Tạp chí Sông Hương - Số 62 (T.04-1994)
Từ những giá trị kiến trúc - môi trường cố đô Huế suy nghĩ về việc bảo vệ, tôn tạo di sản văn hóa Huế
08:44 | 17/04/2026

ĐỖ KỲ

Huế được công nhận là một di sản văn hóa của thế giới, đó là một tin vui đối với chúng ta, nhưng không phải là một điều bất ngờ.

Từ những giá trị kiến trúc - môi trường cố đô Huế suy nghĩ về việc bảo vệ, tôn tạo di sản văn hóa Huế
Ảnh: tư liệu SH

Bởi vì theo như giáo sư Condominas, một trong những chuyên gia có tham luận tại Hội nghị Quốc tế bàn về dự án "Bảo vệ, bảo tồn, và làm sống lại di sản văn hóa phi vật chất của xứ Huế", thì "chưa có một địa điểm hay thành phố nào ở Việt Nam được sự tập trung của nhiều nhà nghiên cứu, trong nhiều lĩnh vực, trong một thời gian rất dài như thành phố Huế; Và là một thành phố tập trung bao nhiêu nét văn hóa độc đáo của Việt Nam, là nơi có rất nhiều trí thức văn nhân, cũng như rất nhiều cung điện, lăng tẩm, đền, chùa...(1) Về khía cạnh mỹ thuật, các kiến trúc cổ tại Huế, không những chỉ các đền đài, lăng tẩm, mà ngay cả những kiến trúc dân dụng, đã được nhiều công trình nghiên cứu của nhiều học giả đánh giá rất cao. Ngoài ra, nếu nhìn thành phố Huế là một tổng thể, thì đó là một tổng thể hết sức hài hòa, hài hòa giữa kiến tạo của con người với cảnh quan thiên nhiên, giữa cái riêng và cái chung, đó là “một bài thơ đô thị” biểu lộ một trình độ qui hoạch đô thị cao và một cảm quan thẩm mỹ tinh tế của người đương thời. Có thể nói, đánh giá của các nhà nghiên cứu về kiến trúc Huế tập trung ở các điểm chính sau:

1. Quy hoạch mặt bằng tổng thể và kiến thức kiến trúc luôn hướng về một nguyên tắc hàng đầu đó là sự hòa hợp với thiên nhiên.

Đây không phải là một nguyên tắc gì mới trong kiến trúc, nhưng ở các công trình kiến trúc cổ Huế nó lại biểu hiện một quan niệm mỹ học và triết học hết sức Á Đông và đậm nét dân tộc.

Như ta thấy, các nền mỹ thuật phương Tây thường tỏ ra hướng ngoại, hướng về chinh phục thiên nhiên một cách áp chế, cực đoan. Hội họa, điêu khắc sử dụng một cách khắt khe các phương tiện mổ xẻ thiên nhiên như luật viễn cận, luật sáng tối, hòa sắc, giải phẫu học… từ thời Trung cổ đến đầu thế kỷ XIX(2); kiến trúc thiên về các công trình kỳ vĩ, chế ngự không gian, cảm giác choáng ngợp.

Trái lại mỹ thuật Đông phương hướng nội, gợi nhiều hơn tả và trên hết đó là tinh thần hòa ái với thiên nhiên, bởi vì cái ta và vũ trụ đều là một. Họa pháp của Trung Hoa (Lục pháp, Thập nhị kỵ, Tam tuyệt...), của Ấn Độ (Xađănggơ), Nhật Bản đều hướng về nhấn mạnh điều đó (biểu hiện qua "khí vận", "Ra-sa" - tinh túy của nhận thức). Các nguyên tắc phong thủy, dịch lý trong kiến trúc cũng vậy. Điều đó cho thấy rằng, qua các công trình kiến trúc của mình người Đông phương không đối kháng với thiên nhiên mà đi đến cái Hòa với nó, thuận với nó, lấy nhu chế cương, để đạt đến mục đích: Cái Đẹp và sự Hài hòa. Kiến trúc Huế thể hiện một cách xuất sắc triết lý đó. Ngoài ra, do những đặc điểm về phong tục tập quán, nhân văn, phong thổ, khí hậu... mà kiến trúc Huế còn có những nét riêng. Cái mái, cái cột, cái đầu đao, trang trí ô hộc trong kiến trúc Huế không đơn giản là cái mỹ cảm xuất hiện một cách hư vô trong đầu người nghệ nhân xứ Huế, mà theo Trần Lâm Biền nó xuất phát từ đặc điểm môi trường, thiên nhiên xứ Huế. Sông Hương, núi Ngự không đơn thuần chỉ là yếu tố phong thủy cho kinh thành Huế mà còn phải thấy ở đó vừa là một hệ thống phòng thủ quân sự, vừa là một biểu hiện của nền kinh tế nông nghiệp thời phong kiến; vừa là một trục qui hoạch hết sức khoa học (điều kiện giao thông, sinh thái...) vừa là một món trang sức mỹ lệ, duyên dáng cho kinh thành.

Chính nhờ vậy, các công trình kiến trúc ở Huế, nhỏ, xinh nhưng đã biết dựa vào thiên nhiên kiếm cái mà nó cần bổ khuyết cái mà nó thiếu, ẩn hiện trong thiên nhiên kỳ vĩ tạo cho mình một cái duyên sâu lắng, gợi cảm.

Người ta nói các công trình kiến trúc Huế duyên dáng, nhỏ nhỏ, xinh xinh, điều đó đúng. Nhưng cũng không sai khi khẳng định tính hoành tráng của chúng. Bởi vì khi nói đến một công trình kiến trúc cổ Huế, đặc biệt là các công trình cung điện, lăng tẩm của Hoàng gia người ta không giới hạn nó trong vài cây số vuông La thành hoặc xa hơn trong giới hạn các trụ biểu mà phải kể đến cả cái không gian vĩ đại bao quanh nó, là rặng núi là con sông, rừng cây, ao đầm cụ thể... bởi chúng - những yếu tố phong thủy - cũng chính là những cấu kiện kiến trúc tạo nên công trình.

Mỗi công trình như vậy, mặc dù rất hoàn chỉnh lại được người xưa bố cục lại, tạo nên một bức tranh chung tuyệt mỹ: Đô thị Huế. Các bố cục này không phải được sắp đặt một cách tùy tiện mà tuân theo một chỉnh thể qui hoạch và ý đồ nhất định, và vì vậy mà nó đạt đến 3 điều kiện của cái Đẹp:

Hệ thống (Order) - Tương xứng (Proportion) - Hòa nhất (Unité).

2. Về mặt kết cấu - các kiến trúc cổ ở Huế, ngoài một kiểu thức hết sức đặc thù, có thể gọi là kiến trúc Huế, còn cho thấy cách sử dụng tài tình và hợp lý các loại kết cấu tạo nên một không gian tối ưu cho công trình. Giữa tổng thể và chi tiết cũng biểu hiện một sự nhất quán cao.

Giải pháp không gian được thể hiện rõ nét nhất qua các kiến trúc cung điện, đền đài. Ở đây diện tích sử dụng được mở rộng tối đa và đưa lên cao vút bất chấp những hạn chế của kết cấu gỗ. Đó là nhờ giải pháp "Trùng thiềm điệp ốc". Cho nên bên ngoài thì công trình có vẻ nguy nga tráng lệ do hệ thống nóc trùng trùng điệp điệp, nhưng bên trong không gian vẫn là một thể thống nhất, không bị chia cắt tạo nên sự uy nghiêm, trang trọng. Ở những công trình khác như Ngọ Môn và lầu Ngũ Phụng chẳng hạn, để có một không gian sử dụng tối đa mà công trình vẫn giữ được vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng, người ta đã khéo léo tạo nên những mảng "zíc zắc", tận dụng những khoảng trống hợp lý để làm nhẹ đi khối của công trình (Và có lẽ cũng để phù hợp với sự thuận mắt "tỷ lệ vàng", hoặc giả để phù hợp với phong cách kiến trúc của lớp hoàng thành bên ngoài kiểu Vauban, tạo nên sự thăng bằng trong cảm giác thẩm mỹ?)

Ngoài ra, người xưa còn chú ý đến các giải pháp tạo nên mối liên hệ đan xen giữa không gian bên trong và không gian bên ngoài, nội thất và ngoại thất, gây nên ảo giác về sự rộng lớn, thoáng đãng, hòa hợp với cảnh quan thiên nhiên. Đây là một trong những giải pháp trong kiến trúc hiện đại với không gian "pôtô", các khối âm, khối không gian bên ngoài ăn sâu vào không gian nội thất. Cụ thể như ở tầng giữa Ngọ Môn, nếu ở gian giữa bước sang các gian hai bên thì cảm giác "đi ra" rất rõ nét, nhưng cảm giác "bên trong" vẫn còn đó bởi một trận đồ các cột và vách ván đố bản chung quanh. Hệ thống cửa bằng khóa khi được mở hết và hệ thống cột hàng hiên lại tạo cảm giác mở, để cho không gian bên trong tràn ra ngoài, thoáng đãng, đầy ắp ánh sáng.

Có thể thấy ở các giải pháp không gian trong kiến trúc Huế một quan niệm hết sức khúc chiết của người Á Đông. "Đầy ắp giống như trống rỗng, cái công dụng của nó không cùng".

Phần trang trí, sơn thếp, chạm trổ lên các cấu kiện công trình tuy không phải là cực kỳ tinh xảo, nhưng nó luôn hài hòa với phong cách tổng thể, nhằm phục vụ cho cái trật tự chung, vì vậy chúng hết sức thanh nhã, duyên dáng; và nói như họa sĩ Phạm Đăng Trí: "Khéo điểm sáng những chỗ chính, tô mờ những chỗ phụ, trang sức trong những đoạn cần thiết mà thôi”(3)

3. Ý đồ, chủ đề tư tưởng chính là điểm nổi bật nhất toát ra từ mỗi công trình kiến trúc cổ Huế.

Ý đồ tư tưởng của mỗi công trình được phác họa từ đầu và chỉ đạo xuyên suốt từ phần qui hoạch mặt bằng, đến thiết kế xây dựng, trang trí, từ tổng thể đến chi tiết. Giữa chủ đề tư tưởng và công năng của mỗi công trình lại gắn bó hết sức chặt chẽ. Đặc biệt qua lăng tẩm các vua Nguyễn, cấu trúc hình thức của mỗi lăng đều biểu hiện một cách rõ nét cá tính, cuộc đời sự nghiệp và tư tưởng của mỗi vị vua. Có thể nói phong cách bao trùm lên các công trình kiến trúc cổ tại Huế là một phong cách Huế rõ nét, đặc thù; song bản thân mỗi công trình lại tạo cho mình một bản sắc riêng rất dễ nhận biết, chính điều này làm cho kiến trúc Huế trở nên vô cùng đa dạng và phong phú.

Nhưng chủ đề tư tưởng bao trùm lên tất các công trình đó là cái Hòa.

"Hòa để đạt đạo của thiên hạ", Hòa là để thuận thiên. Hòa là để hợp những cái bất hòa, theo như quan niệm Lưỡng Nhất của triết lý Đông phương.

Có thể nói việc biểu hiện chủ đề tư tưởng qua một tổ hợp kiến trúc của các công trình cổ tại Huế đã rất thành công, nó vừa mang đậm chất triết lý uyên thâm của phương Đông, vừa mộc mạc, trữ tình nhờ bản sắc dân tộc Việt Nam và man mác trong đó một tâm hồn Huế.

Tóm lại, có thể nói tổng thể đô thị Huế, với các công trình kiến trúc - môi trường là một kiệt tác nghệ thuật bởi vì sự hài hòa mà nó đạt được. Sự hài hòa đó vừa mang tính nhân bản sâu sắc vừa thể hiện tâm hồn của con người Việt Nam. Kiệt tác nghệ thuật - đô thị Huế này cùng với các di sản văn hóa khác của nền văn hóa Phú Xuân - Huế đã khẳng định mình bằng một bản sắc rất riêng, rất độc đáo, nó tiếp nối cho dòng chảy liên tục của nền văn minh Việt Nam: Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Đại La - Thăng Long, Văn hóa Phú Xuân -Huế.

Một nhà phê bình mỹ thuật đã nói như thế này: Một tác phẩm nghệ thuật gồm có hai tồn tại, tồn tại vật thể và tồn tại tinh thần, phi vật chất, "Mona Lisa vật thể là của nước Pháp, bảo tàng Pháp Le Louvre canh giữ nó - Nhưng Mona Lisa hình tượng là tài sản của mỗi tâm hồn chúng ta".

Tồn tại vật thể của tác phẩm đó là giới hạn, là không đổi qua mọi thời đại, chỉ là kết cấu vật chất thô thiển xơ cứng. Chính tồn tại phi vật thể mới là tác phẩm, bất tử. Bản thân tác phẩm là một, nhưng sự phân hóa các dạng tồn tại lại xảy ra trong ý thức người xem. Cho nên tác phẩm - phi vật thể chỉ tồn tại khi có người xem thậm chí chỉ tồn tại khi có sự đồng cảm; tương đồng nội tâm. Các tác phẩm nghệ thuật ở Đôn Hoàng, Lascaux, Altamira... chỉ thực sự tái sinh khi người ta phát hiện ra nó và chiêm ngưỡng nó. Nhiều tác phẩm nghệ thuật khác cũng đã phải sống lây lất cho đến khi giá trị của nó được khẳng định và thông cảm. Cho nên, đời sống tinh thần của một công trình nghệ thuật lại rất phong phú, muôn hình, muôn vẻ - nó luôn thay đổi theo từng thời đại, từng nhận thức cá nhân; khác với cái đơn nhất của tồn tại vật thể của tác phẩm. Mặt khác tác phẩm đó còn đóng vai trò là bức thông điệp lưu giữ và truyền đạt những giá trị tinh thần không thể diễn tả thô thiển bằng lời từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ dân tộc này đến dân tộc khác, từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác. Cứ như vậy tài sản văn hóa của nhân loại và bản chất "Người" ngày càng được hoàn thiện hơn.

Trình bày quan điểm trên đây, chúng tôi muốn liên hệ đến di sản văn hóa Huế, một tác phẩm nghệ thuật hoành tráng, một tổng phổ bao gồm nhiều lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật... Bên cạnh những di sản vật chất là những di sản phi vật chất, những nét đẹp trong truyền thống văn hóa, phong cách ứng xử, thị hiếu thẩm mỹ... hoặc cụ thể hơn là các ngành nghề truyền thống, các bộ môn nghệ thuật... của xứ Huế mà chúng ta nay với sự giúp đỡ của Unesco đang từng bước bảo vệ và tôn tạo. Nhưng mặt khác cũng cần thấy một tồn tại phi vật chất khác, nó gắn liền với mỗi công trình nghệ thuật - tồn tại vật chất; hai mặt này luôn gắn bó qua lại không thể tách rời nhau. Bảo vệ được tồn tại vật chất cũng có nghĩa là đang làm phong phú thêm đời sống tinh thần, phi vật chất của công trình, tác phẩm. Đã nói đến tồn tại phi vật chất đó, là nói đến ý thức của người xem và sự tương đồng nội tâm. Đã có một thời do thiếu sự đồng cảm này mà các công trình tác phẩm nghệ thuật Huế bị phủ nhận hẳn cuộc sống tinh thần, và vì vậy nó chỉ còn lại một cái vỏ vật chất thô thiển. Cũng vì một vài thiên kiến sai lầm, đánh giá lệch lạc mà nhiều công trình văn hóa, nghệ thuật bị phủ nhận giá trị, hay nói một cách khác nó đã không tồn tại trong một thời gian.

Tuy vậy điều đáng mừng là nó đã, đang và sẽ tồn tại một cách mãnh liệt. Và cũng như các kiệt tác nghệ thuật khác, Huế - vật thể là đơn nhất, nhỏ bé với một diện tích hạn định; nhưng Huế với tư cách là một tồn tại tinh thần lại vô cùng phong phú, muôn màu muôn vẻ, vượt không gian và thời gian. Huế của anh khác Huế của tôi, Huế của người du khách khác với Huế của người xứ Huế, Huế của người già khác với Huế của lớp trẻ. Và nếu anh đi xa trở về lại Huế, Huế cũng khác. Phản ánh của Huế trong mỗi người mỗi khác, mỗi thời điểm, giai đoạn lịch sử mỗi khác.

Tồn tại phi vật chất của Huế đặc biệt được thăng hoa trước mắt của nhà họa sĩ, nhiếp ảnh, nhà thơ, kiến trúc sư. Dưới mắt nhà sử học, dân tộc học, dân tộc nhạc học... thì nó lại là một viên ngọc trong đá. Từ họ, những giá trị tinh thần, những di sản phi vật chất này như được tái sinh thành những tồn tại vật thể - phi vật thể mới có cuộc sống riêng - những tác phẩm mỹ thuật, thi ca, những khảo luận, phát hiện mới... Đến một lúc nào đó, "lá rụng về cội", các giá trị mới đó lại biến nhập vào khối chung di sản văn hóa, làm nguồn nuôi dưỡng cho vòng tuần hoàn tiếp, làm cho kho tàng di sản văn hóa vật chất và di sản văn hóa phi vật chất ngày càng đồ sộ.

Trước khi kết thúc, chúng tôi muốn đề cập đến một vấn đề cũng liên quan đến việc bảo vệ, tôn tạo các di sản vật chất và phi vật chất xứ Huế. Vấn đề khá gần gũi nhưng cũng hết sức nóng bỏng: Di sản Huế tồn tại như thế nào trong nhận thức của người Huế - chúng tôi muốn nói đến số đông, một cộng đồng, chứ không giới hạn trong một nhóm người.

Hay nói cách khác, Huế có tồn tại trong lòng người dân xứ Huế với tư cách một di sản văn hóa, nghệ thuật, là môi trường văn hóa mà trong đó họ hít thở và hòa nhập vào không, hay chỉ là một địa bàn cư trú, sinh nhai đơn thuần. Điều này cần được điều tra và khẳng định để có một chiến lược bảo tồn và tôn tạo Huế - di sản văn hóa nhân loại. Không ai khác hơn cộng đồng này sẽ là người bảo lưu và phát triển các giá trị truyền thống một cách tích cực nhất và ở tất cả mọi phương diện. Họ cũng là người kiến tạo nên những giá trị nghệ thuật và giá trị tinh thần mới và quyết định sự hòa nhập của chúng vào vốn di sản đã được nhân loại đánh giá cao.

Thực trạng hiện nay, cảnh quan đô thị Huế đang dần bị phá vỡ nếu không có những biện pháp thích hợp để chận đứng. Nếu những khu nhà bình dân được xây dựng một cách cẩu thả bừa bãi, phá hoại cảnh quan môi trường một, thì những tòa nhà lớn thừa khả năng tài chính nhưng thiếu cái nhìn thẩm mỹ kiến trúc - môi trường sẽ đe dọa gấp mười. Bởi vì nó thường án ngữ ở những trục lộ chính và xây dựng khá kiên cố, đồ sộ. Do đó bên cạnh các biện pháp hành chính trong quy hoạch cần gắn liền với việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, cái Đẹp đó cũng là một nhu cầu của con người, nhưng cần thông qua giáo dục để thị hiếu thẩm mỹ của cộng đồng đi được đúng hướng.

Nên chăng trong dự án bảo vệ và tôn tạo di sản văn hóa phi vật thể của xứ Huế cần thiết lập một kế sách giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho cộng đồng. Thị hiếu thẩm mỹ này không bó hẹp trong lĩnh vực mỹ thuật mà trong các lĩnh vực nghệ thuật khác, trong nếp sống, ứng xử, trong thuần phong mỹ tục... Việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ đó sẽ gắn liền như thế nào với giáo dục phổ thông, với các giải pháp xã hội khác? Đơn vị gia đình và truyền thống gia tộc sẽ có một ý nghĩa như thế nào? v.v... Chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng ta gieo những hạt tốt thì chắc chắn chúng ta sẽ gặt được quả tốt, chúng ta không những làm tròn sứ mệnh của nhân loại giao phó cho, bảo vệ và phát triển được sắc thái của quê hương mình, tài sản vô giá của dân tộc mình mà thông qua cái Đẹp đó chúng ta cùng nhân loại ngày càng vươn đến với cái Thiện và cái Chân, cái đích cao cả mà loài người đang hướng đến.

Huế 7-1-1994
Đ.K.
(TCSH62/04-1994)

-----------------------
(1) Trích dẫn từ bài viết của giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê trong tạp chí KTNN số 117 "Kinh thành Huế với dự án của Unesco".
(2) "Không thể có tính xác thực ở đâu, nếu ở đó không thể áp dụng được một ngành của khoa học toán học hay một ngành khoa học nào đó có liên quan đến toán học" (Léonard de Vinci - Định nghĩa 10 - Khảo luận về Hội họa).
(3) Theo Phan Thuận An - Kiến Trúc cố đô Huế.

 

 

Các bài đã đăng