - Nhà cháu là nhà cổ, chắc chắn là có gì trong đó. Mẹ cháu không bao giờ kể cho cháu nghe chuyện gì à?
Mangan nói: - Dạ không. Không có đồng nào đâu ạ. Nếu có thì mẹ cháu đã không khổ cực.
2.
Ông Haridas mến Mangan và quyết định thăng chức cho cậu, từ vị trí người lao động thành quản lý. Ông cho cậu làm công việc chi trả và nhờ người dạy cậu đọc và viết. Cuộc đời của cậu bé nghèo như thế cuối cùng đã thay đổi.
Mangan là cậu bé thật thà và thông minh. Cậu không bao giờ đi làm trễ hoặc vắng mặt. Chỉ trong một thời gian ngắn, cậu được ông chủ tin tưởng cũng như đã biết đọc, biết viết. Rồi mùa gió mùa tới, lò gạch bị ngập nước và không hoạt động được, Mangan vắng mặt 3 ngày liền. Ông Haridas lo lắng, không biết cậu có bị bệnh hay gặp tai nạn gì hay không. Ông hỏi mọi người và họ đều không biết. Vào ngày thứ tư, ông Haridas đến nhà cậu, giờ chỉ còn là tàn tích của một ngôi nhà huy hoàng trước kia. Mangan bước ra khi nghe giọng ông Haridas.
Ông Haridas hỏi: - Sao mấy ngày qua cháu không đi làm? Mẹ cháu sao rồi?
Mangan nghẹn ngào trả lời: - Mẹ cháu rất yếu và nói bà sẽ không còn sống được. Mẹ vài lần muốn gọi chú tới nhưng cháu lưỡng lự. Thật may là chú đã đến. Mời chú vào. Mẹ cháu sẽ vui khi gặp được chú.
Ông Haridas bước vào. Căn nhà có mùi ẩm mốc, bụi bặm vương vãi khắp nơi, như một bức tranh đã mục nát. Chỉ có 2 phòng là có thể ở được. Mangan dẫn ông Haridas đi vào một phòng. Khi bước vào, ông thấy có một người phụ nữ già đang nằm rên rỉ trên một chiếc giường cũ mục nát. Bà mở mắt khi nghe tiếng bước chân ông Haridas và hỏi ông là ai.
Bà nói: - Vậy là anh đã đến. Tôi chờ anh. Anh là ân nhân của cháu nhà tôi. Từ đó đến giờ, anh đã che chở cho nó... Tôi mong anh luôn để mắt tới nó và rèn giũa để nó thành một người tốt. Kiếp khổ cực của tôi sắp hết. Ngôi nhà này từng sung túc. Nhưng khi vận xấu đến gõ cửa, nữ thần Lakshimi đã bỏ rơi chúng tôi. Tổ tiên chúng tôi đã nghĩ tới điều này, do đó, họ chôn của cải dưới đất. Bản đồ được giữ kỹ nhưng trong một thời gian dài, không ai biết nó ở đâu. Cha thằng Mangan cũng không biết. Nếu ảnh biết, đời chúng tôi đã không như thế này. Ba ngày trước, tôi tìm thấy bản đồ trong đống đổ nát. Từ đó, tôi giấu kỹ nó. Thằng Mangan ở ngoài phải không anh? Bản đồ nằm trong hầm gần đầu giường. Nó nói mọi chi tiết, có cả thông tin về vị trí kho báu. Khi có dịp, anh đào lên và trao cho thằng Mangan. Tôi cần gặp anh để nói điều này. Tôi không tin ai ngoài anh. Đời bạc bẽo. Biết tin ai...
3.
Haridas không nói cho ai biết. Máu tham trong ông nổi lên. Bản đồ cho biết kho báu nằm dưới nền một ngôi đền cách nhà khoảng năm trăm bước, về phía Tây. Haridas muốn có kho báu nhưng không muốn ai biết ông phát hiện ra nó như thế nào. Nỗi lo sợ bị phỉ báng làm ông bứt rứt. Đó là điều khủng khiếp. Làm sao ông có thể phản bội cậu bé ông đã bảo trợ và xem như con! Haridas thấy day dứt đã nhiều ngày. Tuy nhiên, cuối cùng, lòng tham đã thắng luân lý. Ông chắc chắn là cho tới giờ, ông chưa phản bội đức tin tôn giáo và sẽ không bao giờ phản bội. Ông lập luận: Có ai trên đời không chết đi, thành tro bụi? Nếu có người không như vậy, thì anh ta không phải là người mà là thần thánh. Tôi là người. Tôi không thể so sánh tôi với thần thánh.
Tự lừa dối cũng giống như việc an ủi một cậu bé, khi người ta đã làm điều trái với lời hứa với nó.
Haridas mỗi tối đều đi bộ. Khi chắc là không có ai, ông đến và ngồi trên nền ngôi đền và đào đất lên bằng cuốc chim. Ban ngày, ông nghe ngóng xem có ai đến ngôi đền không. Trong đêm yên tĩnh, khi ông nậy gạch lên, ông sợ sệt như một người thờ thần Vishnu tội lỗi đang ăn thịt.
Nền ngôi đền dài và rộng. Ông đào mất một tháng ròng và đã đào được gần tới kho báu. Tình trạng của ông giống như một người đang đọc thần chú. Đầu óc ông bồn chồn, lo lắng. Đôi mắt ông láo liên. Ông nhìn lặng lẽ, như đang trầm tư. Ông không nói năng gì và nếu có ai trêu đùa, ông đều trở nên cáu bẩn. Ông hiếm khi tới lò gạch. Ông lừ nhừ. Ban ngày, ông quyết định sẽ không đến ngôi đền nữa nhưng ban đêm, lòng tham trỗi dậy và làm ông đánh mất những suy nghĩ tốt đẹp. Tình trạng của ông giống một con chó bị chủ đánh nhưng trở về và hăm hở chờ được cho một khúc xương.
Tháng thứ hai đã trôi qua. Đêm đó là đêm trăng non. Haridas đến ngôi đền, lòng như bị bóng tối ập vào. Hôm nay ông sẽ đào xong. Chỉ cần một ít thời gian và sức lực nữa mà thôi. Không lo, mọi việc đều trong tầm tay. Gia đình ông sẽ có chút lo lắng nếu ông về muộn. Không bao lâu nữa, ông sẽ biết phía dưới nền có gì. Nếu có châu báu, ta sẽ trở nên giàu có. Nếu không có thì cũng không sao và đấy chỉ là một trò lừa. Nếu không có gì? Ồ, ta sẽ bực dọc. Nhưng không, chiếc cuốc chim đã va vào đá. Vâng, bề mặt lát bằng đá. Không nghi ngờ gì nữa, có đá. Cửa kho báu đã được mở ra nhưng Haridas không nhảy lên vì sung sướng.
Ông trở về nhà và bị đau đầu. Ông nghĩ chắc do mình mệt mỏi nhưng dù ông ngủ ngon, đau đầu vẫn không hết. Trong đêm đó, ông bị sốt. Đã ba ngày rồi mà vẫn không hết sốt. Thuốc gì cũng không giúp giảm sốt.
Haridas nghĩ rằng ông bị trừng phạt do tham lam. Ông muốn trao bản đồ lại cho Mangan và xin tha thứ nhưng sợ sự việc bị vỡ lở, ông tự hỏi các tín đồ của Chúa Giêsu xưng tội như thế nào.
4.
Sau khi Haridas chết, tấm bản đồ được trao lại Prabhudas, con trai ông. Không nghi ngờ gì nữa, tổ tiên cậu bé Mangan đã vẽ tấm bản đồ này. Nhưng Prabhudas nghĩ, Cha ta đã cân nhắc trước khi tìm kiếm. Ông ấy là người ngay thẳng, không ai nghi ngờ gì ông. Nếu ông nghĩ việc làm của ông không đáng bị khiển trách thì tại sao ta lại bỏ đi cơ hội. Nếu tìm được kho báu này, đời ta sẽ khác hoàn toàn! Ta sẽ cho kẻ giàu có biết cách nên tiêu tiền như thế nào. Ta sẽ buộc họ cúi đầu trước ta. Khi đó, không ai dám nhìn vào mắt ta! Anh ta quyết định thực hiện lại kế hoạch của cha mình.
Tối đến, anh rời nhà của mình, cũng vào giờ đó, với đôi mắt dáo dác và với cây cuốc chim đó. Hình như hồn của Haridas đang ở trong thân xác anh ta.
Nền của ngôi đền đã được đào lên. Giờ kho báu vẫn còn đó, các chỗ nối giữa các viên đá trở nên khó tháo ra. Đá cũ và chắc, cuốc chim đào xuống bị bung lên lại. Phải mất vài ngày mới mở được cửa hầm, nhưng đá ở đó không chuyển dịch được. Sau đó, Prabhudas bắt đầu dùng gậy sắt nhưng dù dùng hết sức, đá vẫn không lay chuyển. Anh ta phải xoay xở một mình, không thể nhờ ai đó giúp đỡ.
Lại đến đêm trăng non. Đã nửa đêm nhưng các cố gắng của Prabhudas vẫn không có kết quả.
Nhưng hôm nay, nhất định anh ta phải có giải pháp. Nếu có ai vào đền, mọi sự sẽ hỏng.
Anh ngồi xuống và bắt đầu suy nghĩ. Nhưng đầu anh dường như không hoạt động. Bỗng có một ý nghĩ lóe lên trong đầu anh. Tại sao không dùng thuốc nổ? Anh không muốn gác lại công việc cho đến hôm sau và do vậy, đi thẳng đến ngôi chợ cách nhà hai dặm. Nhưng khi đến nơi, anh thấy các cửa hiệu vẫn còn đóng cửa. Người bán pháo hoa từ chối làm anh yên lòng: - Thuốc nổ không được bán bây giờ. Chính phủ không cho bán. Anh là ai? Anh dùng thuốc nổ để làm gì? Không được, nếu có chuyện gì xảy ra, chúng tôi sẽ bị liên lụy.
Lòng kiên nhẫn của Prabhudas từ trước tới giờ chưa bị thử thách như thế này. Anh nài nỉ chủ tiệm và cuối cùng, tiền đã thuyết phục được ông này. Prabhudas rời chợ, không giấu được sự hăm hở.
Vào lúc 2 giờ sáng, anh về đến ngôi đền, đặt thuốc nổ trong khe hở của cửa kho báu, đốt dây mồi và chạy ra xa. Không lâu sau đó, có một vụ nổ lớn. Đá cửa kho báu văng ra. Một hang động tối om xuất hiện như miệng một con quỷ đang há ra để nuốt anh ta.
5.
Buổi sáng Prabhudas đang ở trong phòng. Trước mặt anh là một két tiền xu cổ mười ngàn đồng. Mẹ cầm một cây quạt đang ngồi gần anh ta.
Prabhudas bị sốt hành hạ. Anh lắc lư, rên rỉ, vung tay vung chân nhưng mắt không rời két tiền. Tất cả hy vọng của anh nằm ở đó.
Mangan giờ là quản lý ở lò gạch. Cậu sống trong nhà Prabhudas. Mangan đi vào phòng Prabhudas và nói: - Anh đến lò gạch được không? Em kêu xe ngựa nhen? Prabhudas nhìn cậu, khuôn mặt đầy ân hận và nói: - Anh hôm nay không đến được. Anh bị bệnh. Em cũng nên ở nhà.
Mangan đi gọi bác sĩ vào lúc 10 giờ, khuôn mặt Prabhudas trở nên tái nhợt, còn đôi mắt thì đỏ ngầu. Khi mẹ nhìn anh ta. Bà thấy rất đau lòng, như thể số phận anh đang chới với. Hình như bi kịch đang lặp lại. Khi bà đang cầu nguyện, đôi mắt Prabhudas vẫn dán chặt vào két sắt là cái mà vì đó anh bị bệnh tật. Vợ anh ngồi bên cạnh và khóc nức nở. Nước mắt cũng chảy dài trên mặt Prabhudas nhưng họ vẫn vô vọng nhìn vào két sắt.
Bác sĩ tới thăm khám rồi đi, nhưng thuốc vô hiệu. Tay chân Prabhudas bắt đầu lạnh, khuôn mặt lờ đờ, mạch yếu nhưng mắt không rời két sắt.
Hàng xóm đến. Họ nói về lòng tốt của người cha và người con. Cả hai được xem là hiện thân của đạo đức. Họ không nói, dù là lỡ lời, một lời nào xấu về hai cha con. Toàn thân Prabhudas giờ đã lạnh toát. Chỉ còn đôi mắt anh ta là còn sống và chúng đăm đăm nhìn vào chiếc két sắt.
Cả nhà giờ đã huyên náo. Mẹ Prabhudas và vợ anh khóc than. Phụ nữ láng giềng an ủi họ nhưng bất lực. Bạn bè anh đứng và chùi mắt họ bằng khăn tay. Chết trẻ là đau lòng, trái tự nhiên và đáng sợ. Đó là một cú sét đánh, một bi kịch độc ác của tạo hóa. Sự sống dường như là một cơn khát không được thỏa mãn. Hơi tàn nhưng khát khao hãy còn.
Lúc đó, Mangan đến đứng cạnh anh ta. Prabhudas quay mắt khỏi chiếc két sắt và nhìn cậu. Hình như máu trong cơ thể anh lại lưu chuyển. Có những khoảnh khắc hồi dương. Anh gọi Mangan đến, thì thào gì đó vào tai cậu, tay chỉ về chiếc két sắt. Làm xong những việc đó, anh quay mặt đi và trút hơi thở cuối cùng.
P.
Trần Ngọc Hồ Trường dịch từ Premchand, The complete short stories, Volume 2, Penguin Books, 2017.
(TCSH451/09-2026)