NGUYỄN THỊ LOAN
Vừa đầu hè mà mệ cô đã mấy lần giục tôi về. Mệ trách:
- Chắc mi không muốn ở với mệ già này nữa.
- Mệ ơi, con đã thi xong đâu.
- Mi đó, tau đã bảo đừng có dính vào cái nghiệp văn chương, ca hát chi hết, mà mi thì cả hai.
Mỗi lần mệ cô nói vậy tôi chỉ cười và mệ thì lại thở dài. Ở trong nhà, mệ yêu chiều tôi nhất, chẳng bao giờ để bụng giận dỗi gì tôi. Với người khác, mệ rất hay hờn dỗi. Mệ nhiều tuổi không bị lẫn lộn, mà lại đổi tính đổi nết. Hình như về già, người ta lại muốn sống quãng đời mà mình chưa từng được sống. Trước đây, mệ ít nói bao nhiêu thì giờ mệ hay để ý và trách móc. Nhiều lần, ba muốn đón mệ cô ra Hà Nội chơi, mà mệ cứ đay đả nhắc lại câu nói của ông nội tôi: “Cả đời này, tau sẽ chết già, mãi mãi không ra khỏi cửa làm con ma giữ cái nhà rường này thôi”. Mệ hay hờn ba nhất, có lẽ vì ba quá giống ông nội. Mệ nói với ba mà vùng vằng như nói với ông. Và mệ cúp máy, suốt mấy ngày hôm sau, ai điện cũng không được. Ba phải gọi cho o tôi bên Phú Hội chạy về. Đến tường ngoài đã nghe tiếng mệ xua: “Mi về đi, lấy chồng rồi yên tâm bên nớ. Có tau trông nhà trông cửa, mi không phải lo chi mô. Về đi kẻo người ta nhìn thấy”.
Với mệ, việc gái đã có chồng mà không phải ngày giỗ chạp, lễ lạt cứ thậm thụt về nhà là chẳng hay ho gì. Đến giờ mệ vẫn có quan niệm ấy, dù rằng mệ chưa từng một lần biết cảm giác đi lấy chồng.
Mệ cô là em gái út của ông nội tôi. Ngày còn sống, ông nội tôi đi ra đi vô, cứ thấy mệ là chắp tay sau lưng thở dài, quay mặt tránh, đầu cúi thấp, hai xương bả vai nhô lên nhọn hoắt như sườn chim. Mệ điềm nhiên ngồi têm trầu bên cửa sổ gian buồng, nhìn về phía hàng cau, biết ông khó chịu cũng mặc.
Có lần căng thẳng chuyện gì đó, ông nội xỉa tay về cửa buồng:
- Mi làm khổ tau đến hết đời.
- Anh cấm tui lấy chồng thì tui ở rứa. Anh còn trách chi nữa.
Mệ quay lưng đi, gầy gò như đứa trẻ, còn điệu bộ giận hờn lại như thiếu nữ mới lớn.
Trên đầu giường mệ treo một tấm ảnh đen trắng. Mỗi khi vào buồng mệ, tôi hay vô thức ngẩng lên ngắm tấm ảnh ấy. Mệ bảo đó là tấm ảnh mệ đang hát ở Hội quán, bên bờ sông Hương.
Trong tấm ảnh, mệ vấn tóc cao, đội mũ xếp nhiều lớp, áo dài lụa ngồi trên ghế đẩu bắc chính giữa. Xung quanh, theo hình vòng cung là 5 người chơi đàn tranh, tỳ bà, nhị, tam, nguyệt... Khi ấy mệ còn trẻ, mắt to, môi mọng, tay thon thon cầm cặp sênh tiền. Nhìn đôi tay thon nhỏ ấy, lòng tôi thắt lại xa xót. Cổ mệ cao, đeo chuỗi ngọc toát vẻ đài các, dịu dàng. Cái dịu dàng của người con gái Huế không chỉ ở giọng nói trong trẻo, ngọt ngào. Cốt cách ấy có thể thấy ở dáng ngồi đoan trang, mềm mại, ánh mắt nhìn chính diện êm ả như mặt hồ lặng sóng và đôi môi cười mỉm như đóa nhài nở. Tôi đã từng nghĩ, một giai nhân như vậy có thể khiến tất cả đấng nam nhân trên thế gian này phải xiêu lòng.
*
Mệ từng là ca nhân có tiếng. Vừa bập bẹ tập nói, mệ được người vú em dạy cho các điệu ca Huế. Người vú ấy được cố nội cứu giúp, mang về nuôi, nghe đâu là hậu duệ truyền nhân ca Huế danh tiếng đã lưu lạc sau khi triều Nguyễn kết thúc. Vú già kể lại cho mệ những câu chuyện khi vú còn nhỏ, theo chân mạ và các nghệ nhân vào Đại Nội trình diễn những điệu Lưu Thủy, Phú Lục, Nam Bình... trong yến tiệc lộng lẫy của hoàng gia và khi vua ngự trên thuyền rồng. Vú mơ màng lẩm nhẩm: “Lá ngô rời rạc rơi thu/ Trước thềm châu, nỗi lòng man mác./ Ngồi giữa canh thâu, si tình thương bạn ôm cầu./ Trước hay sau cứ đen bạc ví dầu./ Da trời in nước...”. Trong đôi mắt vú ánh lên màu vàng son của buổi hoàng hôn đã tắt. Vú bế mệ trong lòng đung đưa, đôi tay khô nẻ chậm rãi quệt mắt nhìn lần theo bức tường vàng bao quanh khu vườn trước mặt. Mệ đã lớn lên bằng rất nhiều buổi chiều tàn lụi dần, trong lời ca u buồn của vú. Mệ cô có tư chất, thuộc hết những khúc ca Huế vú già dạy cho. Mệ mơ có ngày được ngồi giữa những nghệ nhân chơi đàn, hát điệu Nam Ai. Có lẽ nỗi buồn của điệu hát đã đi theo cả đời mệ.
Sau ngày bị cố nội tôi phát hiện và cấm đoán, thậm chí định đuổi cả vú già đi, mệ đã quỳ xuống van xin ba được giữ vú lại. Cố thương con gái út mất mẹ sớm, không nỡ dứt người vú đã chăm bẵm bện hơi, quen tiếng mới đồng ý bỏ qua. Cố cấm mệ cô không được đàn hát nữa. Nhưng những ca từ, nhạc điệu như đã ngấm vào, đan thành từng mạch máu nhỏ trong cơ thể mệ, lớn dần, ngày càng mãnh liệt hơn. Mệ chỉ dám lẩm nhẩm hát một mình, nghĩ ngợi những lời ca về phận người và thế thái nhân tình. Khi mệ 14 tuổi thì vú già mất. Vú cầm tay mệ cô nhìn ra hoàng hôn vàng cháy lên sau cây đại hoa trắng, nước mắt giàn ra, mấp máy một điệu Cổ bản rồi từ từ tắt thở.
Hình như cái chết của vú già khiến mệ chẳng còn nỗi sợ nữa. Mệ trốn nhà đến các buổi biểu diễn ca Huế dọc sông Hương và Hội quán, nơi giao lưu của các nhà thơ, nhạc sỹ và các ca nhân. Cố nội ngày đó đã coi như vứt bỏ mệ. Từ lúc mệ tự ý bước ra khỏi khuê phòng của người thiếu nữ học nghệ và trở thành ca nhân thì cố đã gạch tên mệ cô ra khỏi gia phả.
Ngày đó chẳng hiểu sao mà mệ không biết sợ. Mệ như con cá được thả xuống dòng sông Hương, thỏa sức ngụp lặn, quẫy đạp dưới những đêm trăng lấp lánh muôn nghìn vụn sóng bạc. Mệ trổ dáng thiếu nữ với sắc vóc của một ca nhân xinh đẹp. Ở nơi đó, mệ đã có một mối tình thầm lặng với một nhà thơ. Là mệ đã yêu thầm, đã đem lòng thương, say đắm và nhớ nhung chàng thanh niên trẻ tuổi dù biết chàng đã có người trong mộng.
Trong nhiều buổi các thi nhân mặc khách đến nghe ca Huế, thưởng trà, trò chuyện, bình phẩm văn chương, mệ chú ý tới một chàng trai trẻ đeo kính, gương mặt trầm tĩnh, thường chỉ im lặng. Chàng có vẻ kiệm lời, nhưng những câu thơ của chàng luôn thấp thoáng ánh trăng như một linh hồn đau đớn, vỡ vụn, khi lại đầy khát khao với tình yêu trần thế. Mệ khâm phục và thương xót con người ấy. Thế giới của chàng khiến mệ tò mò như đứng trước một cánh cổng tỏa ra muôn nghìn lối rẽ. Đâu mới là con đường vào thế giới của chàng. Một buổi trăng xanh mờ, sương từ lòng sông bảng lảng leo lên chân thuyền như khói, sau đêm ca, mệ bước ra ngoài, thấy bóng chàng đứng ở mũi thuyền, xoay lưng lại đang nhìn về thôn Vỹ xa xa. Mệ bỗng cảm thấy như ánh trăng quanh chàng không còn màu xanh mờ nữa, mà sáng rực lên như vầng hào quang bừng lên từ nghìn con đom đóm nhỏ kết thành. Mặt sông Hương chao động, sóng vỗ dưới mạn thuyền loạn nhịp hay sự bồi hồi trong lòng mệ. Bóng lưng ấy bỗng tạc vào tâm trí, đi vào những giấc mơ của mệ.
Nhiều mùa trăng đi qua, mệ ôm sâu kín vào lòng mối tình thầm lặng. Mệ biết chàng si tình một cô gái thôn Vỹ đẹp người đẹp nết mà hình như nàng lại dửng dưng. Mệ không để ý đến điều đó. Mệ chỉ cần có thể được nhìn thấy chàng, được nghe chàng đọc thơ đã cảm thấy lòng mình hạnh phúc. Đôi lúc qua ánh mắt vô tình chạm, hay khoảnh khắc chàng đăm đăm nhìn mệ cô hát, mệ run rẩy, bối rối vừa sung sướng lại vừa hoảng hốt muốn trốn chạy. Có lần, chính chàng đã đệm đàn cho mệ hát. Mệ run đến đánh rơi cả cặp sênh tiền. Từ lúc học nghệ, chưa khi nào mệ sơ ý thế. Hai má mệ đỏ bừng, chưa biết làm sao thì chàng đã cúi xuống nhặt cặp sênh tiền đưa vào tay mệ. Đó là lần đầu tiên mệ nói chuyện với chàng. Tình yêu dành cho chàng dường như càng lớn hơn thì mệ hát càng say, càng da diết như thể chỉ để chàng nghe thôi. Mệ thả hồn vào tiếng đàn, bắt nhịp phách và cất lên những ca từ thật tròn, đưa hơi, luyến láy nhuần nhị. Cách rung luyến và dùng giọng cổ của mệ được vú già chỉ dạy, mệ đã tập đến điêu luyện. Những ca từ khi cất lên trong tiếng nhạc, như con chim lửa cất đôi cánh kiêu hãnh mà đau đớn. Mỗi nhịp đập của sải cánh rừng rực lửa như rũ ra muôn ngàn đốm sáng, bay lả tả vào không gian trước khi trở thành tàn tro. Những tiếng đàn, lời ca vút lên trong vắt rung động những nền mây, kiêu kỳ thảng thốt. Bao phận đời lênh đênh, kiếp người hữu hạn, những nỗi nhớ nhung, khao khát của lứa đôi và cảnh sắc sông Hương, núi Ngự mênh mang hữu tình đi vào trong từng câu ca Huế như chắt ra từ những trải nghiệm... Mệ nhớ đến khuôn mặt vàng võ của ba, hơi ấm chưa kịp quen của người mạ mất sớm, ánh mắt thất thần, xa xăm đầy bóng chiều của vú già... Mệ không khóc, chỉ thấy thắt trong lồng ngực. Trong đám đông, mệ nhìn về phía chàng, mong chàng để ý và rung động trước mệ. Vậy nhưng chàng chỉ mến tài và trọng vẻ đẹp của mệ. Một vẻ kính ngưỡng, mến mộ nhưng xa vời vợi, xa như ánh trăng xanh kia. Mệ chẳng làm sao đến gần được.
Khi mệ đã trở thành một ca nhân lừng danh xứ Huế, một ngày, người phu xe già của gia đình đến tìm mệ. Ông già nhấp nhổm, vừa thấy mệ ở Hội quán thì bật dậy:
- O út, ông ốm nặng lắm.
Mệ chẳng kịp thay áo dài, lượt bượt theo người phu xe. Chiếc xe kéo chạy men theo con đường ven sông Hương, qua cầu Đập Đá. Mệ cô muốn khóc mà không khóc được, lòng dạ bồn chồn. Đến cổng đã gặp ông nội tôi sốt ruột đi ra đi vào, chốc chốc lại ngó ra đường cái. Thấy mệ về, ông chạy vội ra, cầm tay mệ, kéo xuống làm mệ lảo đảo:
- Đồ bất hiếu nhà mi. Mi bị đuổi thì không về luôn à. Ba bảo tau chờ mi ở đây đó.
Bước qua cổng, mệ cô bỗng lo sợ. Mệ không còn là ca nhân lừng danh nữa. Mệ chỉ còn là con bé lầm lụi, vừa thương, vừa kính sợ cố. Qua bờ rào chè tàu và những bụi hoa sói, mệ đã khóc, tủi thân, sợ hãi như những ngày còn nhỏ. Từ lúc bỏ nhà đi, đã mấy lần mệ lặng lẽ trở về, đứng ngoài hàng rào nhìn trộm vào ngôi nhà rường khuất sau những cành lá, thấy cố đứng chắp tay đăm đăm ngó lên mấy ngọn cau, gầy gò đi nhiều. Ông cả - anh trai ông nội và mệ cô tôi đi theo Việt Minh, bị bắt giam. Cố đã dùng nhiều mối quan hệ trong giới trí thức mà vẫn không sao tìm gặp được ông. Ông bị thám báo tra tấn đến chết, một mình lẻ loi không vợ con. Cố đã nằm liệt giường cả tháng, tỉnh dậy đau ốm liên miên, rồi nghỉ dạy hẳn ở trường. Mệ thì luôn tự trách mình đã đẩy cố đến bờ vực của suy sụp gần hơn.
Khi mệ đến bên giường, mắt cố vẫn hé mở như chờ đợi. Ba và o tôi mới đi học về bám vào một bên giường cụ, ngơ ngác. Cụ thoáng thấy bóng mệ về thì đưa mắt ra hiệu ông nội tôi đi lấy quyển gia phả. Bằng sức lực cuối cùng, cố viết lại tên mệ vào cuối trang gia phả. Rồi cụ đi. Mệ vẫn trong bộ quần áo dài, tóc xõa gào lên: “Cha ơi” rồi ôm lấy chân cụ mà lay. Cả đời mệ chưa bao giờ khóc nhiều thế, ai oán thế, ân hận thế. Ngay cả ngày vú già và mạ ruột mất, mệ thương, buồn, đau nhưng không chống chếnh như thế này. Mệ khóc mà thấy tâm can mình như đứt ra từng đoạn nhỏ, thấy mình như con cá dìa nhỏ từ nay một mình lạc trong nước lớn.
Đưa tang cố xong, mệ ở nhà hết thất tuần thì mở tráp lấy bộ áo dài ra, gấp gọn gàng để vào túi vải. Sáng sớm, mệ ra mở cửa thì thấy phòng mình bị khóa ngoài. Mệ đập cửa:
- Cho tui ra. Răng lại khóa cửa nhốt tui chi rứa?
Ông nội đứng ngoài hàng cau, nhìn qua song cửa sổ:
- Ba trước khi gọi mi về dặn tau, từ nay không cho mi ra khỏi cửa đi đâu nữa. Mi cứ ở đó, vài bữa có bà mối đưa người bên An Cựu đến xin thăm nhà.
Ông chắp tay bỏ đi, mặc mệ bám vào song cửa mà khóc lóc, van xin.
Khi ấy mệ vừa tròn 16 tuổi. Mệ nói nhất định không gặp đám mai mối bên An Cựu. Mệ phải đi hát. Hội quán còn đang chờ mệ quay về. Hơn hai ngày mệ cứ bám song cửa gào khóc không dứt. Ông nội tức tối vào buồng, mang bộ áo dài của mệ ra giữa sân, thẳng hàng cau mà đốt. Mệ đứng bên trong song cửa gỗ, nhìn bộ áo dài đính cườm và kim sa mệ yêu thích nhất quằn quại, dúm dó trong lửa, biến thành khói và những giọt nhựa khét, đưa con mắt đỏ hoe nhìn chòng chọc ông tôi. Tóc mệ đổ xõa, bết vào trán, vào má. Ông lặng thinh chắp tay sau lưng, quay mặt nhìn lên những ngọn cau, nhìn mà tưởng bóng lưng cố hiện về.
Những đêm bị nhốt trong phòng, mệ nhìn trăng xanh xao trôi từ tán đại hoa trắng bồng bềnh dềnh lên qua những ngọn cau, biết đã khuya lắm rồi. Bóng hình chàng lại hiện lên, cặp kính lấp lóa chẳng thể nhìn rõ ánh mắt. Giờ này chàng có đang đứng trước mũi thuyền, nhìn về phía trăng cùng mệ? Chàng có băn khoăn khi mệ vắng mặt bao ngày qua? Bốn chín ngày qua, mệ trong phòng tụng kinh cho cố. Mệ biết cố thương con gái út nhưng cố đâu có hiểu lòng mệ, giống như cố cũng chưa bao giờ hiểu nổi người vợ bạc mệnh của mình. Còn người anh trai của mệ, chẳng khác cố là mấy, lại thêm phần nóng nảy và gay gắt hơn. Mệ thương cha, nhưng lại oán anh trai. Không đời nào mệ chịu đám mai mối sắp sang nhà ấy.
- Tui có người thương rồi. Tui không có gặp ai hết!
Mệ cứ đứng bên song cửa sổ, lau khô nước mắt, dõng dạc nói về phía sân.
Mệ nói rằng đã có hẹn ước với một người. Chàng là một nhà thơ, một trí thức.
Mệ nói cứng nhưng trong lòng mệ run như có gió lạnh tạt từng cơn. Chàng chưa từng ngỏ lời, chưa từng có một lời ước hẹn, nhưng giờ đây, chàng là chiếc phao cứu sinh duy nhất dành cho mệ. Mệ đành nói dối như vậy để ông nội không ép mệ gặp đám mai.
Mệ không ngờ rằng, ông nội nhếch cười khinh khỉnh.
Mệ sụp xuống, ngồi sau chân cửa, chẳng còn sức lực mà khóc.
Sáng hôm sau, mệ nội tôi theo lệ đem cơm vào. Mệ xô cửa bỏ chạy. Mệ không kịp đeo guốc, không mang theo gì, áo chẽn, chân đất, tóc xõa chạy về phía con đường ven sông. Có tiếng gọi khản đặc rồi chuyển thành quát nạt phía sau. Mệ nhếch môi cười sung sướng, hả hê. Lần thứ hai, mệ như con cá tung mình rơi thỏm xuống mặt nước sông Hương. Mệ muốn sống cuộc đời của chính mình. Mệ muốn được hát, đến khi nào mệ ngừng thở.
*
Khi chìm ngập trong làn nước xanh thẫm mênh mông, mệ đã mở to mắt, để nhìn rõ phía dưới lòng sông ấy. Chỉ có dòng nước tối rêu và đáy chiếc thuyền rồng. Mệ nhắm mắt lại. Ngày trở lại Hội quán, mệ mới biết chàng đã chuyển đi, một nơi nào đó mà những bạn thơ của chàng đều mù mờ không chắc, nghe đâu như Quy Nhơn, nghe đâu lại như ở Khánh Hòa... Mệ tần ngần hỏi, chàng có nhắc, có nhắn hay gửi lời chào gì cho người quen cũ không? Mệ ngượng ngùng không dám hỏi thẳng chàng có nói gì về mệ. Chủ Hội quán vào trong, cầm tập sách đưa cho mệ. Chàng gửi lại một tập thơ, đề tặng: gửi cô Châu, không ký, cũng không đề ngày. Mệ nhận tập thơ, chết lặng.
Mệ đã ôm tập thơ trong lòng, đứng trước mũi thuyền, nơi chàng đã đứng nhìn về phía trăng. Thôn Vỹ tối thẫm cả một mảng đêm u tịch. Ánh trăng hôm nay trong suốt như chẳng có sắc màu, như thể sắp vỡ thành muôn vụn thủy tinh. Mệ thấy cô đơn và chới với. Bước thêm một bước nữa, liệu có thể gần hơn với ánh trăng kia. Gió sông lộng lên, sóng chao mạnh, mệ lảo đảo ngã khỏi mũi thuyền. Có tiếng hô thất thanh đâu đó mà mệ nghe như tiếng ông nội đang quát gọi sau lưng ngày mệ chạy trốn khỏi nhà. Mệ sẽ không quay lại.
Trong lòng nước mênh mông, mệ bỗng như thấy chàng đang ở đâu đó, giữa làn nước xám lạnh, rồi lại như nghe bên tai khúc Nam Ai. Đó giống như giọng hát của vú già nhưng hôm nay run rẩy, chập chờn quá. Mệ mở choàng mắt thấy mình đang bị hút về phía guồng quay đuôi thuyền. Chân vịt xoay tít phạt một lát cắt sắc qua cánh tay đang cầm sách của mệ. Mệ ngất đi thấy mình chìm xuống. Tập thơ vẫn bồng bềnh trôi, phía trên là bóng trăng lấp lóa.
*
Tôi trở về Huế khi hè vừa mới chớm. Hôm nay trời nhiều mây hơn tôi tưởng. Lúc xe qua cầu Đập Đá, tôi ngó xuống, sông Hương cũng rất nhiều mây. Chúng như những con thuyền trắng chìm phía dưới đáy, mê mải trôi trong lặng lẽ. Dường như Huế đón tôi với sự dịu dàng độ lượng nhất. Nắng vàng ươm như màu tơ trải từ trên cao xuống. Ngô đồng trổ lá phấp phới tựa muôn nghìn vụn vải xanh.
Đến bức tường cũ có hoa văn hoa mai, tôi đã nghe thấy điệu Phú Lục khẽ khẽ, vui tươi. Tôi bước qua bóng cây xoài, mộc lan và những bụi nhài chạy bao quanh hồ sen nhỏ, qua hàng rào chè tàu, đã thấy bóng mệ lúi húi. Cái rổ tre cắp bên cánh tay trái cụt đến khuỷu. Tay phải mệ thoăn thoắt hái búp trà lẫn với hoa nhài, hoa sói. Thấy tôi, mệ nheo mắt cười, hàm răng đen lấp lóa nắng.
Căn nhà rường lúc nào cũng sạch sẽ. Mệ bảo, tau mà không giữ nhà sạch, ông mi lại về trách tau. Mệ hờn trách ông là thế, nhưng cứ mở miệng là nhắc đến anh trai.
Tôi nhớ có lần mệ kể khi ai đó nhắc đến ông nội. Ngày người ta vớt được mệ từ dưới sông, mất một cánh tay, lúc tỉnh dậy, mệ đang trong cơn sốt, một hai đòi chết. Ông nội mắt đỏ ngầu ngồi bên cạnh giữ rịt vai mệ:
- Mi chữa chạy cho lành. Từ nay, mi muốn hát tau để cho mi hát. Mi muốn lấy ai, tau để cho mi lấy người ấy.
Mệ cay đắng quay mặt vào tường:
- Tui còn hát, còn lấy ai được nữa.
Ông ngồi cạnh, im lặng, đầu cúi thấp, hai bả vai gồ nhọn lên.
Mệ từng bảo tôi, đời người cái gì rồi cũng qua. Có những thời khắc tưởng chừng không sống nổi, nhưng rồi con người ta cũng dần quen như một bản năng tồn tại. Có người tưởng chẳng quên được, hình như... rồi cũng quên. Mệ chẳng còn đến Hội quán được nữa, cũng chẳng muốn có mặt chỗ đám đông. Mệ thường điềm nhiên ngồi bên cửa sổ têm trầu, hát những điệu ca Huế. Mệ dành thời gian cho mảnh vườn hoa trái và những luống trà. Ông nội tôi thì vẫn miệt mài không ngừng tiếp những đám mai mối. Khi khách đến, mệ giũ sạch áo, ngồi thờ ơ bên cửa sổ, lẩm nhẩm hát những bài ca Huế. Mệ giả ngây ngô khiến những đám xem mắt đều thất vọng ra về. Ông nội tôi lại đứng xỉa tay về phía buồng:
- Mi làm khổ tau.
Cũng có ông giáo bên An Cựu vẫn nặng lòng thương mệ. Từ ngày mệ bị mất cánh tay, ông vẫn lui tới nói chuyện sách vở, đọc thơ cho mệ nghe. Còn mệ nhìn ông lại thấy thấp thoáng bóng ai đó, lại đau. Sau này, mệ tránh không gặp ông nữa.
Ông nội tôi những đêm trăng thanh, thường bắc ghế ra cửa, nói là ngắm trăng, nhưng thực ra để ngồi nghe mệ hát. Mệ hát chay không nhạc, nhưng không bao giờ chậm nhịp hay lạc điệu. Cứ như vậy bao nhiêu mùa trăng, ông ngồi ngoài sân uống trà do mệ ủ, nghe mệ ở phía bên kia buồng hát những điệu ca Huế. Kể cả những mùa đông sương phủ dày, ông ngồi phía trong thềm, nhâm nhi trà nóng ngan ngát mùi hoa nhài, hoa sen và các loài hoa trong vườn đã phơi khô ủ kỹ từ hè. Giọng ca Huế của mệ quyện cùng mùi sương lành lạnh, mùi trà hoa ngan ngát ấm đến lạ lùng. Cuối cùng thì ông nội tôi, một người cổ hủ dù không bao giờ nhận, nhưng đã mê những điệu ca Huế từ lúc nào. Ông hắng giọng bảo mệ: “Mi hát chi mãi khúc Nam Ai, nghe buồn lắm. Mi hát Lý mười thương, tau nghe cũng đỡ…”. Tôi biết rằng, ông nội tôi luôn ngồi uống trà nghe mệ hát cũng bởi ông không muốn mệ phải cô đơn. Ông đã đi cùng em gái mình cả quãng đời một cách lặng lẽ như vậy.
Ngày ông nội bệnh, nằm chiếc giường xưa kia cố đã nằm, như một vòng quay quanh quẩn của cuộc đời. Ông dặn ba tôi phải chăm sóc, có hiếu với mệ như với ông. Mệ vùng vằng, mắt đỏ hoe, vẫn hờn trách ông như những ngày còn thơ bé:
- Anh không được để tui ở lại. Tui không chịu mô.
Ông vỗ vỗ vào cánh tay lành lặn của em gái, nhắm mắt như ngủ, hơi thở mỏng dần. Mệ không gào khóc, nhưng vai xuôi xuống. Ánh mắt mệ dò dẫm lần theo bức tường vàng trước mặt. Mệ như hiểu hơn cái cô đơn của vú già những chiều ôm mệ ngồi hát, khi chỉ còn lại một mình đơn côi trên cõi đời này.
Những ngày sau đó, mệ vẫn ngồi hát bên song cửa sổ, nhưng không còn bóng ông nội ngồi ngoài hiên pha trà. Chẳng ai biết mệ nghĩ gì. Hình như mệ dần quen với sự cô đơn ấy. Một thời gian sau, ba tôi chuyển công tác ra Hà Nội, mệ nhất định không chịu theo mà ở lại ngôi nhà rường này.
*
Đêm đầu tiên về Huế, sau khi ăn cơm xong, mệ pha ấm trà mới. Tôi ôm cổ mệ thấy người mệ vẫn còn mùi nhài phảng phất từ trong vườn. Tôi thủ thỉ:
- Con muốn nhìn thấy mệ mặc chiếc áo dài trắng như trong ảnh. Con đệm đàn cho mệ hát nhé.
Đêm ấy trăng rất sáng. Tôi ôm đàn nguyệt, gảy bài Lý mười thương. Mệ mặc áo dài trắng, chiếc áo mệ đã cất giữ bao nhiêu năm. Giọng hát của mệ cất cao, vươn lên qua hàng cau, qua hàng trà tàu, qua bức tường vàng ố bao quanh khu vườn. “Một thương tóc xõa ngang vai/ Hai thương, hai thương đi đứng/ Ố tang tình tang, tình tang tình…”. Mệ hát, đưa mắt nhìn về phía ánh trăng trên đầu cây đại hoa trắng. Tôi nhìn theo về phía đó. Dưới ánh trăng xanh, bên kia hàng rào xanh thăm thẳm, bóng dáng ai đó nhà bên xoay lưng lại, đang nhìn xa xăm về phía ánh trăng buông. Trong một chốc, người đó quay mặt lại, khuôn mặt trầm tĩnh, bình thản, cặp kính sáng lấp lóa dưới ánh trăng.
N.T.L
(TCSH450/08-2026)