Góc Hoài niệm
Hồ Chí Minh - đối nhân và xử thế (*)
16:15 | 19/05/2026

TRẦN ANH VINH

Bàn về đối nhân và xử thế của một con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đề tài rộng lớn. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập tới mối quan hệ đối xử giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần trong một vài thời điểm lịch sử nhất định.

Hồ Chí Minh - đối nhân và xử thế (*)
Ảnh: tư liệu

***

Như chúng ta đã biết, ngày 31-5-1946 phái đoàn chính phủ ta do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn sang Pháp đàm phán về quan hệ Việt - Pháp. Bác cùng đi, nhưng không ở trong phái đoàn. Người tới nước Pháp với tư cách là khách của chính phủ Pháp mời.

Trước đó mấy hôm, khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị đi Pháp, Nguyễn Hải Thần, bấy giờ là Phó chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến, có gửi cho Bác bài thơ Đường luật, nguyên văn như sau:

Thơ gửi HỒ CHỦ TỊCH

Gặp gỡ đường đời bác với tôi.
Hai vai gánh nặng cả hai vai.
Tuy riêng Nam Bắc riêng bờ cõi.
Cũng một ông cha, một giống nòi.
Nhỡ bước đành cam thua nửa ngựa
Thà hơn miệng thế nói mười voi.
Mấy lời trân trọng ông ghi nhớ.
Nước ngược buông câu, khéo mất mồi.
(1)

Tác giả bài thơ này xuất hiện trên chính trường ngay sau ngày thành lập Mặt trận Việt Minh. Vì vậy xin nói đôi lời về cuộc đời và "sự nghiệp" của Nguyễn Hải Thần để chúng ta hiểu tư tưởng của vị "chính khách" này bộc lộ qua bài thơ.

Nguyễn Hải Thần sang Trung Quốc từ năm 1905 với cụ Phan Bội Châu. Nhận thấy y không phải là con người chân chính nên cụ Phan đã rời bỏ Nguyễn Hải Thần từ những ngày đầu. Từ đấy y làm nghề xem số tử vi để kiếm sống. Nhờ nghề này Nguyễn Hải Thần quen biết nhiều quan lại Trung Quốc. Suốt một thời gian dài Nguyễn Hải Thần nằm im không hoạt động gì. Nhưng sau khi cụ Phan mất (10-1940), Hải Thần tự nhận là người kế thừa của cụ.(2) Hồ Chủ tịch sau khi nhận được bài thơ trên của Hải Thần, mặc dù bận nhiều công việc trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài đang đe dọa nước cộng hòa non trẻ, và chuẩn bị lên đường sang Pháp, Bác vẫn dành chút thời giờ hiếm hoi làm thơ đáp lại.

Theo đúng truyền thống xướng họa của thi ca, Người họa đúng nguyên văn bài thơ của Nguyễn Hải Thần.

Để chúng ta thấy được cái hay qua cái tài đối đáp, cái ý vị sâu xa, xin hãy lắng nghe cả hai bài thơ; để từ đó ta tìm thấy tư tưởng lớn qua bài thơ của Bác:

THƠ GỬI HỒ CHỦ TỊCH
                    (Nguyễn Hải Thần)    

Gặp gỡ đường đời bác với tôi,
Hai vai gánh nặng cả hai vai.
Tuy riêng Nam Bắc, riêng bờ cõi.
Cũng một ông cha, một giống nòi.
Nhỡ bước đành cam thua nửa ngựa,
Thà hơn miệng thế nói mười voi.
Mấy lời trân trọng ông ghi nhớ.
Nước ngược, buông câu khéo mất mồi!

HỒ CHỦ TỊCH ĐÁP LẠI

Gặp gỡ đường đời anh với tôi.
Đường đời gai góc phải chia hai.
Đã sinh tai mắt, sinh đầu óc.
Há bỏ thân yêu, bỏ giống nòi.
Trách kẻ đưa thân vào miệng cọp.
Tôi đành ghé đít cưỡi đầu voi.
Tàn cờ mới biết tay cao thấp.
Há phải như ai, cá thấy mồi!

Cả hai bài thơ chủ yếu nói về đời tư - thế sự. Đây là thể tài quen thuộc thường thấy ở thể Đường thi, nhất là thơ ca của các sĩ phu đầu thế kỷ XX. Cái tôi không ẩn tránh như thơ Đường cũ, trái lại được bộc lộ khá rõ ràng.

- Gặp gỡ đường đời bác với tôi (Nguyễn Hải Thần)

- Gặp gỡ đường đời anh với tôi (Hồ Chí Minh)

Cái tôi hiện diện qua hoàn cảnh lịch sử, qua thế sự, qua đường đời. Do vậy, suy nghĩ về cái tôi của chủ thể từng bài thơ thể hiện khá rõ nét.

1. Về bài thơ gửi của Nguyễn Hải Thần, nếu ta bóc đi lớp vỏ khoe khoang về trách nhiệm nặng nề đối với nước:

Hai vai gánh nặng cả hai vai

thì cái tôi, cái cá nhân yêng hùng, cái tư tưởng chia cắt, cát cứ của y dễ dàng nhận thấy:

Tuy riêng Nam Bắc, riêng bờ cõi

Trái lại ở Hồ Chủ tịch đặt thế sự, đặt đường đời ra trước. Quả là đường đời chẳng suôn sẻ chút nào mà lại đầy trắc trở, đầy gai góc như ta đã thấy. Để tiếp tục cứu nước, cứu dân Người không thể chung đường với Nguyễn Hải Thần mà rẽ tìm một hướng khác:

Đường đời gai góc phải chia hai

Ta lưu ý chữ phải. Vì lợi ích của dân tộc, Người đã nhiều lần bắt tay đoàn kết với Nguyễn Hải Thần. Nhưng về quan điểm, lập trường, về tư tưởng Người rất dứt khoát.

2. Nguyễn Hải Thần quả đã bằng lòng với hiện tại vì đã thỏa mãn được dục vọng cá nhân, về danh vọng là Phó chủ tịch chính phủ; về quyền lợi y đã từng nói "Tôi bôn ba hải ngoại mấy chục năm nay, giờ về đây, có cái nhà cao, cái cửa rộng thế này thật sướng quá!". Còn Hồ Chủ tịch trái lại, Người luôn suy nghĩ đến vận nước, mạng dân:

Đã sinh tai mắt, sinh đầu óc
Há bỏ (Tổ quốc) thân yêu, bỏ giống nòi.

Bộc lộ cái tôi, cái nỗi lòng trăn trở của mình. Đó là trách nhiệm của con người (tai, mắt, đầu óc) đối với giống nòi, dân tộc. Đó còn là nghĩa vụ của người CÔNG DÂN đối với đất nước, là tình cảm thiêng liêng đối với Tổ quốc thân yêu. Đồng thời Hồ Chủ tịch cũng tỏ tinh thần đấu tranh phê phán Nguyễn Hải Thần đã quên mất những điều đó.

Y nói: Cũng một ông cha, một giống nòi

Chỉ là cái nhìn thiển cận giữa cá nhân với cá nhân; hoặc là để lôi kéo, đánh lộn con đen. Theo Hồ Chủ tịch, dù theo chính kiến nào đi nữa cũng không được phản bội lại Tổ quốc và dân tộc:

Há bỏ thân yêu, bỏ giống nòi

Như chúng ta đã biết: Nguyễn Hải Thần sau ngày bị cụ Phan Bội Châu bỏ rơi (1905) - cũng phải chia hai - y ở lỳ bên Trung Quốc làm nghề bói toán để nuôi vợ con, và về mặt giống nòi thì quên cả tiếng mẹ đẻ!

Không những thế, Nguyễn Hải Thần còn theo Tưởng Giới Thạch nhằm thực hiện mưu đồ Hoa quân nhập Việt. Quả y đã bán thân cho thú dữ:

Trách kẻ đưa thân vào miệng cọp

3. Cái chức Phó chủ tịch mà Nguyễn Hải Thần có, chẳng qua do Hồ Chủ tịch xếp đặt (như ta đã biết), chứ chẳng phải là sự đọ tài trên đường đua chính trị như Nguyễn Hải Thần lầm tưởng! Nhưng dù sao, y cũng phải công nhận là thua (thua vì nhỡ bước!). Thua là nhục, nhục nhưng vẫn bám lấy địa vị cá nhân để lòe đời:

Nhỡ bước đành cam thua nửa ngựa
Thà hơn miệng thế nói mười voi.

Rõ ràng y đã tự bộc lộ chân tướng của kẻ tham công danh phú quý. Chúng ta không cần phải mất thì giờ phân tích thêm.

Nếu thế đưa thân vào miệng cọp là thế bí thế cùng, thế bị động của một hành vi chịu khuất phục, thấp hèn trước uy lực của kẻ thù; thì thế cưỡi đầu voi là thế chủ động, là thế đứng trên đầu thù của đấng trượng phu. Tư tưởng lớn lao, tư tưởng bất khuất - luôn giữ thế tiến công của Hồ Chủ tịch tập trung ở điểm này:

Trách kẻ đưa thân vào miệng cọp
Tôi đành ghé đít cưỡi đầu voi
.

Đây là lời đáp lại, đồng thời cũng là sự phê phán hành động thấp hèn của Nguyễn Hải Thần. Nếu y đành cam thua, thì Hồ Chủ tịch (cũng đành!?) ghé đít.

4. Cái thần của Đường thi và Tống thi thường tập trung ở hai câu kết. Bài thơ gửi của Nguyễn Hải Thần, mặc dù đành cam phận thua nhưng vẫn lên giọng kẻ cả (y nhiều tuổi hơn Hồ Chủ tịch) để nhắn nhe:

Mấy lời trân trọng ông ghi nhớ
Nước ngược buông câu khéo mất mồi.

Đúng là Hồ Chủ tịch sắp đi buông câu ở dòng nước ngược. Có lẽ đây là sự đánh giá đúng và duy nhất của Nguyễn Hải Thần (qua bài thơ của y). Quả vậy, nhận sứ mạng cao cả trước quốc dân, Người sang Pháp đàm phán với kẻ xâm lược ngay tại sào huyệt. Cái nhầm lẫn của Nguyễn Hải Thần trong câu kết chỉ là chữ mồi mà thôi. Vì suốt đời y như con cá tìm mồi như Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ bằng hình ảnh dân gian quen thuộc:

Há phải như ai cá thấy mồi!

Còn ai ở đây nữa? Người đã nói đúng, nói trúng bản chất và tâm địa, tư tưởng của y.

Còn Hồ Chủ tịch, Người chọn con mồi câu mà kẻ thù không thể không công nhận, nhưng lại rất khó nuốt. Đó là sự độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ở Hội nghị Fontainebleau, bọn thực dân Pháp bấy giờ không muốn nuốt thì đến Hội nghị Genève chúng phải nuốt!

Trả lời cái thiển cận, cái kém về trí của Nguyễn Hải Thần, Hồ Chủ tịch dùng hình tượng quen thuộc của phương Đông: cuộc đấu cờ. Thắng bại, cao thấp... quyết định là ở nước cờ cuối cùng. Còn ở giữa cuộc đấu, khi cần có thể thí xe, thí pháo...

Tư tưởng lớn toát ra ở bài thơ đáp lại của Hồ Chủ tịch là tư tưởng chiến lược của cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh trường kỳ mà Người đã phát động qua Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, là niềm tin sắt đá ở thắng lợi cuối cùng. Mặt khác đó còn là tư tưởng quyết tâm lãnh đạo toàn dân gìn giữ cho được sự vẹn toàn của non sông Tổ quốc, là ý thức được trách nhiệm về vai trò trước lịch sử của chính mình.

Huế mùa phượng vĩ
T.A.V
(TCSH63/05-1994)

 

---------------------------
(*) Xin cảm ơn anh Song Thành - Viện Hồ Chí Minh - đã góp ý và cung cấp tư liệu để viết bài này.
(1) Theo báo Lao Động số Tết Mậu Thìn (1988).
(2) Trần Dân Tiên: Những mẫu chuyện về đời, hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB ST, HN, 1986, tr. 88.

 

 

Các bài đã đăng
Cố đô Hoa Lư (05/12/2025)
Chuyện cấm váy (31/03/2025)