Tạp chí Sông Hương - Số 164 (tháng 10)
Vĩ thanh màu hồng phấn
15:48 | 04/09/2008
HÀ KHÁNH LINH "Con gái PhổỞ lỗ trèo cau"

Tôi lần theo câu ca dao xưa tìm về làng Nam Phổ Thượng, nhưng gần như những vườn cau chỉ còn lại trong ca dao. Đây đó lác đác một số vườn vẫn còn cau, song không dày khít rậm rạp như tương truyền rằng ngày xưa người ta vít đọt cau để chuyền từ cây nọ sang cây kia, và làng nhiều cau đến độ vào vụ thu hoạch thì không những con trai mà con gái cũng phải trèo hái những buồng cau nặng trĩu, trái nào trái nấy no tròn. Còn chuyện "ở lỗ" có lẽ là cách ngoa ngôn có ý chọc ghẹo do các chàng trai ở những thôn làng kế cận sáng tạo ra? Ngang qua một khu vườn có hơn vài chục cây cau tán lá xanh mướt, thân thon thả thẳng đuột đang đung đưa hong mình trong nắng chiều màu vàng rơm, trên cánh cổng nhỏ có biển đề "Cơm chay An Lạc Viên" và kia cổng chính của khu vườn với đôi cánh gỗ to dày sơn màu huyết dụ đóng im lìm. Phía trên vòm mái cổ kính phủ đầy rêu xám có dòng chữ Hán đắp nổi "Phủ Vinh Quốc Phong". Ra thế, trong phủ Vinh Quốc Phong có một khoảnh vườn nhỏ cho thực khách dùng cơm chay An Lạc. Chưa biết kỹ năng nấu nướng thế nào, nhưng được ngồi ăn dưới bóng lá của vườn cau này cũng đã có thể an lạc rồi. Tôi nghĩ vậy rồi mạnh dạn bước vào cổng nhỏ "An Lạc Viên", và cảm nhận ngay hương hoa cau đang mơn man ve vuốt lên tóc lên áo... của mình. Một người đàn ông râu tóc bờm xờm đang nằm thiu thiu ngủ trên cánh võng treo giữa hai cây cau đang trổ bông nghe tiếng động vội bật dậy khoác áo bước ra đón:
- Xin lỗi, quý khách tới mà bổn quán không biết... Hôm nay vì nhà có việc nên quán nghỉ bán. Xin cáo lỗi cùng quý khách và mong quý khách lần sau lại đến.
- Chúng tôi trong đoàn văn nghệ sĩ đi thực tế sáng tác ở huyện nhà, trong lúc đi tìm xem những vườn cau Nam Phổ thấy cau nên dừng lại, bất ngờ thấy quán, quán nghỉ bán cũng không sao. Chẳng hay chủ nhân có thể cho tôi được ngồi lại đây một lát để ngắm cau?
- Hân hạnh quá! Rất hân hạnh! – Người đàn ông nói vừa kéo ghế mời tôi ngồi, rồi đi pha trà mời tôi uống, đoạn ông kéo nghế ngồi đối diện với tôi. Lúc này tôi mới có dịp nhìn kỹ đó là một người đàn ông chừng ngoài sáu mươi, râu tóc rậm rạp, da dẻ hồng hào, mắt to và sáng, nét mặt cương nghị, tia nhìn ấm áp và hiền lành, có một chút gì trẻ thơ trong đôi mắt lúng liếng ngơ ngác kia.
- Tôi yêu giới văn nghệ sĩ lắm, một phần vì bản thân tôi bất tài, chỉ dám đứng ngoài mà nhìn thôi! Trước đây tôi làm cộng tác viên cho một số tờ nhật báo ở Sài Gòn, chuyên mảng phóng sự xã hội – Người đàn ông nói vẻ từ tốn và khiêm nhường – Chẳng hay tôi có thể hân hạnh được biết tôi đang tiếp chuyện với nhà văn, nhà thơ, hay nhạc sĩ...?
- Thưa, tôi là họa sĩ.
- Ồ thật tuyệt! Người đàn ông reo lên – Cái vườn cau này mà vào tranh thì... Nhưng theo chỗ tôi hiểu thì các họa sĩ thường vẽ cái họ nghĩ chứ không phải vẽ cái họ thấy. Có đúng vậy không chị? Chị cho phép chúng ta xưng hô như thế này cho thân mật nhé?
- Vâng, nên như thế. Lúc nãy anh nói hôm nay nhà có việc, vậy tôi ngồi chơi hơi lâu một chút có ảnh hưởng gì không?
- Ồ không!... Người đàn ông xua tay nói rồi đôi mắt trở nên đăm chiêu. Giọng ông bỗng chùng xuống như gửi gắm một tâm sự. – "Việc" là ở chỗ tôi không còn lòng dạ tâm trí đâu nữa để mà lo việc nấu nướng bán mua. Tôi sống một mình. Gần đây tôi ăn chay. Bạn bè lui tới cùng ăn với tôi khen ngon, mới xúi tôi mở quán bán cho vui. Mà vui thật. Tôi học được ở mẹ tôi tài nấu nướng. Nhờ mở quán cơm chay mà tôi có thêm được nhiều bạn hiền khách quý, như hôm nay là một ví dụ. Nhưng từ hôm qua đến giờ tôi đã phải trải qua những thời khắc cực kỳ đau đớn, một tình huống hết sức bi đát, cuộc đời tôi bị xô đẩy đến nước này là tột cùng rồi! Tôi... tôi...
Người đàn ông bỏ giữa chừng câu nói, nghẹn ngào tìm khăn tay lau nước mắt. Tôi cảm thấy mình có lỗi vì đã vô tình khơi dậy nỗi đau đớn trong ông, tôi định nói lời xin lỗi thì người đàn ông nói:
- Là hoạ sĩ chị có thể vẽ được nỗi đau này không?
- Cả nỗi đau và niềm hạnh phúc đều có thể vẽ được, một khi người họa sĩ cảm nhận được nỗi niềm ấy một cách sâu sắc, biến nó thành nỗi niềm của mình.
- Nếu chị chịu khó nghe, tôi sẽ kể.
- Ồ, được vậy thật quá hân hạnh cho tôi – Tôi vừa nói vừa rót thêm nước vào tách đưa mời ông.
Người đàn ông đón tách trà trên tay tôi rồi đôi mắt trở nên mơ màng. Sài Gòn tháng Giêng 1968, buổi sáng sớm Vĩnh Tuấn thắng chiếc Honda từ nhà đến tòa soạn báo để gửi bài phóng sự anh vừa viết xong lúc hai giờ sáng – ưng ý lắm. Anh chuyên mảng phóng sự xã hội. Định gửi bài xong, nhận nhuận bút bài tuần trước rồi đi ăn sáng ở quán phở 86 trên đường Ngô Tùng Châu, sau đó ra ngồi nhâm nhi café ở nhà hàng Lapagode với một tờ báo, gần trưa sẽ ăn cơm tại một tiệm cơm bình dân trên đường Lê Thánh Tôn, rồi về nhà ngủ một giấc cho lại sức... Thế nhưng vừa bước chân vào tòa soạn cô thư ký đã trao cho anh một phong thư, thư của Ngọc Mai – vợ anh. Bóc vội thư đọc lướt anh chợt bàng hoàng. Đến quán điểm tâm giải khát mở thư vợ ra đọc lại một lần nữa: "... Anh về thu xếp đưa mẹ con em vô Sài Gòn, kẻo ở đây Việt Cộng sắp giết em rồi.."
Vĩnh Tuấn hiểu một khi Ngọc Mai đã nói vậy có nghĩa là tình thế gay go lắm rồi! Nàng vốn can đảm, có năng lực, ham làm việc, nên năm ngoái mới được bổ nhiệm làm trưởng đoàn bình định nông thôn đặc trách hai quận Phú Vang và Phú Thứ. Tổ chức này là một biến tướng của mô hình xây dựng ấp chiến lược trước đây của Ngô Đình Nhu, nay các đoàn bình định nông thôn có nhiệm vụ đi xây dựng lại những vùng quê đã bị lọt về tay cộng sản, chấn chỉnh bộ máy chính quyền cơ sở. Anh nhớ vợ anh sau mỗi chuyến đi công tác về mệt nhoài, đen đúa, nhếch nhác. Nghỉ ngơi vài hôm cho lại sức rồi kéo những thành viên trong đoàn bình định đến cùng làm món ăn dọn ra trên những chiếc bàn đặt dưới bóng cây lưu niên trong vườn cùng ăn uống vui đùa. Tham gia vào những cuộc này còn có mấy người bạn thân của Ngọc Mai là các ca sĩ tâm lý chiến như Thiên Hương, Nhã Lan, Hoàng Oanh... cô nào cũng trẻ măng, khá xinh, và giọng ca hết sức ngọt ngào. Vợ anh tuy không đẹp bằng các ca sĩ này, nhưng ở Ngọc Mai luôn toát ra một cái uy, một cái uy đầy sức quyến rũ! Những lúc Ngọc Mai đi công tác thì Ngọc Giao con gái của anh ở nhà với cô Công Huyền Tôn Nữ Anh Thi. Anh Thi em gái anh đẹp dịu dàng quý phái đoan trang. Những lần chị dâu đưa bạn bè về nhà, Anh Thi thường phụ giúp nấu nướng bưng dọn thức ăn xong liền rút về phòng riêng, nói là bận học. Chưa một lần Anh Thi tham gia vui chơi ăn uống ca hát với đám người kia. Vậy nên tướng Nguyễn Chí Thiện gặp là mê ngay, nhưng chẳng làm sao được, bởi Thiện đã có vợ con. Nhưng cái tình yêu dấu mê đắm đơn phương không thể cất giữ mãi trong lòng nên có dịp là tướng Thiện bày tỏ với anh trai của Anh Thi ngay. Vĩnh Tuấn trở thành chỗ thân thiết với tướng Thiện là vậy. Ở Sài Gòn bạn bè trong giới báo chí thấy anh thỉnh thoảng cặp kè với vị tướng trẻ ba sao này có phần nể phục anh lắm. Một số tin tức tài liệu moi được ở tướng Thiện đã làm phong phú thêm cho các bài báo của anh. Về phương diện này anh cũng cảm ơn tướng Thiện lắm. Đi đâu làm gì anh cũng nói cho tướng Thiện hay. Khi đứng lên bước ra khỏi quán đụng phải một thuộc hạ của tướng Nguyễn Chí Thiện, Vĩnh Tuấn nói:
- Nhờ anh thưa lại với tướng Thiện
rằng tôi có việc phải ra Huế gấp.
Viên sĩ quan trẻ đứng chụm chân nói:
- Tôi e rằng ngài trung tướng sẽ phàn nàn, vì lúc này an ninh của Huế không tốt.
Vĩnh Tuấn vừa dợm bước đi nói:
- Chính vì điều đó mà tôi phải ra Huế ngay để kịp lo cho vợ con, kẻo Việt Cộng sắp làm thịt vợ tôi rồi!
Nói xong Vĩnh Tuấn bước đi thẳng.
Về đến Huế thấy tràn ngập không khí Tết lòng Vĩnh Tuấn như ấm lại. Đi trên những con đường ngát hương hoa xuân về sớm, với những sắc màu tươi mới rực rỡ của các loại bánh trái hoa quả bánh mứt Tết – Vĩnh Tuấn nghĩ giá như không canh cánh bên lòng nỗi lo tính mạng vợ bị đe dọa, thì bây giờ đây anh là một con người rất đỗi hạnh phúc – một đứa con xa xứ trở về giữa không khí rộn ràng đón mùa xuân mới trên quê hương yêu dấu.
Sáng mồng hai Tết từ phủ Vinh Quốc Phong, Vĩnh Tuấn vác đồ nghề đi lên phố. Vừa đến cửa Thượng Tứ bất chợt bên kia đường có tiếng gọi:
- Ê, tên ác ôn kia đứng lại không thì ăn đạn!
Nghe gọi là "ác ôn" không chắc là gọi mình hay gọi một ai đó, nhưng cái "ai" có vẻ Việt Cộng, Vĩnh Tuấn chợt giật mình và chưa kịp có phản ứng gì thì một họng súng AK dương lên cách Vĩnh Tuấn chưa tới mười mét. Vĩnh Tuấn chỉ còn cách đứng thẳng buông xuôi hai tay không động đậy. Họng súng AK tiến lại gần Vĩnh Tuấn hơn. Và ngay lập tức các thứ trên người anh: máy ảnh, máy quay phim, đồng hồ, bút, ví đựng các loại giấy tờ và một ít tiền bị tước mất. Khi mọi thứ kể trên chuyển từ Vĩnh Tuấn qua phía người mặc quân phục màu xanh lá cây, đi dép lốp, đội mũ tai bèo, mang súng AK xong – Anh ta hô:
- Quay mặt đằng trước, bước!
Tức là bước vô cửa Thượng Tứ. Vĩnh Tuấn răm rắp làm theo và luôn cảm nhận cái nòng súng AK cách lưng mình không đầy hai mươi phân! Vừa qua khỏi cửa Thượng Tứ bỗng thấy nhiều phụ nữ tay cầm cờ sao vàng trên nền vải nửa xanh nửa đỏ vừa đi vừa hô to:
- Huế đã được giải phóng rồi, đồng bào đừng sợ! Đừng sợ!...
Đồng bào thì có thể đừng sợ, nhưng Vĩnh Tuấn vừa được người ta phong cho "tên ác ôn" thì đừng sợ thế nào được?! Nghĩ vậy rồi sực nhớ tới vợ. Vợ chồng anh đang có kế hoạch ăn tết xong là dẫn nhau vô Sài Gòn, bỏ lại cái "Bình định nông thôn" cho ông Thiệu. Ai ngờ giờ đây Vixi vô đến tận nơi thế này, không chừng họ đã tới nhà bắt vợ con anh giết chết mất rồi! Nghĩ đến đây lòng anh như có lửa đốt. Bất chợt anh cất giọng hô to:
- Huế đã được giải phóng rồi! Đồng bào đừng sợ! Đừng sợ!...
Hai bên đường phố đồng bào ùa ra, quân giải phóng ùa vào. Giữa làn sóng người đông đúc đó Vĩnh Tuấn gần như quên mất cái họng súng AK sau lưng mình. Về sau này Vĩnh Tuấn vẫn không biết cái họng súng ấy biến đi từ lúc nào. Có lẽ nó biến đi khi một anh giải phóng quân nói:
- A, ông này to giọng, được đây!
Vậy là Vĩnh Tuấn vừa đi vừa hô hét mỗi lúc một to hơn:
- Huế đã được giải phóng, đồng bào đừng sợ! Huế đã được giải phóng...
Đoàn người mỗi lúc một đông hơn. Ngang qua chỗ Bộ Học Vĩnh Tuấn đi chậm lại, vừa đưa tay chỉ về phía thư viện Bảo Đại nói:
- Trong kia có thể có địch. Hãy coi chừng...
Nghe xong mấy ông chỉ huy tỏ vẻ thận trọng bảo đồng bào và chiến sĩ hãy dừng lại. Mọi người ngồi quây cụm bên nhau khi mấy ông chỉ huy đứng bàn bạc. Những khung cửa sổ hai bên đường lấp ló nhiều khuôn mặt và từ bên trong các cánh cổng không ngớt tuôn ra những chàng trai cô gái nhập vào đoàn người mỗi lúc một đông. Vĩnh Tuấn đi đến chỗ những nam nữ thanh niên này hỏi bâng quơ vài điều rồi lẻn vào một con hẻm nhỏ, tìm đường về nhà một người quen. Ngồi nghỉ ngơi nghe ngóng tình hình một lát rồi tìm đường về thôn Vỹ, qua Nam Phổ Thượng. Hồi ấy thôn Vỹ Dạ thuộc quận Phú Vang chứ không phải thuộc về Huế như bây giờ. Và cả hai phe đều lấy làng Nam Phổ, thôn Vỹ Dạ làm địa bàn chiến lược. Phía quân giải phóng thì lấy nó làm một trong những đường rút quân thuận lợi, lại vừa là bàn đạp để tiến công Huế. Phía quân lực Việt Nam cộng hòa thì lấy nó làm vành đai phòng thủ, bảo vệ Huế, và là nơi cho các cán bộ bình định nông thôn rút về nghỉ ngơi sau chiến dịch, là chỗ cho những ấp trưởng, xã trưởng, thôn trưởng cùng cán bộ các ban ngành thuộc các xã Phú Hồ, Phú An, Phú Thanh, Phú Mậu... tìm về ngủ lại đêm sau mỗi ngày làm việc. Thế nhưng nghe nói gần đây có ông quận trưởng ban ngày làm việc ở Hương Thủy, ban đêm về ngủ tại Nam Giao Huế, vậy mà quân giải phóng lọt vào tận phòng ngủ để giết. Bởi thế nên Ngọc Mai mới lo lắng sợ hãi. Vừa bước vào nhà thấy vợ vẫn bình an vô sự anh rất mừng. Nhưng Ngọc Mai đã túm lấy anh mà dồn đến một góc nhà vừa nói trong hơi thở gấp gáp:
- Anh leo lên trên tra (1) mà trốn ngay đi, lúc nãy có cậu Tâm Anh vào hỏi anh.
- Tâm Anh nào? Có phải Tâm Anh trong đoàn sinh viên Phật giáo quyết tử dạo nọ không?
- Đúng rồi, sau đó nó đi Việt Cộng, à quên..., nó đi giải phóng, bây giờ về, coi bộ rắn rỏi cứng cáp oai vệ lắm!...
Chưa để vợ dứt lời Vĩnh Tuấn đã leo tót lên tra. Hơi lúa nóng hừng hực quyện với mùi phân mèo hăng nồng nặc. Con mèo tam thể đang ngủ vùi trong góc tối, anh bò tới cạnh con mèo và nhanh chóng chiếm lấy chỗ bóng tối ấy. Anh bồng con mèo vuốt ve và sực nhìn lên chỗ tay đeo đồng hồ mới nhớ đồng hồ không còn nữa. Anh gọi vọng xuống nhà hỏi mấy giờ rồi, đúng lúc đó Anh Thi bắc thang bưng một khay thức ăn đồ uống leo lên. Ngọc Mai trao cho anh cái chăn với tấm drap trắng, cái gối thêu.
- Hai giờ chiều rồi – Ngọc Mai nói – Ủa vậy chớ đồng hồ máy ảnh, máy quay phim... của anh đâu hết rồi?
- Thôi đừng nói nữa! Còn cái mạng mà về được tới đây là tốt rồi – Vĩnh Tuấn nói – Ngọc Mai cũng lên đây với anh luôn để anh bàn tiếp công chuyện.
Ngọc Mai đứng ở lưng chừng thang nói:
- Để một mình cô Anh Thi và bé Ngọc Giao ở dưới này không tiện. Phải có em để có gì em còn ứng phó. Đàn ông vẫn sợ hơn chứ? Còn em, nếu họ muốn làm gì em thì họ đã làm rồi.
- Nhưng cậu Tâm Anh là chỗ quen biết cũ nó còn nương tay, chứ gặp phải người khác thì em tính sao? Lúc nãy Tâm Anh đến nó không nói gì em à?
- Không. Cậu ấy biết anh ở Sài Gòn mới ra. Em nói anh đi chưa về. Nghe xong cậu bỏ đi ngay.
- Bây giờ em tính sao?
- Còn tính sao nữa. Chuyến này mà thoát chết thì cả nhà sẽ chuyển vô Sài Gòn hết. Đóng cửa nhà cửa vườn lại. Phòng phủ thờ cũng đóng cửa, rồi nhờ bên Tôn Nhơn phủ để mắt trông qua...
Ngọc Mai, Anh Thi tụt xuống rồi vội vàng đem cất cái thang vừa xong thì nghe có tiếng bước chân vào cổng. Tâm Anh hiện ra ở ngưỡng cửa với ba lô, túi xách, súng đạn cồng kềnh.
- Nhờ chị gọi anh Vĩnh Tuấn trên tra xuống cho tôi gặp, ở chi trên cho ngột? Cách mạng có việc cho anh đây – Tâm Anh nói.
Nằm trên đống lúa Vĩnh Tuấn lắng nghe và lấy làm kinh ngạc. Chưa kịp để vợ con và em gái kịp có phản ứng gì, Vĩnh Tuấn đã ló mặt ra cửa tra:
- Tâm Anh đó à? Mình đây!
Nói xong Vĩnh Tuấn vin tay lên vỉ kèo lấy thế tìm điểm tựa rồi cả thân hình cao to dềnh dàng của anh nhanh nhẹn tụt xuống khéo léo và nhẹ bổng như một chú vượn con. Vĩnh Tuấn đứng giữa nhà, tay buông thõng, tay kia đưa lên vuốt mớ tóc xổ ra trước trán. Tâm Anh vịn hai tay lên vai Vĩnh Tuấn nắm chặt vào lắc lắc, vừa ngắm nghía Vĩnh Tuấn từ đầu tới chân rồi nở nụ cười tươi rói:
- Khá lắm! là trang nam nhi cách mạng về thì phải hăng hái tham gia chứ sao lại trốn trên tra?
Vĩnh Tuấn gượng cười chưa tìm ra câu trả lời thì Tâm Anh nói tiếp:
-... Anh không cần phải đi đâu xa, cứ ở tại địa bàn này thu thập tình hình rồi viết bài, viết tin sẽ có người đến lấy.
- Nhưng... các phương tiện hành nghề của mình đã bị các ông lấy mất hết rồi! Vĩnh Tuấn dè dặt phản ứng.
- Không lo, có đây. Tâm Anh buông rời đôi vai vạm vỡ của Vĩnh Tuấn rồi đến bên bộ trường kỷ đặt ba lô túi xách, súng đạn xuống nói – Anh em trẻ họ không biết, họ đưa các thứ của anh về. Nhìn thấy giấy tờ tùy thân của anh cấp trên liền trao nhiệm vụ cho tôi đem trả về hết cho anh, đồng thời giao việc cho anh luôn. Nói đoạn Tâm Anh mở ba lô kéo ra máy ảnh, máy quay phim, đồng hồ, bút, ví da trao cho Vĩnh Tuấn bảo – Anh kiểm tra lại tất cả xem có thiếu thứ gì không?
Vĩnh Tuấn cười rạng rỡ vừa "kiểm" bằng cách lật xem tấm thẻ ký giả và thẻ kiểm tra rồi nói:
- Thấy cái bộ dạng của mình qua các bức ảnh này chắc cấp trên của cậu ngứa mắt lắm nhỉ?
- Ờ thì... Cái bề ngoài, trời phú cho mỗi người một vẻ. Vĩnh Tuấn đút ví da vào túi quần nói:
- Dân Mác xít mà cũng nói "trời" vậy ta? Vĩnh Tuấn cười ha hả – Khi tớ bị gọi là "tên ác ôn" tớ hiểu ngay rằng cái vẻ bề ngoài của mình đã hại mình rồi!
- Coi vậy mà hiền khô hà! Vợ Vĩnh Tuấn nói vừa dọn lên bàn các loại bánh mứt trái cây mà Anh Thi và Ngọc Giao vừa mới mang ra.
Vợ chồng Vĩnh Tuấn không ngớt mời Tâm Anh thưởng thức những món do chính tay em gái Vĩnh Tuấn làm.
Tâm Anh nhón một thỏi mứt bí đao trong veo như ngọc đưa lên miệng cắn vừa nói:
- Anh viết bài xong đến đâu nhờ cô Anh Thi đánh máy ngay đến đấy cho nhanh.
- Nhưng nhà không có máy, máy chữ mình để trong Sài Gòn rồi.
- Tôi lo cho anh đây rồi – Nói đoạn Tâm Anh bước ra cửa xách vào chiếc va ly nhỏ đựng máy đánh chữ trao tận tay Vĩnh Tuấn.
Vĩnh Tuấn cười rơm rớm nước mắt.
- Như thế này là hiểu nhau lắm rồi. Tôi sẽ cố gắng hết mình.
Tâm Anh đi rồi, Vĩnh Tuấn hăm hở bắt tay ngay vào công việc. Anh viết bài báo phản ảnh không khí sáng mồng hai Tết tại cửa Thượng Tứ. Tinh thần hồ hởi phấn khởi của đồng bào Huế đón chào quân giải phóng, đặc biệt là giới trẻ. Buổi chiều khoảng 17 giờ bài báo vừa đánh máy xong ba bản liền có một anh lính trẻ đến lấy đem đi. Những ngày tiếp theo nhịp độ công việc mỗi lúc một tăng. Anh hăng say đi lấy tài liệu về rồi viết ngày viết đêm. Viết xong đọc cho vợ con và em gái nghe xong rồi Anh Thi và Vĩnh Tuấn thay phiên nhau đánh máy. Có thể nói đó là những ngày sôi động hào hứng và thú vị nhất của đời làm báo của anh. Anh làm để đáp lại tấm lòng của cách mạng thông qua Tâm Anh, anh làm vì ham vui, và trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức anh làm để gỡ tội một phần nào cho Ngọc Mai – Vợ anh. Tưởng là quân giải phóng sẽ ở lại luôn với dân, ai ngờ ngày thứ hai mươi lăm họ rút khỏi thành phố sau nhiều trận giao tranh quyết liệt với quân đội Sài Gòn và quân đội Mỹ. Đau lòng nhất là máy bay Mỹ ném bom loạn xạ làm chết nhiều thường dân và tàn phá nặng nề Hoàng cung Huế. Là hậu duệ của Hoàng gia Nguyễn Phước tộc chứng kiến những lâu đài cung điện vàng son nguy nga tráng lệ của cha ông để lại trong phút chốc biến thành những đống gạch đá đổ nát khói bụi tiêu điều – anh rất đau đớn và căm giận. Anh đã khóc. Giữa cái chung và cái riêng ngổn ngang trăm mối tơ vò ấy, anh thu xếp đưa cả nhà vô Sài Gòn như dự tính. Lâu nay anh sống với con trai lớn Ngọc Quỳnh đang theo học dự bị Đại học tại Sài Gòn, nay toàn gia đình quay về một chỗ cũng hay. Nào ngờ đến phút chót Công Huyền Tôn Nữ Anh Thi mới nói:
- Em không muốn đi. Em phải ở lại Huế để học cho xong cử nhân văn khoa.
- Vô Sài Gòn em vẫn tiếp tục học được kia mà. Có gì khó khăn về thủ tục thì đã có tướng Thiện.
- Anh thì lúc nào cũng tướng Thiện! Anh cứ vô trong mà sống với ông tướng của anh! Em phải ở lại Huế để còn trông coi nhà cửa phòng phủ chứ?
Về sau Vĩnh Tuấn mới biết những ngày qua Anh Thi đã được tổ chức đưa vào hoạt động bí mật trong phong trào sinh viên. Cô phải ở lại Huế là vì thế. Vừa vào đến Sài Gòn thì Vĩnh Tuấn bị bắt, và di lý trở ra Huế để lãnh án tù hai năm tại lao xá Thừa Phủ. Như đã có sự sắp đặt từ trước, Công Huyền Tôn Nữ Anh Thi giờ đây trở thành điểm tựa của anh. Cô đã chăm sóc thăm nuôi anh trai tận tình chu đáo, vừa động viện an ủi anh suốt thời gian anh bị tù đày. Ấy là có sự can thiệp của tướng Nguyễn Chí Thiện – Nhiều bạn bè của anh nói vậy – Nếu không thì anh sẽ còn ở tù mục xương vì tội tiếp tay cho cộng sản khi họ về chiếm đóng Huế xuân Mậu Thân 1968! Ngày Vĩnh Tuấn mãn hạn tù muốn trở vô Sài Gòn ngay để gặp vợ con, nhưng Anh Thi khuyên anh hãy khoan. Thấy có ý tứ lạ trong lời can ngăn này, anh dò hỏi mãi cuối cùng mới biết một sự thật kinh hoàng là Ngọc Mai đã dan díu với Tân – cậu em con bà cô ruột. Ngọc Mai sa đọa, loạn luân đến thế là cùng! Vĩnh Tuấn vào Sài Gòn thủ sẵn một con dao, định khử luôn cả hai đứa. Nhưng khi ngồi trên xe từ sân bay Tân Sơn Nhất về nhà anh chợt thay đổi ý định. Anh nghĩ mình vừa mới ra tù xong với danh nghĩa tù nhân chính trị, không lẽ bây giờ lại chui ngay vào nhà tù với tội danh giết người? Dẫu thế nào anh cũng phải giữ gìn cho cái thanh danh tù chính trị của anh chứ. Thôi mặc kệ con dâm phụ đó muốn làm gì thì làm, anh chỉ bắt hai đứa con đem về Huế nuôi riêng, hoặc là tống cổ ả ta ra khỏi nhà, không cho ở gần các con nữa! Vào đến nơi thấy Ngọc Mai bụng kềnh càng mệt mỏi đang chờ ngày sinh. Ngọc Giao và Ngọc Quỳnh mừng rỡ đón cha trong nước mắt. Ôm hai đứa con vào lòng Vĩnh Tuấn thấy cảnh nhà thật quá thê thảm! Khi nghe Vĩnh Tuấn nói phải đưa các con trở về Huế, cả Ngọc Giao và Ngọc Quỳnh đều băn khoăn lo lắng. Rằng chúng con đã quen trường quen lớp, quen thầy cô và chúng bạn rồi, nhất là Ngọc Quỳnh chỉ còn hai năm nữa thì tốt nghiệp. Ngọc Quỳnh nói:
- Ba ơi, con ra trường sẽ xin việc làm đỡ đần cho ba và nuôi em con học đến nơi đến chốn. Dẫu ở Sài Gòn hay ở Huế thì chúng con cũng đã xấu mặt rồi, chạy đi đâu cho thoát? Với lại mẹ con đã gần đến ngày sinh, cha con mình dọn ra Huế ở hết không lẽ để cậu Tân ngang nhiên đến lo toan chăm sóc mẹ nữa sao?
Nghe con nói phải Vĩnh Tuấn cùng các con đành ở lại Sài Gòn. Vĩnh Tuấn giờ không viết báo nữa mà làm người phát hành báo. Những sạp báo ở Huế và các tỉnh miền Trung đều bán giá ba đồng một tờ. Riêng các sạp do Vĩnh Tuấn làm đại lý chỉ bán hai đồng rưỡi. Vì vậy báo bán chạy lắm, thu nhập cũng khá, đủ để nuôi con. Được vậy là nhờ tướng Nguyễn Chí Thiện can thiệp cho anh được chở báo hàng ngày bằng máy bay miễn cước phí.
Đến ngày đến tháng Ngọc Mai đi bệnh viện sinh con.Anh được tin trên đường đi gửi phát hành báo từ sân bay trở về. Anh đến ngay bệnh viện, gặp Ngọc Mai, nàng nói rằng con đã chết. Vĩnh Tuấn phải lo thuốc men chăm sóc vợ sau khi sanh gần 3 tháng mới cho mó tay vào nhà. Nhưng giữa Ngọc Mai và các con luôn xảy ra xung đột. Đàn bà mâu thuẫn với chồng vẫn có thể gắng nhịn qua ngày được. Nhưng xung đột với con, bị con khinh rẻ ra mặt thì không sống nổi. Ngọc Mai về sau đề nghị ly hôn. Rồi một mình đi qua Mỹ dịp 30 – 4 –1975. Con cái dần trưởng thành không đứa nào chịu trở về Huế. Công Huyền Tôn Nữ Anh Thi đi du học ở Đông Âu về rồi xây dựng gia đình, sống ở nhà chồng. Phủ Vinh Quốc Phong cỏ mọc lút đầu, nhà cửa gần như bỏ hoang. Đám Hoàng phái ở đây kêu trời, nhất là chú em họ Vĩnh Bảo. Vĩnh Bảo liên tiếp gửi điện và thư vô Sài Gòn bảo anh phải về quê ngay để lo giữ bàn thờ cha ông, coi sóc vườn tược nhà cửa. Vĩnh Tuấn phải lo thu xếp để trở về quê. Phải mất cả năm mới ổn định được cửa nhà vườn tược. Những cây cau này mới được trồng từ dạo ấy mà nay đã cao lớn như thế. Từ một Hoàng thân, một nhà báo, lâu dần biến thành một người làm vườn thực thụ: nhổ cỏ, cuốc đất, đốn cành, trồng cây, chăm hoa, hái trái... Một hôm Vĩnh Tuấn làm lụng mệt đang duỗi chân ngồi nghỉ dưới bóng cây thì hoàng thân Vĩnh Bảo tới rủ đi chơi, vào quán bia ôm. Thói đời những thứ rượu chè thuốc phiện gái đẹp – khi đã qua một lần là cứ muốn lui tới gần gũi lần thứ hai thứ ba... Lâu ngày đâm nghiện, rồi dính với một cô rất trẻ, yểu điệu, mơ màng, rất đỗi quyến rũ! Giáng Tiên – tên người con gái. Quan hệ ngày càng khắng khít. Khi Giáng Tiên báo tin nàng mang thai Vĩnh Tuấn xin bảo lãnh đưa Giáng Tiên về nhà. Nàng sinh con gái. Vĩnh Tuấn làm khai sinh mang giòng họ của mình: Tôn Nữ Giáng Ngọc. khi Giáng Ngọc vừa được sáu tháng tuổi thì các con của Vĩnh Tuấn từ Sài Gòn ra thăm cha mới hay cơ sự. Ngọc Giao khóc sướt mướt, còn Ngọc Quỳnh thì kịch liệt phản đối:
- Ba có muốn lấy vợ thì kiếm một người cho tử tế. Hết mẹ làm xấu mặt chúng con thời chúng con còn nhỏ nay chúng con lớn lên lại chứng kiến cảnh ba đem gái cave về làm kế mẫu của chúng con!
Trước áp lực quá nặng nề của các con Vĩnh Tuấn đành phải chia tay với Giáng Tiên. Anh muốn xin bé Giáng Ngọc ở lại với mình, nhưng nàng không cho. Vĩnh Tuấn gom góp trong nhà có bao nhiêu tiền vàng gói lại một bọc trao cho nàng. Nàng bồng con đi biệt tăm đã mấy năm qua. Thời còn quan hệ với nhau những khi Vĩnh Tuấn hỏi thăm nhân thân quê quán Giáng Tiên nói ở Thuận Hải, khi thì nói ở Đà Lạt. Hỏi cha mẹ thì nói cha mẹ đã chết, lớn lên ở nhà người chú ruột. Nhiều lúc Vĩnh Tuấn cảm thấy cô đơn và nhớ bé Giáng Ngọc quay quắt, anh đánh bạo viết thư gửi về các địa chỉ nói trên, những bức thư đều bị gửi trả lại, vì không có người nhận. Đến lúc này Vĩnh Tuấn mới hiểu ra một điều là làm cái nghề như Giáng Tiên không cô nào nói đúng sự thật cả! Bỗng dưng trưa hôm qua Giáng Tiên bồng con trở lại tìm Vĩnh Tuấn. Bé Giáng Ngọc đã lên năm tuổi, xinh xắn và có nhiều nét giống Vĩnh Tuấn. Nhưng Giáng Tiên không phải chỉ trở về với bé Giáng Ngọc, mà cùng đi với Giáng Tiên còn có Tân đứa em con cô ruột của Ngọc Mai. Vì hiếm muộn đường con cái nên Tân đã cất công đi tìm đứa con mà dạo nọ Ngọc Mai nói đã chết – thực tế đứa bé vẫn còn sống. Qua bao manh mối dò tìm mãi Tân đã tìm ra đứa con đó chính là Giáng Tiên!
- Chị ơi, làm sao tôi sống nổi trong tình cảnh nầy?! Dẫu là con riêng của vợ, nhưng chính tôi cũng đã mắc tội một khi bản thân mình dây vào đứa con đó...
Lời của Vĩnh Tuấn như tiếng kêu đau thương thống thiết cất lên từ trái tim rỉ máu – cứ bùng nhùng vương vít mãi trong không gian xanh mướt bóng cau. Hương hoa cau giờ trở nên nồng nàn ngột ngạt. Tôi ngồi im lặng ngắm Vĩnh Tuấn – trong phút chốc người đàn ông trở nên già sọm, suy sụp, khác hẳn lúc tôi mới bước chân vào. Tôi cố nén xúc động lựa lời nói:
- Khi quan hệ với Giáng Tiên anh không hề biết nhân thân của cô, nên anh không có tội. Tội này là của Ngọc Mai vợ anh. Trong toàn bộ câu chuyện anh kể tôi thấy có một chi tiết rất hay, một suy nghĩ rất nghiêm chỉnh, một sự lựa chọn rất đúng đắn, đó là khi anh mới ra tù mang theo con dao từ quê nhà vô Sài Gòn định "khử cả hai đứa", nhưng anh đã kịp thời dừng lại, không làm điều đó, vì sợ hoen ố cái thanh danh tù chính trị của anh. Giá như từ đó về sau ở đâu và làm bất cứ việc gì anh cũng luôn nhớ cái thanh danh kia. Như anh đã từng nói, anh có những ngày sôi động hào hứng và thú vị nhất của đời làm báo – là dịp anh tham gia công tác trong tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968. Theo tôi, anh nên cộng thêm hai năm tù chính trị của anh vào với hai mươi lăm ngày đêm sôi động hào hứng thú vị kia. Chặng đường đời ấy của anh sáng đẹp và hào hùng như một bài ca tuyệt vời về tình yêu quê hương đất nước, mà cái vĩ thanh của nó còn tiếp tục ngân mãi, là khi anh dập tắt ý định trừ khử kẻ tình địch và kẻ bội tình để bảo toàn cái thanh danh tù chính trị của anh. Rất tiếc vĩ thanh kia đã có lúc bị lịm tắt trong anh, đó là những lúc anh lui tới chỗ quán rượu, hộp đêm, dan díu với những người đàn bà buôn hương bán phấn... Nhưng dẫu sao vẫn còn may là anh nghe lời các con mà không tiếp tục chung sống với Giáng Tiên, và may mắn hơn hết là giữa Giáng Tiên và anh không hề có liên hệ huyết thống gì, bé Giáng Ngọc nhờ thế mà về mặt sinh học chắc sẽ phát triển bình thường.
- Suốt đời tôi ít khi có được sự may mắn – Vĩnh Tuấn nói chậm, giọng khàn – giờ đây lại lâm và một tình huống hết sức bi đát, vậy mà vừa rồi chị đã dẫn ra đến hai lần may mắn, chị lại còn nói sự lựa chọn của tôi trước đây là đúng đắn và nghiêm chỉnh. Cám ơn chị! Hóa ra tôi vẫn còn niềm tin, niềm an ủi để có thể tiếp tục sống.
Vĩnh Tuấn nói vừa dứt lời thì từ nhà trong một bé gái xinh xắn trong chiếc áo đầm trắng chạy ra sà vào lòng Vĩnh Tuấn:
- Ba! Ba!... Đứa bé nũng nịu gọi.
Vĩnh Tuấn xốc nách cô bé đứng dậy bảo:
- Con chào cô đi!
Cô bé ngoan ngoãn vòng tay cúi đầu:
- Cháu chào cô ạ – rồi quay lại dúi đầu vào ngực Vĩnh Tuấn, dang rộng hai cánh tay bụ bẫm nhỏ xinh ôm xoác thân hình Vĩnh Tuấn, mớ tóc ngắn mềm vung vãi trên chiếc cổ đầy những lông tơ.
- Đây là bé Giáng Ngọc – Vĩnh Tuấn nói. Giáng Ngọc thương ba lắm, gặp ba là quấn quýt theo ba, không chịu rời ba ra nữa.
Tôi hỏi:
- Mẹ cháu đâu rồi?
- Cô hỏi kìa, con trả lời đi! Vĩnh Tuấn giục.
Cô bé vẫn giữ nguyên tư thế ôm xoác thân hình ba, chỉ hơi ngẩng đầu ngửa mặt lên trả lời:
- Dạ mẹ cháu đi với ông Tân mua vé vô Sài Gòn.
- Cháu có đi Sài Gòn với mẹ không? Tôi hỏi:
- Dạ cháu ở với ba – Cô bé đáp.
Vĩnh Tuấn nói:
- Thực lòng Giáng Tiên không muốn xa con, nhưng đây là quyết định của Tân mà tôi cho là khá hợp lý, và tôi cũng không mong gì hơn. Tân muốn gây dựng lại cuộc đời cho Giáng Tiên...
- Dũng cảm, bình tĩnh nhìn vào sự thật để cùng bàn bạc và có quyết định đúng đắn như vậy là tốt – Tôi nói khi chào tạm biệt Vĩnh Tuấn – Nếu tôi phải vẽ lúc này thì không chỉ vẽ nỗi đau mà còn có cả niềm hạnh phúc nữa. Nhưng trước hết tôi sẽ vẽ cái vĩ thanh mà lúc nãy tôi đã đề cập, vĩ thanh màu hồng phấn...
Trại sáng tác Phú Thuận, 7.9.2002
H.K.L
(nguồn: TCSH số 164 - 10 - 2002)
------------
(1) Lẫm đựng lúa

Các bài mới
Đưa đò (05/09/2008)
Các bài đã đăng