DƯƠNG HOÀNG
(Ghi theo Đại tá Nguyễn Văn Khoan)
Gần đến những ngày áp Tết Kỷ Sửu. Theo lệnh của Người, ngày 10 tháng Giêng năm 1949, Phủ Chủ tịch đã chuyển từ địa bàn xã Trung Trực, huyện Yên Sơn đến Lũng Tấu thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Địa điểm Lũng Tấu là nơi trước đây cơ quan đã đóng, nằm sát bên rừng nứa, trên bờ con suối lớn đổ vào sông Đáy rồi con sông này nhập dòng vào sông Lô, từ Phủ Chủ tịch đi bộ khoảng gần năm cây số thì ra đến huyện lỵ Sơn Dương. Đoạn sông Đáy này đã đi vào lịch sử, ngày 18 tháng 9 năm ấy, khi Bác Hồ xuôi thuyền mảng về huyện lỵ để nói chuyện với lớp huấn luyện cán bộ kháng chiến. Cảm xúc trước cảnh vật thiên nhiên Người đã viết bài thơ “Đi thuyền trên sông Đáy”, với 2 câu mở đầu đầy chất thi vị trữ tình:
“Dòng sông lặng ngắt như tờ
Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo”.
Ở cơ quan Văn phòng Trung ương, một không khí chuẩn bị đón Tết kháng chiến thật nhộn nhịp và phấn khởi. Năm ấy, đồng chí Hồ Tùng Mậu, nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính khu Bốn đương chức Tổng Thanh tra Chính phủ được cử làm Trưởng ban tổ chức Tết Kỷ Sửu. Dưới sự chủ trì của đồng chí Hồ Tùng Mậu, một hội nghị họp bàn về việc “ăn tết” trong hoàn cảnh kháng chiến từ “cầm cự chuẩn bị chuyển sang tổng phản công” trên toàn mặt trận.
Hội nghị đang sôi nổi, bàn bạc về mọi việc như trang trí, hái hoa dân chủ, văn nghệ, thể thao, nấu bánh… thì Người đến.
Không đợi ai “báo cáo”, Người hỏi:
- Tết năm nay, ta tổ chức vui như thế nào?
- Thưa Bác, chúng cháu đang họp bàn đây ạ.
Người hỏi tiếp:
- Thế đã bàn đến mục pháo Tết chưa? Tết phải có pháo chứ.
Có tiếng một chiến sĩ thưa to:
- Dạ chưa ạ!
Một số anh em ngơ ngác rồi quay sang bàn tán “lấy pháo ở đâu”.
Như hiểu ra ý của Người, đồng chí Trưởng ban tổ chức tết liền xin ý kiến:
- Thưa Cụ Chủ tịch, rừng núi thế này thì kiếm đâu ra pháo…?
Người cười hiền rồi chỉ tay ra rừng nứa mách nước cho anh em:
- Pháo ở rừng đấy, tha hồ!
Anh em chiến sĩ cùng “a” lên và hiểu rằng, đốt lửa thì nứa nổ, đấy là pháo, thứ pháo “thực vật” rất thiên nhiên, rất gần gũi với con người Việt Nam…
Người còn “đạo diễn” nhiều hình thức vui tết nữa rồi mới về.
Tan cuộc họp, đồng chí Hồ Tùng Mậu đề nghị anh em đi chặt nứa, bó lại thành những bó ngắn, vừa dễ vác, dễ xếp đống, khi đốt lại gọn. Đống nứa ở sân cứ cao dần, khô dần lại và ngày cuối của năm Mậu Tý cũng sắp hết. Anh em chiến sĩ mong sớm đến ngày Tết và thầm đoán chắc phải ngày mồng hai, hoặc mồng ba Người mới có thời gian sang thăm cơ quan được.
Nhưng thật bất ngờ, đúng đêm 30, gần lúc giao thừa là Người đến, trên vai còn đeo một cái bị. Mọi người chạy ùa ra đón Bác, tranh nhau nói một câu chúc Tết Cụ Chủ tịch.
Người chỉ một vị trí thuận tiện bảo anh em xếp nứa đốt. Người nói:
- Tết này, Bác ăn Tết lửa trại với các chú.
Ngọn lửa bốc lên, nứa nổ lép bép như tràng pháo nối tiếp nhau, nghe không chối tai như pháo nhồi thuốc hóa học, không có mùi khét.
Rồi Người từ từ mở cái bị ra và nói:
- Để các chú yên tâm khỏi “thắc mắc”. Đây là quà tết đồng bào tặng Bác, Bác biếu các chú…
Hồ Chủ tịch đưa tận tay từng cán bộ, chiến sĩ mỗi người một quả cam.
Mọi người vui mừng vì nhận được quà của vị Chủ tịch nước. Phấn khởi, anh em cùng ca hát, cầm tay nhau nhảy quanh ngọn lửa trại ấm cúng tình cảm gia đình cách mạng… Đêm ấy, Bác Hồ nghỉ lại cơ quan.
Sáng hôm sau, Văn phòng Trung ương tổ chức chúc Tết năm mới Hồ Chủ tịch. Bác cảm ơn rồi bảo mọi người ngồi lại nghe Bác kể về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Bác Hồ cho biết quân ta vừa thắng địch ở Ba Thá, Tế Tiêu, ở Ý Yên, Nam Định và đặc biệt ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng ta đánh đoàn tàu gần hai mươi toa, phục kích ở đèo Hải Vân phá hủy mấy chục xe quân giới… Bác khuyên mọi người thi đua làm tròn nhiệm vụ ở hậu phương để xứng đáng với tiền tuyến.
Sáng mùng một Tết, mặt trời ở chiến khu bị sương mù che dần dần sáng ra.
Đến mục thể thao, Bác nói:
- Để Bác làm trọng tài cho. Các chú chia đội ra chơi đi.
Trước khi hai đội chào nhau, vào trận đầu xuân, Bác Hồ giơ tay thổi một tiếng còi tuyên bố:
- Đội nào thắng, sẽ được trọng tài chính thưởng mỗi người một điếu thuốc lá thơm.
Nghe trọng tài chính tuyên bố. Các vận động viên và cổ động viên nhảy lên hoan hô ầm ĩ.
Cuộc đấu bóng chuyền diễn ra thật sôi nổi, hấp dẫn, và rất gay go quyết liệt vì đội nào cũng muốn giành phần thắng, không muốn để thua vì nếu thua thì chẳng được phần thưởng của Bác mà còn “dông” cả năm.
Nhưng cuối cùng cũng có bên được, bên thua. Đội thắng trận, xếp hàng ngay ngắn, chỉnh tề, cười nói hân hoan. Đội trưởng hô “nghiêm” báo cáo:
- Thưa Bác, chúng cháu thắng ạ!
Bên thua “tức quá” cũng làm liều nhảy ra xếp vội hàng ngũ, cử người ra báo cáo:
- Thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Thắng một “séc” ạ!
Cổ động viên đứng ngoài sân thấy tình thế đội thua này “liều” có khi được thưởng “như chơi” bèn chẳng ai bảo ai cũng “nhào dô” xếp hàng chung:
- Thưa Bác, thưa Bác, chúng cháu cũng thắng ạ. Cổ vũ phe thắng ạ…
Bác cười, lắc đầu như có ý “chịu” cái “láu cá” rất “đáng yêu” của anh em chiến sĩ rồi nói to:
- Đúng, năm nay sẽ là năm Đại Thắng Lợi, không ai được phép thua cả…
Nói xong, Bác Hồ mở hộp thuốc thưởng cho mỗi người một điếu thuốc lá. Ai nấy đều hớn hở, phấn khởi, có anh hoa chân múa tay nhảy lò cò. Duy chỉ có đồng chí cảnh vệ thì lẩm bẩm:
- Thế là hết tiêu chuẩn cả ngày của Bác rồi.
Biết ý người cảnh vệ, trên đường về, Bác Hồ cứ khen mãi anh em chiến sĩ mình “thông minh”.
Nhớ một cái Tết đầy kỷ niệm ở chiến khu Việt Bắc được gặp Bác Hồ - vị Chủ tịch nước kính yêu vừa gần gũi vừa sâu sắc và đầy ý chí cách mạng.
D.H
(TCSH444/02-2026)