Tạp chí Sông Hương - Số 140 (tháng 10)
Viết từ Hà Nội
08:44 | 25/05/2010
PHONG LÊTrên các chuyến tàu xuyên Việt, từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh tôi thường xiết bao bồi hồi khi qua mảnh đất miền Trung quê tôi - xứ nghèo Nghệ Tĩnh, khô khát nắng hạn và gió Lào.
Viết từ Hà Nội
Hà Nội 36 phố phường - Ảnh: tntp.org.vn
Ngót 40 năm ở Hà Nội, đã thành một công dân Hà Nội, thế mà mỗi lần về quê, hoặc đi qua đất quê, tôi vẫn chẳng bao giờ hết bùi ngùi vì cảnh quan quen thuộc của một giải đất nghèo lướt qua bên ngoài cửa sổ con tàu. Đó là những lũy tre, những hàng dương xơ xác, vàng vọt vì nắng gió. Là những cánh đồng nứt nẻ chân chim. Là những cồn cát chói chang đến lóa mắt. Một bên là núi xanh mờ, một bên là biển trải dài, con người vật lộn với đất đai vẫn chỉ bằng con trâu và cái cày như hàng ngàn năm cha ông vẫn thế. Nhịp sống chậm chập và manh mún sau bước đi nhọc nhằn của con trâu. Thời gian như ngưng lại không phải hàng chục, hàng trăm năm, mà hàng ngàn năm, có lẽ!

Sự liên tưởng đưa tôi về những kỷ niệm đầy ấn tượng hơn 20 năm về trước, khi tôi được sang Berlin - nơi xa nhất, và được xem là có mức sống cao nhất trong phe xã hội chủ nghĩa cũ. Từ Berlin tôi đã có dịp hành trình ngược lên Binz và xuôi về Sonnerberg, không còn nhận ra đâu là làng quê, đâu là thành thị, vì hình như đâu cũng là thành thị, với ánh điện sáng trung; với ô tô nhộn nhịp trên khắp các mặt đường dọc ngang rộng rãi, bóng loáng; với các loại máy cày bừa tưới tiêu trên những cánh đồng lúa mì, khoai tây nhìn đến hút mắt và rất vắng bóng người. Còn ở quê tôi, biết đến bao giờ mới hết hình ảnh về con trâu và cái cày? Thế nhưng, lạ lùng sao, Việt Nam trong thập niên cuối thế kỷ này lại đang trở thành nước xuất khẩu gạo vào những hàng đầu ở Đông Nam Á; sau cái đói hai triệu người chết năm 1945, bây giờ thật sự đã được biết đến cái no; và sau các lũy tre xanh âm thầm ở phía xa kia rất nhiều nơi đã có điện, nông dân đã được nghe radio, xem tivi; trên các đường làng không chỉ có xe đạp mà đã có xe máy cho con người đi nhanh và đi xa hơn trên các mục tiêu của sự mưu sinh và mở rộng các giới hạn của giao lưu và hiểu biết.

Ngôi nhà cao tầng đầu tiên làm tôi choáng ngợp - đó là Hotel Stad Berlin, vào năm 1972, trong chuyến xuất ngoại đầu tiên của tôi. Quen với tầm nhìn những ngôi nhà cấp bốn và các chung cư có tầm cao phổ biến là năm tầng như Kim Liên, Giảng Võ, Nguyễn Công Trứ, Thành Công, mãi đến đầu năm 1960 mới có, lần đầu tiên tôi phải ngẩng cao đầu và ngửa hẳn mặt lên mới thấy được cái biển đề tên khách sạn. Lần đầu tiên tôi được đi thang máy và biết đến cái thăm thẳm của các hành lang khách sạn. Tôi bỡ ngỡ trước các khoảng rộng và độ cao mà Hà Nội của tôi lúc bấy giờ còn chưa có: khoảng rộng của Alexander Platz đông chật người qua lại, và độ cao của Hotel Stad Berlin cùng tháp truyền hình kề cạnh. Ở phía bên này quê hương còn trong khói lửa chiến tranh và sự nghèo nàn, tôi đang đi đến sự bình yên và no đủ. Nhưng trong tấp nập của người và các loại tàu xe ở Berlin lúc ấy tôi cảm thấy vẫn chưa thể có bình yên trong no đủ. Bởi biết thế nào là no đủ khi sự chạy đuổi theo các mục tiêu của đời sống vật chất ở con người dường như là vô cũng, khi sự so sánh Đông Tây (Đông Đức- Tây Đức, Đông Berlin - Tây Berlin) luôn luôn là câu chuyện ở đầu cửa miệng. Và bình yên cũng làm sao có được trong tình thế phân cách và chiến tranh lạnh giữa hai phe trên thế giới- được biểu trưng và trong ám ảnh bởi bức tường Berlin, trong đấu tranh ý thức hệ và trên sự phân cách Đông - Tây.

Kể từ năm 1972 khi Hà Nội còn phải chịu đựng những cuộc rải thảm của B52, tôi bắt đầu được làm quen với các khoảng rộng và độ cao, để rồi vào cuối những năm 80 và đầu 90, hết dần sự bỡ ngỡ khi đến Mạc Tư Khoa, Bangkok, Séoul, Washington, Bắc Kinh, Thượng Hải. Những khách sạn và trụ sở các công ty xen với các chung cư trên 20 tầng san sát ở Bắc Kinh và Séoul, khu xây dựng mới ở Phủ Đông Thượng Hải với ngôi nhà 88 tầng; những nhà chọc trời nhấp nhô ở Nữu Ước mà tôi đã được nhìn dưới cánh bay trên đường đến Washington D.C vào thánh 4-1997, không còn làm tôi ngạc nhiên nữa.

Hành trình đi tới các khoảng rộng và độ cao mấy năm nay cũng đang khẩn trương diễn ra ở Hà Nội. Chỉ dăm năm thôi mà liên tiếp nhiều khách sạn lớn ra đời, trên đường Hai Bà Trưng, Ngọc Khánh, Cát Linh, Láng Hạ, Giảng Võ... Đại sứ quán Mỹ trên đường Láng Hạ không còn ngất ngưởng trong cô đơn như trước vì xung quanh đã san sát những khách sạn không chịu thua về độ cao với các biển đề cho thuê. Nơi ngót mười năm trước là đồng hoang và bãi rác, vào ban đêm hoặc mỗi lúc mưa xuống ếch nhái kêu râm ran, gợi thức bao kỷ niệm về những làng quê xa xưa trong ký vãng nay đang thành một khu ở mới với đường sá quang rộng, tấp nập người- xe và san sát các nhà cao tầng.

Chưa thể so với Bắc Kinh, Séoul, càng chưa thể so với các thành phố Phương Tây, nhưng Hà Nội, trong thập niên cuối thế kỷ này, đã thay hình đổi dạng đến mức khó mà nhận lại gương mặt cũ, Hà Nội rõ ràng đang hướng tới một mô hình chung của quá trình đô thị hóa.

Nhưng đó là chuyện Hà Nội ở vòng ngoài. Còn vòng trong, nơi trung tâm, nơi tập trung 36 phố phường, nơi của các phố cổ, thì vẫn là những con đường chật với các ngõ, các hẻm, và chen chúc các chung cư cũ kỹ có tuổi thọ hàng trăm năm. Nơi phải cấm các loại xe cộ mới đủ lối cho con người ra vào. Nơi các hành lang, các lối đi giữa ban ngày cũng phải thắp đèn. Nơi mỗi bước đi cũng phải vịn tay nhau và rón rén để không gây tiếng động trên các cầu thanh gỗ ọp ẹp. Phải cải tạo các phố cũ, hoặc giữ nguyên các phố cũ như một chứng tích của thời xưa, của quá khứ nghìn năm là cả một câu chuyện dài còn đương trong tranh luận.

Vừa mới đây, vào giữa tháng 9 năm ngoài bỗng xẩy ra chuyện rác ùn lại mấy ngày trên các đường phố Hà Nội, không chuyển đi được vì sự quá tải của nơi chứa; còn ở Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay thì có chuyện vỡ đê bao núi rác ở Hóc Môn - chỉ riêng chuyện đó cũng đủ thấy đất nước trong quá trình đô thị hóa còn bao nhiêu việc phải làm cho một hiện tại và tương lai văn minh, sạch đẹp.

Hà Nội quanh năm đều đẹp. Nhưng mùa thu bao giờ cũng có một sức hấp dẫn riêng trong giao chuyển giữa rực rỡ và thất thường của mùa hè sang trầm lặng và hiu quạnh của mùa đông. Mùa thu thường là mùa của hạnh phúc lứa đôi, mùa của hồi nhớ và kỷ niệm. Những bản nhạc và bài thơ hay nhất về quê hương ở Việt Nam thường chọn mùa thu làm bối cảnh. Tôi thường đem theo cảm xúc thu Hà Nội trong các chuyến đi xa, và những tưởng chỉ mùa thu quê hương mới là đẹp.

Nhưng tôi đã xiết bao ngây ngất và ngẩn ngơ trước mùa thu vàng ở Mạc Tư Khoa. Cũng màu vàng ấy, tôi lại được gặp vào tháng 10 năm 1995 ở chùa Long Môn ngoại ô Séoul. Tôi lại đã được hưởng cái thời tiết dịu dàng mùa thu Bắc Kinh và những khoảng trời cao trong của Thượng Hải vào cuối tháng 9 năm kia.

Tháng Tư năm 1997 tôi bất ngờ được thừa hưởng một sắc xuân tràn ngập màu xanh trong ánh vàng nơi vườn hoa Arlingtơn ở Washington. Còn ở Đức thì dẫu có câu phương ngôn “Tháng Tư - không biết ngươi muốn gì?”, tôi vẫn rất vui thích với tuyết trắng và ánh vàng rực rỡ thất thường của mưa nắng trong chuyển mùa của tháng Tư 1978 Berlin.

Thiên nhiên, trên đất nước trải dài ngót hàng ngàn cây số của quê hương Việt Nam và trên thế giới, những nơi tôi được ghé qua, nơi đâu tôi thấy cũng đẹp. Quả đất của chúng ta là cả một vườn hoa và hoa nào cũng đẹp. Và nói hoa là nói mùi hương. Thế nhưng cùng với thời gian, có nhạt đi mùi hương và sắc hoa. Năm 1978, dạo trên bờ sông Prê ở Berlin, tôi thẫn thờ một nỗi nhớ nhà khi nhìn ven bờ và trên sông hàng đàn ngỗng lớn chen chúc bơi hoặc chậm chạp đi, không chút sợ người. Không biết bây giờ trở lại Berlin có còn được thấy những đàn ngỗng không sợ người ấy trên sông Prê nữa không? Nhiều chục năm trước đây trên các cánh đồng quê tôi, còn rợp cánh cò trắng. Bây giờ thì những cánh cò trắng quê tôi đã vào sâu trong thế giới kỷ niệm, và chỉ còn lưu luyến trong ca dao. Tháng 9 năm kia, thấy ven bờ con sông nhỏ gần Di Hòa Viên ở Bắc Kinh có người ngồi câu cá mà mừng. Hà Nội có hai con sông nhỏ có cái tên rất đẹp là Tô Lịch và Kim Ngưu, chảy ven ngoài thành phố, cả hai từ lâu đã trở thành những con sông chết, nước đen ngòm, mỗi lúc đến gần đều phải nín thở hoặc bịt mũi thật chặt rồi bước cho nhanh. Không hiểu dân cư sống chen chúc hai bên bờ họ chịu đựng thế nào? Ai đến Thượng Hải mà không biết đến ban đêm Thượng Hải thì coi như chưa đến Thượng Hải. Tôi đã đi trên cầu và đứng trên bờ sông Hoàng Phố ban đêm mà nhìn Thượng Hải rực rỡ như cả một trời sao. Nhưng nhìn xuống mặt sông lấp lánh ánh điện phản chiếu, lại thấy trôi dạt không ít rác rưởi, và dẫu với độ sâu, mùi xú uế vẫn không ngừng len lỏi đến với từng người. Giá như không có nó thì cuộc dạo ban đêm sẽ trọn vẹn biết bao!

Cũng chỉ dăm năm nay mới thấy xuất hiện khá đông những chợ lao động, chợ người ở khu Giảng Võ và các ngoại ô. Chợ người - nghe như chuyện của thời nô lệ! Chợ người - chuyện thật xa lạ trong mấy chục năm xây dựng chủ nghĩa xã hội! Đời sống đô thị cần rất nhiều dịch vụ nên dòng người di chuyển từ các vùng nông thôn lân cận và các tỉnh xa ra Hà Nội kiếm việc làm vẫn đang theo thời gian mà tăng lên. Dẫu với bất cứ việc làm nào ở Hà Nội, dẫu là thứ lao động nặng nhọc đến mấy, vẫn cứ là hơn ở quê, đất chật người đông, ngay giữa mùa màng mà vẫn không có đủ việc làm. Cũng thấy đông dần lên lớp trẻ con bán báo, đánh giầy. Vậy là sau mấy chục năm cả dân tộc đi chân trần hoặc đi dép cao su nay đã có nhiều người đi giầy, và là loại giầy ngoại sang trọng cần đến sự bóng loáng, khiến cho đám trẻ con từ khắp các tỉnh quê có đứa đã có thể kiếm đủ sống, có đứa còn khoe là còn gửi được ít tiền về giúp gia đình vào những dịp giỗ chạp. Cố nhiên đó chỉ là một tỷ lệ rất nhỏ trong số trẻ có may mắn, và tuyệt không đáng kể trong số trẻ lang thang cơ nhỡ ở khắp các thành thị. Sự phân biệt, rồi cách bức và đối lập giữa nông thôn và thành thị tưởng là xóa được trong và sau chiến tranh bỗng lại đang diễn ra, đi kèm với sự phân tầng giàu nghèo, một số người đang giàu ú lên, do giỏi kinh doanh tính toán, hoặc giỏi đục khóet, gian lận, và người nghèo thì nghèo đến khốn khổ. Có người ăn tiêu bạc triệu cho mỗi bữa tiệc, mỗi cuộc chơi; có người cật lực mỗi ngày không kiếm nổi mươi nghìn đồng. Tình thương, lòng trắc ẩn, nỗi đau đồng loại dường như có sút đi bên cạnh các tổ chức từ thiện của xã hội và tư nhân lại mọc lên đủ loại.

Xuất hiện những khái niệm mới cho môn địa lý: đó là các vùng xa, vùng sâu; xa sâu tính theo khoảng cách với thành thị. Lấy đô thị làm trung tâm thì bán kính càng xa, sự nghèo khổ càng tăng lên. Xa sâu gắn với định danh heo hút, nghèo khổ, thất học đang là nơi cần biết bao sự quan tâm và giúp đỡ. Một thời dài trong các chủ trương kinh tế và xã hội, chúng ta tưởng đã xua đuổi được sự nghèo khổ, nhưng đuổi được nó ra cửa trước lại rước nó vào cửa sau. Cùng với sự nghèo khổ là bao tệ nạn xã hội: mãi dâm, buôn bán ma túy, trộm cắp, giết người... dường như dồn dập hơn vào cuối thế kỷ. Tôi hiểu: đó không hề là bóng đen của quá khứ, mà là vết nhơ của chính hiện tại, là cái sinh ra từ hiện tại. Vậy là cuộc sống chẳng bao giờ hết các vấn đề cho con người đối mặt; cuộc sống luôn luôn hướng theo hai cực: ánh sáng và bóng tối, no đủ và thiếu thốn, bình yên và hiểm họa, hạnh phúc và âu lo... Sự phân cách giữa hai vế đó tuyệt không phải là sự phân cách giữa tương lai và quá khứ. Cái cũ, cái xấu không phải tất cả đều là sản phẩm của quá khứ, có cái cũ mà không xấu; và cái mới, cái hay không phải là độc quyền của tương lai, có cái mới mà lại không hay - nếu như hiện tại không có một chuẩn bị tích cực cho nó.

P.L
(140/10-00)



Các bài mới
Hương trăng (27/05/2010)
Các bài đã đăng
Ngày mai (24/05/2010)