Truyện ngắn
Núi
16:21 | 08/10/2026

MAI KIM NGỌC

1. Cụ André Valois thức giấc. Thần trí còn lơ mơ, cụ chưa hội nhập hẳn với đời sống thật. Cụ chỉ cảm thấy hạnh phúc trong khoảng không gian bé tí dưới chiếc mền len dày cộm, ấm áp với thân nhiệt hai vợ chồng đã dồn chung lại qua đêm.

Núi
Minh họa: Phạm Đại

Đầu gối cụ chạm phải cái bịch cao su mềm quen thuộc lúc đi ngủ vợ đã đổ đầy nước sôi cho cụ sưởi chân. Mùa đông năm năm trước, đêm nào cụ cũng bị vọp bẻ, bác sĩ kê hết toa thuốc này đến toa thuốc khác cũng không bớt, cho đến khi cụ bà nghĩ ra lối chữa dân gian này, vậy mà hoàn toàn hiệu nghiệm. Từ đó cứ độ cuối thu, khi cụ ông bắt đầu khuân củi khô vào xếp sẵn ngoài hiên và bên lò sưởi để đốt qua mùa lạnh là cụ bà lại lấy chiếc bịch cao su ra dùng.

Những chăm sóc vợ chồng nhỏ nhoi làm cụ sung sướng. Thật là tầm thường nhưng ân cần và trường cửu... Nhiều lần đã muốn khoe với đám bạn già lác đác còn sống, cụ lại đổi ý. Cái sướng của cụ như chuyện ăn, chuyện thở, và những người cứ tưởng mình vẫn ăn vẫn thở sẽ cười cụ là nịnh vợ, quan trọng hóa những gì không đâu... Họ có ngờ đâu ăn và thở để sống là một chuyện, nhưng thở cho ra thở ăn cho ra ăn lại là chuyện khác... Cụ triết lý vụn trong đầu: "Sướng thế này còn hơn cả những cái sướng ồn ào danh giá trên đời..."

Cụ nghĩ vợ sẽ cằn nhằn cụm từ những cái sướng ồn ào danh giá cụ vừa dùng. Mathilde sẽ nhăn nhó như vẫn nhăn nhó một cách vô hiệu quả gần bốn chục năm nay mỗi khi thấy ngôn ngữ của chồng quá cộc lốc... Cụ hóm hỉnh nghĩ mình đã thắng vợ, đã làm Mathilde hoàn toàn thất bại trong cố gắng tỉnh thành hóa chồng...

Cụ ôn lại những cái sướng ồn ào danh giá của đời cụ. Có khiếu trèo núi từ nhỏ, cụ đã đoạt được những giải cỡ làng, cỡ vùng, cỡ quận... Cụ đã hưởng những giây phút huy hoàng khi một mình bước ra khán đài lãnh thưởng, dưới bóng cờ xí và giữa tiếng vỗ tay, mắt lòa đi vì chớp lửa ma-nhê từ máy ảnh của đám phóng viên... Nếu không vì Đệ Nhị Thế chiến người ta tạm bỏ những giải quốc gia hay quốc tế, chắc cụ còn thu lượm được những huy chương tầm vóc hơn về môn thể thao này...

Nhưng mà những cái sướng ấy thấm gì với cái sướng riêng tư những buổi sáng đầu xuân ngủ trễ với vợ. Cụ đưa chân đè lên chiếc bịch cao su. Qua đêm, bịch không còn nóng bao nhiêu, nhưng cái mềm mại âm ấm như bắp chân đàn bà làm cụ thinh thích. Cụ quờ tay sang tìm vợ. Cụ bà không có trong giường.

*

Vẫn chưa tỉnh hẳn, cụ tự nhủ chắc Mathilde lại ra ngắm núi. Cụ không ngạc nhiên. Mặt trời mọc trên núi Alpes là một cảnh đáng ngắm. Hồi trẻ, cụ đã ngắm núi nhiều lần, không phải ngắm như Mathilde ngắm, nhưng ngắm như một người sinh ra ở núi, lớn lên với núi, kiếm sống bằng núi.

Cụ nhớ cảnh núi thuở nhỏ mỗi độ lập xuân cụ lùa đàn bò của gia đình trở lại thảo nguyên. Băng giá đã co lại quanh những đỉnh cao, trả lại màu cỏ xanh mát cho những cánh đồng mấy tuần trước còn tuyết phủ. Ít người hiểu biết về cỏ núi như cụ, những cụm cỏ ranh ma tàn đông đã âm thầm mọc ngầm dưới tuyết. Khi người không tinh ý vẫn tưởng băng giá bất tận thì đùng một cái, tuyết tan và sườn núi xanh rờn. Đàn bò bấy lâu tù túng với rơm khô và nước giếng bỗng được ra khỏi chuồng, tung tăng sung sướng trông đến tội nghiệp. Chúng khua vang lục lạc, tiếng leng keng vui như mùa xuân mới đang trở về. Hoa dại tới trễ hơn một vài tuần, nhưng đã mọc thì mọc rất mau, đủ thứ đủ màu, từng mảng lớn hay lác đác đó đây trong nội cỏ.

Cụ thường không để ý đến hoa, cho đến khi Mathilde theo bố tản cư về làng... Mathilde yêu núi, yêu tất cả những gì liên hệ đến núi, từ núi của những rừng phong đổi màu mùa thu cho tới núi của những đêm sao bát ngát mùa hè...

Cụ nghĩ cảnh núi vợ đang ngắm ngoài hiên bây giờ có thể cụ chưa bao giờ thấy. Khung cảnh chung chung vẫn vậy, nhưng núi mỗi lúc một khác, tùy theo mùa theo mặt trời đã đành, nhưng lại còn tùy theo mấy đám mây bao giờ cũng quẩn quanh đỉnh, làm ánh nắng mỗi lúc một khác.

Mathilde cũng ghi nhận điểm ấy. Mathilde đã tả lại cảnh núi cho bè bạn trên Paris những lần họ có dịp xuống thăm, hay qua những thư từ gửi cho họ. Có lần Mathilde ví núi như viên kim cương mài theo nhiều mặt, còn mặt trời thì như ngọn đèn treo trần nhà, và mây thì như chụp đèn... Tùy theo cử động của bàn tay đeo nhẫn mà chiếc nhẫn sáng lên một cách khác nhau... Núi Alpes là một mặt nhẫn khổng lồ, lại cắt theo một kiểu đã không đối xứng lại vô cùng phức tạp, thợ kim hoàn không thể nào bắt chước nổi, thành thử cái đẹp thay đổi hình dạng kể như vô cùng vô tận. Cụ cho hình ảnh ví von của vợ rất hoa mỹ, nhưng vẫn không đẹp bằng cảnh núi cụ trực diện thưởng lãm mà không cần so sánh hay phân tích. Hai vợ chồng thường khác biệt nhau ở điểm này...

Cụ muốn nhỏm dậy mặc áo ấm để ra ngắm núi với vợ nhưng lại đổi ý. Cụ ghi nhận đã từ lâu lắm, Mathilde ít dậy sớm ra ban-công ngắm núi một mình như vậy. Mãi gần đây thói quen cũ mới trở lại. Cụ biết Mathilde bây giờ ra ban-công ngắm núi mà không phải để ngắm núi. Có những lúc người ta muốn cô độc một mình. Chính cụ cũng có những lúc như vậy...

*

Cụ nằm nghĩ mông lung. Cụ bỗng nghĩ đến tháng trước, vừa ấm lại một chút, tuyết mới bắt đầu tan, băng sơn trả lại cái cánh quạt của chiếc phi cơ gặp nạn hơn bốn mươi năm trước... Biến cố xao động cả mấy làng nhỏ xung quanh... Cái xao động lan tới Paris, gợi lại biết bao hồi tưởng cho những người đã liên hệ đến thời kháng chiến của vùng núi này. Thân nhân bằng hữu của người phi công tử nạn được cấp báo, Bộ Quốc phòng được cấp báo, Hội Ái hữu những cựu chiến sĩ du kích chống Đức được cấp báo. Và cụ đã được cấp báo vì Lucien - tên người phi công - là đồng chí của cụ. Sự nghiệp kháng chiến chống Đức cũng như đời sống của hai người đàn ông dính líu với nhau một cách mật thiết... Quá mật thiết...

Chẳng bao lâu nữa, một tuần, một tháng, hay vài tháng, băng sơn sẽ trả lại mũi phi cơ, cánh phi cơ, thân phi cơ... sẽ trả lại buồng lái, và sẽ trả lại người phi công bất hạnh... theo thứ tự ấy, hay theo một thứ tự éo le nào khác...

Cụ nhìn ra cửa sổ, trời đã hừng sáng qua những ô kính tuyết đóng gần kín. Không cần đồng hồ, cụ cũng biết là đã gần bảy giờ, mặt trời sắp mọc. Cụ lắng nghe trong lòng mà không thấy gì khó chịu. Không, cụ đã làm hết mình để cứu anh ta... Lương tâm cụ không có gì hạch hỏi cụ về cái chết của người phi công ấy... Cụ chỉ ngậm ngùi... Nhưng cụ vẫn chưa muốn nghĩ nhiều về chuyện ấy. Cụ muốn trốn thêm ít lâu nữa trong cái êm ấm của chiếc giường cũ kỹ này, cái giường cha mẹ để lại, cái giường nơi cụ đã ra đời...

Cụ thấy trống trải quá. Giá có Mathilde bên cạnh, cụ mơ hồ ao ước. Những lúc bi quan, những lúc chán đời, ôm tấm thân mềm yếu ấy vào lòng làm cụ thấy vững tâm đối phó với mọi bất an dù cụ thể hay mơ hồ. Nhưng cái bất an hôm nay, Mathilde không giúp được cụ và cụ phải đối đầu với nó một mình. Lý do giản dị là chính Mathilde liên hệ đến niềm bất an này.

*

Không muốn mà tâm trí cụ lại trở về với Lucien, người phi công tử nạn hơn bốn mươi năm trước trên núi Alpes... Anh ta không những chỉ là bạn cụ, là đồng chí kháng chiến của cụ, mà còn là người yêu cũ, vị hôn phu cũ của vợ cụ... Cái chết thảm của Lucien hôm ấy, cụ chứng kiến tận mắt. Chẳng bao lâu nữa, cụ sẽ thấy lại khuôn mặt anh ta, khuôn mặt tuấn tú của người thanh niên thủ đô đã bỏ học tòng quân đánh Đức... Cụ nhớ rõ khuôn mặt ấy, cái vầng trán cao, cái mũi thẳng, cái miệng rộng với hàm răng trắng, cái nụ cười hồn nhiên vô tư lự... Cụ biết băng sơn đã giữ khuôn mặt ấy nguyên vẹn, không già thêm một ngày. Hơn bốn mươi năm qua, khuôn mặt ấy vẫn trẻ như hình ảnh người yêu cũ mà cụ biết Mathilde vẫn còn ghi nhớ trong lòng. Chỉ có cụ là già đi, đêm đêm cần bịch nước sôi của vợ để khỏi bị vọp bẻ...

Cụ lại nghĩ đến vợ. Giờ này Mathilde đang ngồi ngoài ban-công đăm đăm nhìn băng sơn hiện dần ra dưới ánh nắng mai.

Cách nhau có dăm bảy bước mà hai vợ chồng như xa nhau cả mấy dặm đường. Rồi cụ ghi nhận là giữa băng sơn và vợ chồng cụ, ngay từ đầu đã có một liên hệ bất thường, như một cuộc tình tay ba chứa đầy bất an và u uẩn...

Cụ gắng lạc quan. Đời cụ đã ba phần tư thế kỷ, nói chung cụ đã may mắn và những việc khó giải quyết cứ như tự giải quyết lấy. "Rồi đâu cũng vào đấy", cụ tự nhủ. Cụ gắng hồi tưởng lại những ngày vui quá khứ.

2. Cụ André Valois nằm nhớ lại thuở ban đầu. Thời gian là mùa xuân 1943. Khi ấy cụ chưa là cụ, chưa khốn khổ với chứng phong thấp mỗi khi mùa đông tới, hồi ấy cụ còn là anh chàng André mới hai mươi lăm tuổi, trẻ trung, đẹp trai, hy vọng của suốt một vùng núi Alpes về môn leo núi.

Không gian là chính trang trại này, với mấy chục con bò sữa, kế sinh nhai của hai cha con André. Trại thuê lại của người chú họ xa buôn bán lớn tận tít Paris, thỉnh thoảng mới về chơi ít bữa. Trên thực tế chú Francois kể như là khách, gia đình André mới thực là chủ nhân. André đẻ ở đây, lớn lên ở đây... Mồ côi mẹ cũng ở đây... Mãi khi chú Francois từ Paris tản cư về và hai cha con André dọn xuống nhà dưới để dành chỗ cho chủ nhân ở, André mới ghi nhận là mình ở thuê.

Sự thay đổi không làm André khó chịu. Với cái bặt thiệp của người thủ đô, chú Francois làm André cảm thấy tựa hồ như chỉ vì lòng hiếu khách mà cha con anh nhường lại ngôi nhà chính cho chú ở.

Chú Francois kể chuyện hay và hấp dẫn, những câu chuyện hoạt động bí mật trong hàng ngũ kháng chiến chống Đức. Chú có cái hào quang của người vào sinh ra tử vì đất nước. Chú và các đồng chí đã tạo ra nhiều tổn thất cho bọn ngoại xâm bằng những chiến dịch phá hoại hay bất hợp tác. Gần đây, chính vì vòng vây của Gestapo siết chặt dần quanh chú mà chú phải tản cư về làng.

Nhưng lý do chính làm André thích gia đình chú là Mathilde, con gái độc nhất của chú và em họ xa của André. Cô hai mươi tuổi, đang học dở cử nhân văn chương. Cô dong dỏng cao, nước da trắng xanh nhắc nhớ đến những mùa đông thiếu nắng của thủ đô. Mắt cô cũng màu hạt dẻ với tóc, to và sâu, trong như nước hồ thu trên núi. Lần đầu tiên gặp nhau, André đã bị thu hồn bởi nhan sắc của cô em họ. Ý nghĩ đầu tiên của anh là họ hàng xa như vậy thì kể như không có họ hàng, và không có gì cấm kỵ chuyện anh yêu cô gái...

Cuộc sống tiếp tục thay đổi. Chú Francois đem sinh hoạt kháng chiến về trang trại nhỏ bấy lâu gần như đứng ngoài thời cuộc. Không phải là André không ghét bọn xâm lăng, nhưng phải đợi chú tản cư về làng, anh mới có những ý niệm cụ thể về những điều anh có thể làm để góp phần quang phục đất nước.

Trong đám đồng chí thường lui tới hội họp với chú, André có cảm tình nhiều với Lucien, người sinh viên đại học Bách Khoa Paris năm trước đã bỏ học đi theo kháng chiến chống Đức. Lucien lái phi cơ, và phụ trách liên lạc giữa du kích quân vùng này với Bộ Tham mưu bên Ý. Lucien đàn hay, nói chuyện giỏi, am hiểu văn chương nghệ thuật, nhưng không biết gì về trèo núi hay săn bắn. Anh ta tới từ một thế giới hoàn toàn cách biệt, nếu không có chiến tranh có lẽ chẳng bao giờ André gặp anh. Vậy mà một tình bạn bất ngờ nảy nở giữa André với người thanh niên thủ đô ấy.

Để bảo mật cho chú, André thuyết phục bố bán đàn bò sữa, đóng cửa hãng phó-mát nhỏ của gia đình và chấm dứt giao tiếp với đám thương gia Lyon thường hay tới lui thu mua lương thực cho Sở Quân nhu địch. Tất nhiên là chú Francois đền bù rộng rãi cho cha con André, nhưng dù không được đền bù André cũng sẵn lòng hy sinh vì đại nghĩa. Đất nước đã mất vào tay giặc, sá gì xưởng phó-mát của hai cha con.

André lao đầu vào giúp chú trong những hoạt động chống ngoại bang. Thông thạo đường núi, anh xung phong vào tổ liên lạc với công tác chính là đi nhận tài liệu hay đón những phái viên trung ương Lucien chở tới một bãi đậu bí mật trong núi. Tất nhiên anh cũng tham dự vào những trận đánh như mọi người, quấy phá đường giao thông của địch hay tạo bất an cho địch trong những vùng chiếm đóng.

Sinh hoạt kháng chiến không hẳn bao giờ cũng bận rộn và sắt máu. Có những công tác nhẹ anh cho Mathilde đi theo. Cô gái thủ đô lần đầu tiên được sống gần thiên nhiên, say mê với những chuyện núi anh kể cho cô, những cảnh núi cô được anh dẫn tới thăm.

*

Anh dẫn cô em họ đi thăm băng sơn lần đầu tiên vào một buổi sáng mùa xuân. Cô gái tỉnh thành thật là khờ khạo. Cô nằng nặc đòi ngắm băng sơn, vậy mà hôm được anh dẫn tới tận chân băng sơn Mer de Glace vĩ đại của núi Alpes, cô vẫn còn hỏi băng sơn ở đâu.

Anh khám phá ra cô bấy lâu vẫn tưởng băng sơn là những trái núi hoàn toàn bằng băng, sừng sững như những băng sơn vẫn thấy trong mấy tấm ảnh chụp trên Bắc cực.

Anh giảng cho em băng sơn ở núi Alpes không phải là những núi nước đá riêng biệt mà là những thung lũng chất đầy nước đá nằm giữa những triền hoa cương chót vót. Băng sơn ở đây đúng ra là những con sông nước đá. Và như sông chảy ra biển, những băng sơn nhỏ quy tụ lại thành Mer de Glace, băng sơn mẹ của tất cả những băng sơn trong vùng, mông mênh như một biển băng bất tận. Nơi tiếp cận với đồng bằng, băng tan thành suối, nhưng toàn thể băng sơn không hao mòn nhờ băng mới mỗi mùa đông tạo trên đỉnh.

Anh bảo:

"Chỗ tiếp cận ấy còn gọi là ngón chân của băng sơn, và tùy theo mùa nóng hay lạnh mà ngón chân co lại hay lấn xuống cánh đồng."

Cô thích thú với cụm từ ngón chân băng sơn, đã nhiều hình ảnh lại sống động. Nhưng cô thắc mắc tại sao người ta ví băng sơn với sông với biển. Băng sơn mà cũng chảy sao?

Cô chăm chú nghe như một du khách nghiêm túc và anh thích thú giảng như một hướng dẫn viên tận tâm. Anh cho cô hay là băng sơn cũng chảy như những con sông thường, chỉ có điều chảy rất chậm, mỗi năm từ vài chục tới vài trăm thước. Vì vậy chỗ tiếp giáp với cánh đồng, chỗ mà nước đá tan thành suối chính là chỗ băng sơn trả lại những đồ vật mà nó mang xuống từ đỉnh núi. Anh cúi nhặt một hòn đá, chỉ cho cô những vết soi mòn kỳ dị vì sức mài của cả trọng lượng băng sơn đè xuống suốt ba bốn mươi năm...

"Sao anh biết ba bốn mươi năm?"

"Tính ra thôi. Với vận tốc băng sơn như vậy, với khoảng cách từ đỉnh núi tới đây chừng ấy, thì suy ra là bấy lâu thời gian...”

Anh nhìn quanh, sung sướng tìm được nửa chiếc ski gãy để minh họa những lời vừa giảng:

"Em xem này, khúc ski này băng sơn vừa trả lại vào mùa xuân năm nay. Kiểu cổ lắm bây giờ không còn chế tạo nữa. Bốn mươi năm trước, chắc ai trượt tuyết đã đánh văng..."

Cầm miếng gỗ tần ngần ngắm nghía, cô nói:

"Bốn mươi năm mà nước sơn trông vẫn như mới. Chủ nhân chiếc ski này không biết bây giờ ở đâu, chắc bỏ mạng trong núi rồi. Không biết bao giờ băng sơn trả lại xác..."

Anh bất giác ngẩng đầu nhìn núi. Anh nhớ đã lâu, một khoa học gia anh dẫn đi tham quan đã giảng cho anh là vì bị khúc xạ qua những tầng lớp nông sâu trong lòng nước đá mà ánh nắng thay đổi để tạo nên những mầu sắc kỳ dị trên mặt băng sơn... Nhưng hôm nay câu nói vô tình của Mathilde làm anh nghĩ đến những điều mà anh chưa từng nghĩ. Anh nghĩ cái mầu bầm dập tê tái thỉnh thoảng nhuộm tím băng sơn không hẳn chỉ là ảnh hưởng quang học của nắng trên nước đá, mà lại phản ảnh cái u uẩn dồn lại của tất cả những người đi núi đã lâm nạn, từ khi có núi, từ khi có người... Anh nghĩ đến những ngóc ngách không bao giờ lộ diện, thâm sâu trong lòng băng sơn, nơi giấu giếm thân xác những người bất hạnh...

Nhưng Mathilde không có ý định buồn bã. Cô nói đùa:

"Chết như vậy em không sợ. Chết như vậy sẽ trẻ mãi. Anh tưởng tượng đi. Nếu bị băng sơn bắt, bốn mươi năm nữa anh em mình vẫn trẻ như bây giờ trong khi các bạn mình sẽ thành những ông cụ bà cụ xấp xỉ bảy mươi..."

Hai anh em cùng cười lớn. Mathilde nói chuyện chết như trò đùa, như một sự việc không bao giờ xảy đến. Cái vui tính của cô em họ làm tan biến những tiêu cực nơi anh. Vả lại cái cảnh băng sơn thê lương anh vừa nghĩ tới thuộc về những buổi chiều mùa đông u ám. Nó không phải cảnh núi hôm nay khi dáng xuân đẹp như cô gái tới thì.

Anh ngắm cỏ non trải trên sườn mấy ngọn đồi thấp, thảo nguyên đầy hoa dại, từng đám hồng, hay đỏ, hay vàng... Cây đã đâm nụ lá xanh, và mấy chú sóc mới thức giấc sau cơn ngủ li bì mấy tháng đông còn ngơ ngác như chói nắng. Đám chim cổ đỏ đã trở về sau mùa đông trốn lạnh dưới Nam, và núi vang vọng tiếng hót...

Mathilde bỗng nói:

"Núi đẹp quá. Em muốn sống ở đây cả đời..."

*

Hai anh em tung tăng đi dạo giữa thảo nguyên. Một cặp thỏ trắng đuổi nhau bỗng chạy ngang con đường mòn rồi biến vào bụi cây. Anh nhìn theo nhận ra con đực đang đuổi theo con cái, cái đuổi không ác ý mà cái trốn chạy cũng không dứt khoát, nửa như khuyến khích nửa như dẫn đường. Cô hồn nhiên khen lông thỏ đẹp như áo choàng của một bà hoàng. Anh nghĩ cảnh nào cũng gợi nơi cô thanh thoát cao sang, dù cảnh cặp thỏ rủ nhau vào bụi làm tình. Anh biết chắc vậy vì hồi nhỏ anh đã nhiều lần rón rén bò vào bụi rình những cặp thỏ như vậy.

Kỷ niệm ấu thơ làm anh đỏ mặt. Anh thấy mối tình cảm của anh với cô quá xa vời. Đời anh là đời thanh niên thôn dã với núi, với đàn bò, với thiên nhiên, với những hội làng, với những cặp thỏ đuổi nhau vào bụi rậm... Đời cô là sách, là nhạc, là Paris... Cô ở trại mà tâm hồn vẫn như ở thủ đô, chỉ nghĩ đến chiếc áo ngự hàn của bà hoàng khi thấy cặp thỏ trắng chạy vào bụi rậm.

Một con ong đen từ đâu tới buông những vòng bay lơi lỏng như len rối xung quanh hai người. Cô sợ hãi lùi sát vào anh. André cầm nhẹ cánh tay em như che chở. Anh nghe hương tóc cô như hương lavande của núi tháng tư, anh nghe lưng cô tựa vào ngực anh, mình cô tựa vào mình anh, và anh lúng túng nghe mùa xuân thức giấc trong anh.

Con ong đậu vào lòng một bông hoa dại, màu đen của nó nổi bật lên màu vàng của hoa như bắt mắt hai người. Nó thành thạo rẽ mớ nhị hoa, cắm đầu vào đài hoa liếm mật, chẳng mấy chốc cái mặt tham ăn của nó nhớp nháp nhựa và lem luốc phấn hoa. Nó tiếp tục liếm những cọng nhị vàng mảnh và óng ả như tơ như tóc.

Cô bất giác rùng mình. Anh nhìn xuống thấy má cô ửng đỏ, tựa như nhuộm lấy sắc hồng của những cánh hoa dại đang nở rộ xung quanh. Lưng cô vẫn tựa vào ngực anh, và qua làn hơi ấm tỏa ra từ cô gái trẻ như ngôn ngữ không lời của bản năng, anh nghe mùa xuân cũng đang thức dậy nơi cô. Cô gái thị thành cao sang bỗng trở nên thật gần gũi.

Bạo dạn anh nói:

"Anh cũng mong giữ em ở lại đây cả đời..."

"Thật không anh?"

Giọng cô lâng lâng như trong giấc mộng. Và lâng lâng, anh nói:

"Thật với tất cả tấm lòng. Với tất cả trái tim của anh."

Vừa nói, anh vừa nhẹ xoay cô quay lại. Mặt nhìn mặt, anh cầm lấy tay cô, kéo cô sát lại gần. Tình anh bấy lâu rụt rè, giây phút này sẽ không còn là mối tình câm nữa. Ngày mai, hay ngay tối nay, anh sẽ thưa với chú Francois, với ba anh, và anh em sẽ chính thức ăn hỏi...

"Khoan, anh..." cô vừa nói vừa khẽ rút tay ra khỏi tay anh. Anh nghĩ đến cái trốn chạy không ra trốn chạy của con thỏ cái, cái rút tay không ra rút tay của e lệ thường tình nơi người nữ. Anh cầm lại tay cô, mạnh dạn thổ lộ tình yêu, chia sẻ với cô những mộng ước tương lai bấy lâu ấp ủ trong lòng. Anh sẽ săn sóc cô, sẽ che chở cô chống lại tất cả những nguy hiểm lớn nhỏ của cả đời người. Anh sẽ xây dựng hạnh phúc vợ chồng với cô...

Anh cúi xuống hôn cô, quên cả thẹn thùng nhút nhát, tựa hồ chuyện anh yêu cô tự nhiên và đẹp như mùa xuân xung quanh, như con ong đang mê mải rẽ mớ nhị hoa để liếm mật ngọt, như hai con thỏ trắng lúc nãy đuổi nhau vào bụi rậm.

Nhưng anh lầm. Nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, cô khẽ đẩy anh ra. Ái ngại trong ánh mắt, cô nói thật mau... Cô cho anh hay là cô tin tưởng anh, quý mến anh như một người anh ruột. Đằng nào thì cô cũng là em của anh, cũng là thân thiết mà... Cô vô cùng hối hận đã tạo ra những hiểu lầm cho anh... Nhưng cô đã có người yêu rồi...

"Ai?" anh hỏi.

"Lucien," cô nói.

Anh lặng người... Té ra là Lucien... Rồi anh nghĩ cũng phải thôi, chỉ tại anh mù quáng nên không thấy. Lucien thật xứng đôi vừa lứa với Mathilde...

Cô lại nói cô không muốn anh buồn, cô không muốn anh khổ... Cô vô cùng hối hận đã làm anh buồn khổ... Tha lỗi cho cô mà đừng giận cô anh nhé... Cô sẽ mãi mãi là đứa em gái của anh...

"Anh, em hạnh phúc với Lucien lắm, anh thương em mà mừng cho em..."

Cô không biết là cô tàn nhẫn. Cô vừa nói vừa hôn lên má, lên trán anh những cái hôn anh em, những cái hôn thương hại. Cô lại nói, "Hòa bình rồi, tuy chúng em sẽ về Paris nhưng chúng em vẫn nhớ anh... vẫn thỉnh thoảng về thăm anh, thăm núi... Nhà chúng em trên ấy, em sẽ để sẵn phòng cho anh, khi nào rảnh rang anh lên chơi với chúng em..."

Té ra cái mộng ước được vĩnh viễn sống ở vùng núi này chỉ là một cảm hứng với cảnh xuân của cô sinh viên trường văn, chỉ là một lời nói cho có nói, cho vui chuyện... Nói mà không bận tâm tới tổn thương có thể xảy ra cho người khác. Anh chua chát nghĩ ai mà cần cân nhắc ngôn từ với người anh họ xa nhà quê. Hay tệ hơn nữa, cô không vô tâm, không ngây thơ, không hồn nhiên, mà tất cả chẳng qua chỉ là để đùa cợt... Không khí nặng nề. Sau cùng anh kết thúc câu chuyện:

"Chiều lạnh rồi, mình về thôi..."

*

Anh lầm lũi bước bên cô, đau đớn lẫn hổ thẹn trong khi hoàng hôn đổ xuống cực kỳ lộng lẫy... Chưa bao giờ anh bị con gái khước từ như vậy. Anh giỏi đủ thứ, từ làm phó-mát cho tới lợp nhà, cho tới đồ mộc, cho tới vắt sữa bò, cho tới leo núi... Anh là mơ ước của tất cả những thiếu nữ đến tuổi lấy chồng của vùng này.

Anh lánh mặt Mathilde cả tuần cả tháng sau cuộc đi chơi băng sơn, nhưng anh vẫn không quên được cô. Anh muốn nghĩ tới chuyện khác mà khuôn mặt em với lọn tóc nâu lòa xòa trước vầng trán xinh, với nước da xanh mảnh dẻ của con gái thủ đô lúc nào cũng ám ảnh anh, lúc nào cũng hiển hiện ngay trước mặt... Nhất là đôi mắt, ôi đôi mắt thăm thẳm, đôi mắt đã có lần anh thấy đẹp bao nhiêu...

Bây giờ đôi mắt ấy làm anh sợ... Nó huyền bí, nó xa vời, nó đưa tới tâm hồn có cả vạn ngóc ngách... Tia nhìn của anh rơi vào đó cũng lạc lõng như tia nắng lạc vào những ngóc ngách thâm sâu của băng sơn...

Và anh khám phá ra đàn bà là đáng sợ... Đàn bà có khả năng làm anh đau đớn, tổn thương hơn cả băng sơn, cái băng sơn mà ngay cả người yêu núi như anh cũng cho là vô cùng bất ngờ, vô cùng nguy hiểm.

Cuộc sống như thế kể như là vô vọng. Không lấy được người anh yêu thì trên đời không còn gì ý nghĩa nữa. Ngoan đạo, anh không dám nghĩ đến tự vẫn. Nhưng anh tình nguyện lãnh những công tác nguy hiểm cho kháng chiến, hy vọng một viên đạn của lính Đức sẽ giúp anh toại nguyện. Những lúc rảnh rỗi, tránh ngồi không, anh vác ski lên núi phóng như sao băng xuống những sườn tuyết dốc và khó nhất, vụt qua những rặng thông cổ thụ, sát sạt ven những vực thẳm không đáy, đùa giỡn với thần chết trong tuyệt vọng của thất tình...

*

Nhưng André không chết. Người chết trẻ lại là Lucien. Người sinh viên thủ đô anh hùng kháng chiến, người thanh niên tương lai đầy hứa hẹn ấy tử nạn trên băng sơn trong phi vụ cuối cùng để mang đến vùng núi này tin chiến thắng đã gần kề và giải phóng đất nước kể như trong tầm tay...

Chính André cầm đầu toán người tình nguyện đi cứu cấp chiếc máy bay lâm nạn. Lúc André tới nơi thì Lucien còn sống. Từ cửa sổ máy bay mắc kẹt trên sườn băng cheo leo, Lucien vui mừng nhoài người ra vẫy anh. André quan sát địa hình địa vật, tìm đường tới cứu người lâm nạn. Nhưng anh sắp tới nơi thì núi cựa mình. Trong khoảnh khắc, khe hở trên sườn băng khép lại, nuốt chửng chiếc máy bay lâm nạn lẫn Lucien, trong cảnh băng trượt tuyết đổ long trời lở đất...

Không còn làm gì được nữa để cứu Lucien, anh trở xuống báo tin cho Mathilde đang chờ ở một sườn núi thấp. Mathilde hét lên một tiếng thất thanh rồi ôm lấy anh. Đau thương như những đợt sóng cồn lay động tấm thân bé nhỏ của cô em họ vừa mất vị hôn phu. "Em thù nó, em hận nó, cái núi ma quái này," cô vừa nói vừa ngước mắt nhìn lên băng sơn như nhìn một con quái vật tàn ác.

Bất giác anh ngoảnh đầu nhìn theo để ngợp người với một cảnh núi chưa bao giờ thấy. Một vùng băng tuyết tơi bời một màu xanh đục chất đầy khoảng trống giữa hai dãy núi đá, chạy thẳng tới những đám mây mù đang bao phủ ngọn núi... Hai bên và lác đác trên biển băng, những ngọn hoa cương sắc cạnh dựng lên bầu trời xám ngắt như những chiếc răng khổng lồ của quái vật. Một đám mây ngang qua mặt trời, và băng sơn đột ngột đổi thành màu tím bầm dập tàn ác...

Anh tự trấn an rằng băng sơn dù hiểm trở bất thường cũng chỉ là đống nước đá vô tri vô giác. Nhưng anh vẫn không thoát nổi cái cảm giác sợ hãi bao la cho một cái gì vừa to lớn vừa ma quái. Một ngọn gió lạnh từ triền cao thổi xuống lạc loài trong những hành lang hoa cương và nước đá, âm thanh sầu thảm như một tiếng than vĩ đại... Anh nghĩ đến vong linh của Lucien vừa mới chết... Anh nghĩ đến những người đi núi đã tử nạn từ thuở xa xưa, từ thuở mới có núi, mới có người, những hồn ma muôn đời u uẩn trong băng giá hoang vu...

Nhưng anh giật mình. Mathilde vừa gỡ khỏi vòng tay che chở của anh để chạy ra bìa núi. Anh nhào tới bắt kịp cô khi cô đang lấy đà lao mình xuống vực.

*

Với sự an ủi ân cần của André, Mathilde nguôi ngoai dần. Cô ở lại vùng núi dạy học tại trường trung học mới mở sau giải phóng, thay vì theo cha lên lại Paris. Cô muốn sống cho vùng sơn cước Lucien đã yêu mến khi anh còn sống. Cô sung sướng chăm sóc dạy dỗ những em nhỏ Lucien đã cưng như em ruột. Niềm vui của đám trẻ mỗi khi cô cho chúng kẹo lại nhắc lại những lần, nhân tiện đi công tác, Lucien mang chocolat từ Ý về đãi chúng.

André tiếp tục săn sóc cô. Với sự giúp đỡ của hoàn cảnh cùng với tấm lòng chân thành, sau cùng anh chiếm được trái tim người đẹp. Cũng vì hoàn cảnh đặc biệt ấy, chỉ hai tháng sau ngày Lucien tử nạn, đám cưới của Mathilde với André được vội vã cử hành...

Mathilde nghiêm chỉnh đón nhận cuộc sống của người vợ, người mẹ miền núi, sẵn sàng hòa mình với những người vợ người mẹ trong làng. Nàng học làm vườn, chăm sóc mấy luống rau, mấy gốc táo, học làm đồ hộp để cất giữ những hoa quả mỗi mùa thu chín rộ trong vườn... Khi André mua lại đàn bò sữa, Mathilde giúp chồng trông coi xưởng phó-mát vừa tái lập của gia đình. Cả cuộc sống tỉnh thành, Mathilde chỉ giữ lại cây dương cầm và một vài thói quen nhỏ, những thói quen mà André rất kiêu hãnh, như trồng hoa dọc thềm cửa sổ, như trang hoàng nhà cửa, như giữ gìn trang trại sạch sẽ ngăn nắp...

Năm tháng trôi qua, cuộc đời tiếp tục với những vui buồn bình thường, với những cưới xin, tang tóc, sinh nở...

*

3. Thư giãn phần nào với những kỷ niệm êm đềm, cụ André Valois thoải mái duỗi chân dưới chiếc chăn trải giường mịn và sạch. Cụ cười một mình khi nghĩ đến vợ từ hồi mới lấy về đã không khoan nhượng về chuyện chồng phải rửa chân trước khi đi ngủ. Thói quen tỉnh thành sau khi đã thành lệ nơi chồng, trở thành tất nhiên với con cái...

Cụ sung sướng nghĩ đến bốn đứa con của cụ. Hai trai hai gái, tất cả đã lớn, đã thành đạt, đã theo việc theo vợ theo chồng sinh sống ở tỉnh khác. Thỉnh thoảng chúng mang bồ đoàn thê tử về thăm cha mẹ... Con trai đầu là Luc, tên vợ cụ chọn khi nó chỉ mới là cái bào thai ba tháng...

Cụ Valois nằm ôn lại cái triết lý đơn giản của mình. Chúa đã thương thì việc gì rồi cũng đâu ra đấy, dù khởi đầu có khó khăn đến đâu... Cụ nheo mắt nhớ lại cái đêm tân hôn giông tố của cụ.

*

Đêm ấy, khách khứa vừa ra về, cửa buồng cô dâu vừa khép lại, Mathilde nhỏ nhẹ nói với chồng:

"Em đội ơn anh nhiều lắm. Anh đã cứu sống em. Anh hiểu hoàn cảnh của em mà vẫn yêu em, vẫn muốn lấy em. Hôm nay em xin anh thêm một đặc ân. Nếu con em là trai, cho em đặt tên nó là Lucien, thân mật gọi tắt là Luc, cũng như vị hôn phu cũ của em vậy... Đó là chuyện độc nhất em cho anh ấy, còn cả cuộc đời em từ đây về sau là của anh."

Như bị dội gáo nước lạnh, anh trách thầm Mathilde tại sao lại nhắc đến chuyện này ngay giây phút này. Để làm gì, anh đã hứa với Mathilde tất cả những điều ấy. Anh còn hứa với Mathilde nhiều hơn thế nữa, cả những điều Mathilde không đòi mà cũng không xin...

Khoan dung độ lượng, anh lại nghĩ phải chăng anh chưa tạo đủ lòng tin vững vàng nơi vợ với những cam kết của anh từ hôm cứu nàng bên bờ vực thẳm. Xót xa lẫn yêu đương say đắm, anh lại hứa lại tất cả. Tất nhiên rồi, anh sẽ đặt tên nó là Lucien. Không những anh nhận nó là con, mà anh sẽ thương nó hơn là tình cha con máu mủ... Đúng, hai vợ chồng phải thương yêu nó hơn những đứa khác, vì nó thiệt thòi nhất nhà... Và bao giờ nó mười tám tuổi, anh sẽ cho nó biết sự thật, để công bằng với nó, công bằng với Lucien bạn anh... Anh lại đề nghị đưa vợ lên Paris sống những tháng thai nghén cuối cùng, để ngày sinh quá sớm của đứa bé không tạo nên dị nghị trong cái làng núi bé nhỏ này...

Anh nhìn bụng vợ. Mathilde chửa gọn trông như không chửa, thân hình vẫn phẳng, vẫn mịn màng với những đường cong mỹ miều. Anh thấy vợ rất đẹp, và anh nghĩ đến cái thon thả của một con hoẵng hay của một con ngựa non. Mathilde cầm tay anh đặt vào cái bào thai ba tháng.

"Con nó đây", Mathilde nói. Anh ngạc nhiên thấy tử cung vợ nhỏ hơn anh tưởng, chỉ bằng cỡ quả táo. Đầu óc anh trống không, không thương mà cũng không ghét. Anh chỉ thấy dửng dưng, chỉ ngạc nhiên với cái yếu đuối hoàn toàn không chút tự vệ của sinh mạng mới phôi thai này. Anh ghi nhận đây là lý do làm đời Mathilde dang dở, lý do đã làm nàng muốn nhảy xuống núi tự vận. Anh bỗng thấy Lucien vô trách nhiệm, ra đi để lại bao nhiêu khó khăn cho vợ anh. Anh lại nghĩ tại sao chưa bao giờ vợ anh nói đến phá thai. Tất nhiên là không dễ, nhưng với khả năng với quen biết của chú Francois, sự việc có thể tiến hành một cách bảo đảm. Mà cái thai còn sớm lắm. Ngay bây giờ, trong lòng bàn tay leo núi rắn chắc của anh, cái đời sống trứng nước này dễ vỡ như cái bọt xà phòng. Cái mạng sống chưa thành mạng sống này nếu biến đi thì đời sống Mathilde, đời sống của anh toàn vẹn biết chừng nào. Rồi anh hoảng sợ với cái lối suy nghĩ thiếu đạo lý của mình... Lại vô lý nữa, anh biết chỉ vì muốn giữ cái thai mà Mathilde bằng lòng lấy anh... "Em cám ơn anh, anh yêu của em..." Mathilde vừa nói vừa kéo chồng xuống hôn. Lời Mathilde đem lại những thanh thoát độ lượng nơi anh. Anh nhớ lại lời cha Paul, cha xứ của giáo khu, khi anh tâm sự với người, và anh thấy rõ cái thai là đáng thương, là giọt máu của bạn anh, là con đầu lòng của vợ anh, là giềng mối cho hôn nhân anh. Cha Paul đã rất đúng khi giảng cho anh là yêu thương nó, anh giữ được tiếng tăm cho bạn cũ cũng như bảo vệ được mạng sống cho hai mẹ con người đàn bà anh yêu. Tắt đèn, anh hôn vợ, trang trọng và gượng nhẹ bắt đầu cuộc sống vợ chồng với Mathilde trong tình thương độ lượng bao la của Phúc Âm...

(còn nữa…)

M.K.N
(TCSH63/05-1994)

 

 

Các bài đã đăng
Dưới ánh trăng (24/08/2026)
Trăng vô sự (26/06/2026)
Bức tranh có ma (23/06/2026)