Tạp chí Sông Hương - Số Đặc Biệt (T.3-26)
Trần Nhật Minh - Thơ như một cuộc du chơi
08:39 | 07/04/2026

PHÙNG GIA THẾ

1.
Vào cái tầm chập chững 50, việc chơi với ai, bạn với ai, có lẽ phần nhiều do nhân duyên cả. Cảm giác không bận tâm đến việc mình cần thêm bạn khiến người ta tự nhắc, hay tự rào giậu lòng mình, tự bằng lòng, hoặc đành lòng với những người đã có, và đang có.

Trần Nhật Minh - Thơ như một cuộc du chơi
Nhà thơ Trần Nhật Minh và một số tác phẩm của mình - Ảnh: tư liệu

Và như thế, trong cuộc buồn vui, không thêm ai nữa cũng chẳng sao. Tôi với Trần Nhật Minh là như vậy. Không hiểu sao, cảm giác đầu tiên về hình ảnh Nhật Minh trên Facebook không gần gụi chút nào. Tôi thấy Minh có chút gì dửng dưng, xa cách. Một nhà báo, nghệ sĩ, một ông quan văn nghệ, hay một “ta người phố cổ” thì như thế, phải vậy chăng? Thôi thì đành...

Nhưng mọi chuyện vẫn là một chữ duyên.

Nhớ lần đầu ngồi cùng Minh bên hồ Đại Lải (tại nhà anh Nguyễn Tiến Thanh), anh là người chủ động nói chuyện với tôi. Bữa đó xung quanh tôi rất nhiều “người lạ”, và nổi tiếng. Có lẽ, đoán tôi có chút ngại ngần [chính xác là ngại làm quen], Minh quay sang, cất một giọng trầm. Anh em biết nhau cả. Mà hình như tôi với ông chưa kết bạn phây... Tóm lại, giờ cứ nhìn phây búc, thấy có khoảng chục bạn chung là ngồi nhậu được rồi. Sau này, Minh nói lại, khi thấy giới thiệu tôi là thầy giáo, anh ngại ngần không biết tôi có trụ được với những cuộc thâu đêm như thế này không.

Cuộc vui lên, anh chia tôi điếu thuốc hút cùng. “Khói lửa”, men nồng, sự cộng cảm khiến chúng tôi mất dần khoảng cách. Rồi hẹn. Tôi về Hà Nội, ghé Đài chơi. Anh tặng Miền sau cánh cửa. Có lần, đèo tôi trên xe máy, Minh nói: Bọn tôi làm báo nói, nó đặc thù, nếu không để ý in ra thì theo gió bay mất hết. Ý thức như vậy, nên Minh đã gom bài, chọn lọc in hai cuốn tản văn. Có thể gọi là tùy bút, tản văn. Nhật Minh không làm dáng ngôn từ. Cái viết của anh bắt nguồn từ sự thành thực trong câu chuyện và cảm xúc. Minh thường viết ngắn, theo lối phác họa, di nhòe, kiểu ấn tượng. Đọc tản văn của Minh mới thấy, đằng sau dáng vẻ xù xì gai góc, tóc râu trầm mặc, là một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, thẳm sâu.

Làm việc tại Ban Văn nghệ, Minh quen biết, giao du với nhiều nghệ sĩ. Điều này phần do công việc, phần do anh thích giao du. Sau này tôi mới thấy, Minh không chơi thì thôi, đã chơi thì luôn hết lòng với bạn. Tôi ở xa Hà Nội (điều mà tôi luôn cho đấy là một điều may), thỉnh thoảng hẹn hò anh và nhóm, khi Hà Nội, khi nhà tôi ở Xuân Hòa, khi nhà anh Tiến Thanh gần hồ Đại Lải. Về Hà Nội, chúng tôi thường nhâm nhi tại một quán quen, nơi anh em đùa vui là “Trung tâm văn hóa 10 Quyền”. Tôi thầm phục chủ quán và nhân viên ở đây đã chịu đựng được một đám văn nghệ sĩ, ăn chẳng bao nhiêu, đàn hát thì xuyên chiều, xuyên tối. Thế là, bản thảo, in ấn, ký họa, chân dung, “ra mắt”, tóm lại, mọi sinh hoạt văn nghệ, theo một cách riêng, đều diễn ra ở đấy... Về sau, quán vướng mặt bằng, phải chuyển sang 18 Nguyễn Gia Thiều. Nhóm lại sang hành tiếp. Thế là Phạm Duy, Từ Công Phụng, Nguyễn Văn Đông, hết bô-lê-rô rồi Trịnh. Chiều “ngõ vắng xôn xao”, đêm “phố núi cao”, khuya lại cùng nhau “lắng nghe thành phố thở”... Cả bọn đùa nhau, “thanh lọc” là đây chứ đâu. Ở đây, buồn vui thật lòng, chả cần phải kính thưa kính gửi. Có lần, Nhật Minh bày ra cuộc sinh nhật tôi ở Hà Nội rồi “mời ông bà giáo xuống”. Tôi xúc động bởi sự quan tâm của anh, về một “kẻ ở miền xa”...

Minh là kẻ ham vui. Có lẽ ham vui nhất nhì Hà Nội bây giờ. Minh thích ngồi “đu đưa” với bạn văn, với những người anh yêu quý. Anh không nghiện rượu, mà nghiện không khí bạn bè. Có lúc anh em bảo nhậu ít thôi, còn giữ gìn sức khỏe. Minh nói tầm này nên tụ tập vui, vài tuổi nữa, lẩm cẩm, chán chết...

Minh biết nhiều, liên tưởng rộng, đúng vai trò một “tổng kho văn nghệ”. Anh thường có những nhận xét sắc và tinh về cách dùng chữ nghĩa của các nhà thơ. Khi say rượu, Minh thường mang ca từ các bài hát ra sửa. Tất nhiên, là để vui rồi...

Bạn văn của Nhật Minh đa dạng. Có người chơi vì công việc, có người chơi vì quý bạn. Vì công việc, Minh hy sinh cũng nhiều. Kinh phí làm báo hạn hẹp, chi khách mời văn nghệ chẳng là bao. Mọi người vì yêu văn, quý nhau mà đến. Xong việc, lại ngồi. Mà Đài thì chẳng có khoản mục nào chi cho nhậu cả. Anh em phải co kéo để vui cùng. Thế mà Minh lúc nào cũng trọn vẹn cuộc chơi. Tôi đùa, Nhật Minh là tay có căn bè bạn. Chơi với Minh, tôi thấy, khác với phổ thông văn nghệ, Minh chỉ nói tốt về bạn, không bao giờ tự tán dương mình. Anh cũng thuộc số ít người tránh xa được cái danh hão văn chương. Cái gì không thích, không muốn, Minh cũng không bao giờ đả kích bạn bè.

Là Trưởng ban, anh cùng cộng sự tổ chức tốt các chương trình văn nghệ trên VOV6. Đối thoại mở. Chân dung văn nghệ. Đôi bạn văn chương. Hội thảo, tọa đàm về các văn nghệ sĩ. Giới thiệu sách của các nhà văn uy tín. Kết nối các không gian văn nghệ vốn dĩ cách xa nhau. Tôi đùa, hòa hợp dân tộc là đây chứ đâu. Nói thế chứ việc này đâu dễ. Nếu không có phẩm tính nghệ sĩ, lòng không đủ rộng, tâm không đủ tốt sao làm được điều này.

2.

Trong văn nghệ, Nhật Minh là người đa năng. Anh viết tản văn, bút ký, vẽ, làm thơ, mỗi thứ một chút. Nhưng Nhật Minh không viết, vẽ để thành “nhà”, mà chỉ như một cách chơi. Tản văn Trần Nhật Minh đẹp, tinh tế, phảng phất buồn, đôi khi tựa hồ tiếng chuông trong gió thoảng. Dường như luôn có một người trần thuật với “tâm hồn nức nở”, thính nhạy lắng nghe, luôn mang mang tiếc thương ngày tháng cũ, tiếc thương cái đẹp rạn vỡ bởi thời gian.

Ngoài việc chủ tâm vào ký ức, hoài niệm, Minh viết nhiều về những con người thầm lặng (nơi góc xa ánh đèn sân khấu hay góc khuất cuộc đời). Anh cũng phác dựng tinh tế chân dung những bạn văn mà anh yêu quý: Nguyễn Tiến Thanh, Lê Anh Hoài, Trần Thắng, Đỗ Anh Vũ...

Trần Nhật Minh xa lạ với lối văn chương kỹ thuật. Tản văn anh chạm sâu vào trái tim và câu chuyện tâm thức của nhiều người. Thế nên, đọc văn Nhật Minh, vừa thấy ấm áp, bâng khuâng, phiêu lãng, vừa đâu đó lại nhói lên nỗi xót xa về những khuất khúc phận người.

Trần Nhật Minh là người ưa đi nhịp chậm. Ở đâu, anh cũng chăm chú vớt nhặt kỷ niệm, vớt nhặt những niềm vui bé nhỏ của cuộc đời. Nhìn người, Minh ngó vào nơi góc khuất. Nhìn đời, Minh chọn miền sau cánh cửa. Văn Nhật Minh khiêm cung, nhưng luôn có nét kiêu ngầm...

Nhật Minh ít làm thơ nhưng anh chưa bao giờ bỏ thơ. Với Minh, thơ là thể cách riêng để nói lên những ẩn mật tâm hồn, nhưng cũng là một cuộc tình tay ngang. Nhật Minh viết không nhiều, nhưng với thơ, anh đã thiết tạo nên một hệ sinh thái tâm hồn của một người xưa bóng cũ, phảng phất lãng mạn cổ điển. Thơ Minh không kỹ thuật, mà nảy ra bởi dòng suy cảm tự nhiên. Và bởi tự nhiên, cho nên, trước hết, nó đậm về xúc cảm. Dễ nhận ra, chủ thể trữ tình xuyên suốt trong thơ anh là chàng trai lãng mạn, đa cảm, đa mang: “Tôi như lạc mùa/ xa xăm trở lại/ những tháng thật xưa/ những ngày thật cũ/ tìm xác/ cơn mưa/ khô theo lá rũ/ bức tường còn nguyên/ bóng người tan tác/ môi hồng còn duyên/ nụ cười đã nhạt” (Lạc mùa); “Những đồ đạc ngẩn ngơ ký ức/ Xếp lại làm sao phút ban đầu/ Trang giấy thở bài thơ còn thắm mực/ Hành lý gió sương vệt bụi ga tàu/ Khi trở lại vẫn còn nguyên mùi cũ/ Ta chả có gì chỉ ký ức mang theo/ Những đồ đạc đơn sơ của tháng năm nghèo/ Tiếng hát mãi xanh lá cây buồn héo/ Trên đất cằn cỏ úa im reo” (Ký ức).

Thơ Nhật Minh là sự hiện hữu những khoảnh khắc thầm kín của tâm trạng. Chủ thể trữ tình trong thơ anh, do thế, luôn mang mang vơi đầy nỗi nhớ niềm thương: “Tôi lớn lên hàng cây đã xanh rồi/ Lá vẫy gọi ngàn trùng trong tiếng gió/ Khẽ thì thầm giọng người yêu bé nhỏ/ Kể tôi nghe bí mật những con đường…/ Giờ những hàng cây đổ gục chỗ tôi ngồi/ Bao xác lá dội về như ký ức/ Lại như thuở bên cỏ chiều thổn thức/ Phố ngẩn ngơ hoang vắng gọi xanh về…” (Gọi xanh về).

Ở đó, sự giày vò của thời gian không làm nhạt phai cái nhìn lãng mạn của chàng trai văn khoa tuổi đôi mươi năm nào: “Qua ô cửa/ Tôi chạm vào mùa đông rét mướt/ Những giọt mưa run rẩy/ Đậu lên phím tay em/ Từng thanh âm trầm/ Qua từng ngón nhỏ/ Từng lá rơi thầm/ Nghiêng qua chiều gió/ Qua ô cửa lạnh/ Bóng em soi/ Gương mặt tôi năm tháng...” (Ô cửa mùa đông).

Thơ Minh là thơ của kỷ niệm và hoài niệm. Đằng sau con chữ, dường như luôn có một chủ thể trữ tình - kẻ mắc nợ ân tình với ngày xưa tháng cũ: “Nợ mãi phù sa những điệu hò/ nợ dòng kênh nhỏ những câu thơ/ nợ đêm trăng muộn thuyền ghé bến/ và nợ lòng em nỗi đợi chờ” (Thư miền Tây); “Hơi người/ Náu góc bếp xưa/ Ấm một vùng lửa đỏ/ Ngọn khói đói lưa thưa/ Níu bờ tường sạm gió” (Bếp xưa).

Thơ Minh là thơ cảm xúc, nhưng đồng thời cũng là thơ suy cảm. Có thể nhận ra, có một hình tượng tác giả xuyên suốt các bài thơ của anh là kiểu người ưa quan sát, suy tư. Một cách tự nhiên, thơ anh bật ra từ những suy tư thế sự: “Kìa những con mắt cá/ Mở trừng hướng biển khơi/ Cá khóc nước mắt đắng/ Trên bờ đau nghẹn lời/ Kìa những linh hồn cá/ Oán hờn giữa biển sâu/ Cá khóc đại dương đói/ Giữa chớp giông nguyện cầu/ Kìa bạc đời như cá/ Xác vùi trong cát nghèo/ Kiếp này rồi kiếp khác/ Hồn nhằm cột buồm treo...” (Nước mắt cá); “Gắng gỏi dìu nhau qua mùa Covid/ Anh hôn em qua chiếc khẩu trang dày/ Nghe tình dậy trong mùi cồn hương sả/ Ta cách ly trả nợ kiếp lưu đày...” (Thơ tình mùa dịch); hay những cảm niệm đậm chất triết lý nhân sinh: “Sau ngày ồn bụi bặm/ Mấy thước vuông/ Thinh lặng/ Người về/ Hẹn vài/ giấc mơ/ Chuyện trò nhung nhớ/ Khóc khóc cười cười/ Trước đó/ Chiều buông/ Mấy thước vuông/ Một lũ tìm vui/ Bạn cùng men đắng/ Đêm suông/ Mấy thước vuông/ Gối chăn kể chuyện/ Người xõa tóc thơm/ Bên trời lưu luyến/ Sớm mai/ Người chợt về đâu/ Nắng lạnh mấy thước vuông/ Hiu hiu lời cười khóc/ Đây đó/ Nơi này chỗ khác/ Loanh quanh/ Mấy thước vuông/ Bạc phơ vùng mây rối/ Những góc nghĩ không thành/ Đời người luẩn quẩn/ Cuối đất cùng trời/ Lại mấy thước vuông/ Cỏ xanh bạn hữu/ Khóc khóc cười cười…” (Mấy thước vuông); Những pho tượng im lời/ Còn sen thì câm lặng/ Bao sướng khổ trong đời/ Đổi một mùa thanh vắng (Sen).

Sinh ra và lớn lên ở phố, nhưng Nhật Minh không mang trong mình những huyền hão phố, mà luôn trĩu nặng u hoài căn cước phố. Không khó nhận ra, phố đẹp trong Minh là phố của ngày xưa. Xà cừ. Long não. Hàng me. Dải sương mờ đục như bụi trắng. Trong gió tiếng chuông ngân. Những cuộc trà trên căn gác cũ... Để rồi, mãi sau này, trong những giấc mơ, gã trai già phố cổ còn thảng thốt bất chợt về vị phố: “Chốn cũ quay về/ chén rượu ấm nồng hăng hăng vị phố/ cây bàng cây me tuổi già khắc khổ/ dõi trời ký ức/ những ô cửa/ chớp mắt lô xô/ Tôi ngồi đầu ô/ vợi đêm mờ sáng/ sương khuya làn khói mơ hồ/ chợt thoáng bay qua mắt ướt/ ngỡ ai vừa nhận ra mình” (Phố đợi).

Minh đi trong phố mà nhớ phố, bởi phố của Minh phần nhiều là buồn phố, cô đơn phố. Người tha thiết thường day dứt, xót đau: “Thị thành tự kỷ/ Mang nhau đi/ Xa những an lành/ Hơi người ươn tanh mùi cá/ Chợ chiều bán những mong manh/ Hắc ám bóng đêm/ Dòng mê ngụp lặn/ Cuồng tín bơ phờ/ Khói nhang viển vông/ Bay vô đạo mái chùa cổ kính” (Thị thành); “Băm nát ngã tư/ hỗn hào trăm ngả/ đèn xanh đèn đỏ nháo nhào/ xông lên chiếm mấy mét đường/ Còi hung hãn thốc sau lưng/ xe điên chồm chồm trước mặt/ mấy em váy cộc phừng phừng/ xiên qua tim đường/ õng ẹo” (Thành phố); “Đâm vào tôi/ bốn mũi tên đường/ những lựa chọn sinh tử/ đi lối nào để thoát đau thương/… Còi cướp đường ỉnh ỏi/ người ngợm ngợm người/ hầm hập/ Lối thoát nào cập phố yêu thương…” (Ngã tư).

Nhật Minh là người yêu kỷ niệm, yêu những gì thuộc về “bóng cũ người xưa”. Thế nên, trong thơ anh, mẹ cha là một chủ đề, đúng hơn, một biểu trưng. Nhưng khi viết về mẹ, cha, Minh không chỉ nói cho riêng mình. Tình yêu với mẹ của anh, theo đây, cũng là những suy tư về mẹ, tình cảm với cha, cũng là sự nghĩ về cha: “Mẹ không thuộc về tiếng vỗ tay/ Đám đông ồn ào huyên náo/ Mẹ yêu đóa hoa sen thơm thảo/ Khép sau lưng những trận gió gầm gào/… Con - vẫn giọt rượu nồng thơ ấu/ Có một ngày mẹ cất giữa cơn đau...” (Thơ gửi mẹ); “Khi tóc Cha tung lên cùng mái sóng/ Con hiểu sự già nua chưa đến nơi này/ Biển xanh biếc/ Cuộc đời rộng lớn/ Từng đợt sóng vui - buồn/ Chớp mắt bể dâu/ Biển vẫn nghìn xưa ấy/ Trầm sâu chẳng thay màu/ Giống như tình Cha vậy/ Vỗ về mọi cơn đau” (Biển của con).

Không ai đồng nhất giản đơn con người thực tại với hình tượng tác giả trong thơ. Tuy nhiên, có một điểm dễ thống nhất trong thơ Nhật Minh là, cũng như tác giả thực tại, thơ Nhật Minh luôn có hình bóng một nam nhân ưa hồ hải, phiêu bạt kiểu giang hồ nghệ sĩ: “Đôi khi thèm lên núi/ Hát vài bài ca chơi/ Như mây bay gió thổi/ Như sông ngàn năm trôi” (Thèm lên núi). Không khó để nhận ra bóng dáng của dòng sông, khe núi, dấu chân kẻ lang thang bên chiều lửa đỏ. Đâu cũng lưu đầy xúc cảm, đâu cũng dằng dặc nhớ thương. Đó là Sài Gòn: “Con sông gày nhánh cỏ/ Trôi tận cùng nhớ mong” (Chiều bên sông Sài Gòn); “Sài Gòn buộc tôi vào ngọn gió/ Thổi tôi bay ngang dọc những con đường/ Những con đường giấu kín vết thương” (Sài Gòn); là miền Tây thương nhớ, là điệu lý phương Nam xa xôi, vùng sông nước mà anh gắn bó một thời: “Khi tôi đến miền Tây thức dậy lâu rồi/ Từng giọt phù sa đồng bằng nhấp nháy/ Nắng mới nhìn tôi những thế kỷ xa xôi/ Chợt gần gũi thuở hồng hoang mở cõi/ Tôi thênh thang chạm tới chân trời/ Tôi mê mải cuốn theo những triền sông/ Bàn tay thèm được hằn vết chai thấm vào bùn đất” (Miền Tây); là Tây Bắc hoang dại trong ký ức Minh: “Tây Bắc/ Núi sắc lưỡi dao/ Mắt quắc/ đàn ông/ chọn đỉnh trời để thở/ đàn bà/ chọn góc rừng để nhớ” (Tây Bắc).

Nói thơ Nhật Minh vừa ấm áp, vừa mỏng manh, là như thế.

Nhật Minh trầm mặc mà phiêu lãng. Bên một Nhật Minh khê nồng còn có một Nhật Minh với những cơn mơ. Tôi rất thích những câu thơ phảng phất ảo ảnh hoang vắng của anh: “Nhánh sông buồn im lặng/ Ngóng hoàng hôn thuyền về/ Bên kia bờ sương trắng/ Phủ lối mờ ven đê/ Đêm vẫn còn hiu hắt/ Nỗi đèn khuya mong chờ/ Mẹ ngồi hơ bóng lạnh/ Bên bếp mùa đông mưa/ Con cuộn tròn giấc ngủ/ Bụi đường xa gót giày/ Mơ được làm đứa trẻ/ Nói cười như thơ ngây” (Sông xa).

Thơ Minh đây đó luôn ẩn khuất nỗi xót xa sau những ồn ào nộ khí: “Chiều nay bần thần góc tối/ Một bóng ngồi/ Im phắc/ Ánh sáng nghèo nuôi tôi” (Tự); “Có những ngày tiếp nối những ngày/ bài thơ viết giữa muôn trùng trận bão/ nước mắt chưa ngừng rơi/ ta thương ta thương bạn/ từng chấm nhỏ nhoi trôi lặng dưới trời…” (Có những ngày). Bởi nặng tình đời nên thơ Minh cũng là nỗi ngậm ngùi về sự nhạt phai tình đời ấy: “Mắt cá buồn/ Mắt em ướt lạnh/ Vạt tóc tanh tanh/ Chợ chiều tàn cá ươn khách vắng/ Biển vây quanh sạp cá tròng trành” (Ghi ở chợ cá biển). Trong cuộc nặng kiếp người, không ít lần Minh ngồi xuống thở than. Sự nhàm tẻ thường nhật, cái phi lý của cuộc đời, cảm giác vô vọng của kẻ “đợi đến lượt mình”: “Tôi xếp hàng/ Chờ một phiếu thi đua/ Đặt cược máu mình/ Cho lá bài sấp ngửa/ Khi cuộc bàn tròn còn chưa ráo mực/ Nghe ngoài cửa sổ/ Bọn chim líu lo/ Rủ rê vào một vụ hót mừng/ Tôi xếp hàng/ Chờ đến lượt mình/ Để được hót những lời vay mượn/ Rồi chờ mãi/ gục xuống/ Những dấu chân chồng lên nhau/ Không khoan nhượng” (Hót); “Tôi bị cầm tù/ Trong ngôn từ rỗng tuếch/ Những trang giấy luống cày/ Không hạt chữ phì nhiêu/ Miền đất hoang/ Mối mọt xông sách vở giáo điều” (Thoát).

Không phải ngẫu nhiên, không ít lần, cơn gió hoang trong Minh bật tung khao khát “buông” và “mở”, khao khát vượt thoát khỏi những ẩn ức, bay về chân trời tự do: “Bỏ lại những ngày vừa cũ/ Chạm vào ngày mới tinh khôi/ Trên chuyến xe cuối mùa vừa đủ/ Cho tôi và một khung trời” (Ngày mới); “Mở trong anh/ chân trời lạ/ nơi có đường bay/ của những cánh thật thà/ Trên vùng trời cô đơn ấy/ anh bay/ cùng những câu thơ/ và bài hát/ thênh thang/ cởi tung áo nặng nề/ ngực đón gió/ anh bay theo thi tứ mây trời…” (Mở).

Thơ Nhật Minh ẩn chứa một mật mã riêng trong tâm hồn nghệ sĩ phong phú của anh. Ở đây, sự tinh tế, đa chiều và thành thực của cảm xúc, chất suy tư ở chiều sâu, sự khoáng đạt của ngôn từ làm thành một Nhật Minh - thơ hấp dẫn, lấp lánh nét tài hoa. Dẫu Minh xem đây là một cuộc chơi, tôi vẫn mong anh đi tiếp trên con đường ấy...

Nhật Minh đang làm tốt công việc của mình. Đùng một cái, mới đây thôi, anh tuyên bố rời nhiệm sở. Bạn bè người bất ngờ, người ngạc nhiên, trách cứ. Có người đến làm thuyết khách, sợ anh lãng mạn (và lãng phí) quá chăng. Minh chỉ nhẹ cười, nói mình đã chốt xong, chẳng có gì to tát, chỉ là anh mệt mỏi, muốn buông tay. Minh nói vậy rồi, bàn chi nữa. Thì thôi đành. Từ nay, Minh có thời gian cho riêng mình, vậy hãy làm những điều mình thích. Tôi biết, Minh yêu bè bạn, kỷ niệm, yêu con đường và những chuyến đi. Vậy hãy hát lên đi Minh. Hát trong những chiều ngoại ô cuối năm. Những trưa mùa hạ. Những sâu thẳm phố khuya. Còn thấy gì sáng mai đây, khi ta còn bạn bè. Ngồi bên Minh, bên khói thuốc bay, ly rượu khê nồng, phố núi cao, phố núi đầy sương, người chưa về mà lòng đã nhớ. Để rồi, ít hôm sau, hẳn rồi, thế nào mà chả nhận được tin nhắn của Minh: Xuống đi, đang có chai ngon phần ông giáo…

P.G.T
(TCSH60SDB/03-2026)

 

 

Các bài mới
Các bài đã đăng