Nghiên Cứu & Bình Luận
Địa lý hình thái sông Bồ - sông Hương thời thế kỷ 17 - 18 qua các đồ bản cổ
15:48 | 30/01/2026


TRẦN NGỌC MINH

Địa lý hình thái sông Bồ - sông Hương thời thế kỷ 17 - 18 qua các đồ bản cổ
Sông Bồ - Ảnh: wikipedia

Dẫn nhập

Huế và vùng hạ nguồn sông Hương thường bị nhiều trận lũ lụt nặng nề và đã được lịch sử ghi lại. Chính quyền Huế, các nhà khoa học đều nhận thức được sự tàn phá của thiên tai nên sau trận lụt tháng 11/1999 đã có các nghiên cứu - khảo cứu cùng các công trình thủy lợi, thủy văn nhằm hạn chế các thiệt hại do tự nhiên gây ra cho Cố đô. Các nghiên cứu về hệ sinh thái hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai1 có nhiều thông tin, nhận định cơ sở khoa học nhưng có lẽ chỉ chú ý đến sông Hương mà bỏ qua sự biến đổi địa lý hình thái của sông Bồ và hiện nay hạ tầng phát triển có lẽ không còn phù hợp với thực tiễn. 

Các trận mưa lũ liên tiếp tháng 11/2025, thành phố Huế và các vùng phụ cận bị thiệt hại nặng. Trong các bản tin thiên tai thường là: “nước sông dâng cao, nhanh” phá vỡ mọi kỷ lục trước đó gây ngập lụt diện rộng nhưng đến khi hết mưa bão thì “lũ trên sông Hương (hay sông Bồ) xuống chậm”. Cá nhân không phải là người Huế, nhưng có chút hiểu biết về bản đồ - địa hình nên thắc mắc: Huế gần núi nên có sự chênh cao độ, rừng còn che phủ cao và chỉ cách biển 10 - 12km, vậy tại sao vùng hạ nguồn sông Hương thường bị ngập do nước sông dâng nhanh nhưng lại “rút chậm”? Không phải cổ nhân Huế kém về trị thủy nhưng có thể các tác động phát triển thời hiện đại đã thay đổi cấu trúc hình thái dòng chảy và đó là những vấn đề được đặt ra sau đây.

Bài viết dưới đây nhằm nhận diện cổ địa lý hình thái qua các thông tin, thể hiện trên đồ bản cổ nên nguồn cứ liệu trích dẫn (là thứ cấp) được ghi chú ngay dưới trang để tiện tra cứu, đối sánh, liên hệ đến một sự việc/vấn đề đang xem xét (hay diễn giải sự liên quan).

I. Nguồn tư liệu và hướng tiếp cận

1. Nguồn tư liệu đồ bản và tính khả tín

a. Nguồn tư liệu đồ bản

Bởi so định thời vị (không thời gian) các khoảng vị cổ địa lý (cùng địa danh) với hiện tại nên các đồ bản cổ là cơ sở cần thiết để bàn định. Các dạng đồ bản được sử dụng và tham chiếu là:

1- Thiên Nam tứ chí lộ đồ thưGiáp Ngọ niên bình Nam Đồ thuộc bộ Hồng Đức Bản Đồ do Trương Bửu Lâm và cộng sự biên soạn2.

Tập đồ bản Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư được lập vào niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705), cụ thể là vào năm 16873. Thông tin được khai thác thuộc tờ đồ bản trang 42 - 43, sau đây viết tắt là “đồ bản 1687”. Thời gian lập vẽ tập đồ bản Giáp Ngọ niên bình Nam Đồ (tập thứ 3) được các học giả nhận định là năm 1774. Thông tin được khai thác thuộc tờ đồ bản trang 94 - 97, sau đây viết tắt là “đồ bản 1774”. Như vậy, các thông tin thể hiện trong tập đồ bản 1687 có thời vị trước đồ bản 1774 khoảng 87 năm. Trong các tập đồ bản trên đã thể hiện đường bộ, đường thủy, các sông ngòi, kinh, cảng, cửa biển cùng địa lý các đơn vị hành chính… và đó là thông tin cứ liệu được khảo xét và khai thác.

2- Tài liệu: Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV của Gustave Dumoutier4, Nhà xuất bản Hà Nội, 2020, (trang 58, 123 - 126).

3- Tờ bản đồ Côte d’ An Nam - Rivière Hue (Bờ biển An Nam - sông Huế) do JL. Dutreuil lập vẽ từ 1876 -1877 làm Sơ đồ và kế hoạch hải quân năm 1880, viết tắt là “đồ bản 1880” (nguồn sưu tầm).

4- Các tờ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000, là bản đồ trung gian khi phân tích, so sánh xác định, biểu thị các định danh của đồ bản 1687 và đồ bản 1774 với hình thế địa lý ngày nay. Các tờ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 xuất bản năm 1966 (từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông) bao gồm: Hải Lăng (6442-II), Phú Vang (6542-III), Ấp Lai Bằng (6441-I), Huế (6541-IV) và Phú Lộc (6541-I).

5- Bản đồ địa hình Huế tỷ lệ 1/250.000 (NE 48-16): là bản đồ tích hợp các mốc định vị địa lý, địa danh thể hiện hình thái, địa thế đặc trưng sau khi đã đối sánh từ đồ bản 1774, bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 về các tiêu chí xác định.

Ngoài ra còn sử dụng hình thái trên các tờ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 (tờ L909X Huế) và tỷ lệ 1/500.000 (TPC J-11D 4). Ngoài đồ bản, đồ hình minh họa thì các văn liệu khảo cứu, nghiên cứu của một số học giả được sử dụng có sự trích dẫn nguồn.

b. Tính khả tín về thời vị hay giới hạn khoảng thời gian

Khi xem xét, so sánh các cổ địa lý với địa lý ngày nay thì thông tin, cứ liệu thể hiện trên đồ bản 1774 cần có độ tin cậy về tính thời vị và sự định danh.

Năm 1738, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1714 - 1765) bắt đầu kiến thiết Kinh thành Phú Xuân, sau 36 năm bản đồ 1774 được lập vẽ. Kinh thành Huế hiện nay được lập xây thời vua Gia Long (1805) sau đồ bản 1774 chỉ 31 năm. Do vậy, các khoảng vị địa lý, địa danh khảo xét thuộc trong khoảng không thời gian từ năm 1738 đến 1805 (67 năm). Năm 1774, Giáp Ngọ niên bình Nam Đồ được lập vẽ, do đó thời vị các khoảng vị địa lý, địa danh được thể hiện trên bản đồ 1774 (thời vị trung gian) có độ tin cậy cao khi đối sánh với địa lý, địa danh ngày nay.

Tuy khoảng vị một số định danh, khối núi có sự sai lệch khi đối sánh với hình thái địa hình - địa lý hiện tại nhưng vẫn nhận định vị được bởi sự không đổi về bản chất hình thế, hình thái hay nội dung đặc trưng của địa danh. Thậm chí, một số chi tiết về hình thái địa hình trong các đồ bản cổ còn “chính xác đến từng tiểu tiết”5 như nhận định của Gustave Dumoutier. (xem hình số 03 và 04).

Ví dụ cho sự “chính xác đến từng tiểu tiết”: Trên đồ bản 1774 nằm kề bờ trái nơi đoạn sông uốn cong phía tây Phú Xuân phủ có địa danh Thiên Mụ tự được bao viền màu đen đậm khác biệt. Thực tế địa lý hình thái ngày nay đúng như đồ bản 1774 biểu thị: nền bao viền màu đen đậm biểu thị cho một vùng trũng thấp rộng 250-500m nối từ sông Hương sang sông Bạch Yến (Tiểu Giang) bao bọc phía đông đồi thấp cùng chùa Thiên Mụ kề bên bờ trái sông Hương.

Khi Tây Sơn khởi loạn (1773), sau 2 năm (1775) Phú Xuân6 bị nhà Lê - Trịnh đánh chiếm và đồ bản 1774 do người Đàng Ngoài lập vẽsự độc lập, khách quan của người ngoài cuộc. Ngoài các thông tin thể hiện trên đồ bản 1774 còn nhiều văn liệu7 mô tả vị trí, định danh các địa danh nơi chốn khi Phú Xuân bị chiếm cứ nên các thông tin rất sát thực. Qua đối sánh khoảng vị cùng các định danh trên đồ bản 1774 sát đúng với thực tế ngày nay như Phủ (府), Chính Dinh, chợ Dinh, phủ Tập Tượng, Phủ Cam

Như vậy, cùng giai đoạn lịch sử ở một nơi chốn nhưng nội dung các thông tin, sự kiện tại 02 nguồn tư liệu khác biệt nhau (là đồ bản và văn liệu) được tổ hợp (chập lại) như “mẫu số chung” thì vị trí các định danh - sự kiện đó có sự xác tín do thể hiện được không gian (vị trí) và thời gian (thời điểm): đó là đặc tính thời vị. Do vậy, các điểm mốc được xác định trên đồ bản có độ tin cậy rất cao (xem thêm bảng số 1 và hình số 01).

2. Nhận định hình thái địa lý hệ sông Bồ - sông Hương thời 1774

Các tờ đồ bản cổ được cổ nhân lập vẽ (Mục I.1- Nguồn tư liệu đồ bản và tính khả tín) bao quát trên diện rộng từ phá Tam Giang (Hải Lăng) đến đầm Cầu Hai (Phú Lộc) hiện nay. Có một sự khẳng định (hay không thể phủ nhận) kể từ thời đồ bản 1774 được lập vẽ hình thể/hình thái địa lý tự nhiên không có sự biến đổi khác biệt. Tuy khoảng vị các khối núi, dòng chảy, cửa sông, địa danh trên đồ bản 1774 có tính khái quát, ước lệ (không theo tỷ lệ) nhưng chúng ta vẫn nhận định được các địa danh (trên bản đồ và thực tế) hiện nay qua hình thế, hình thái hay nội dung mô tả đặc trưng của định danh.

a- Xác định các mốc địa lý đặc trưng

* Trên cả 02 đồ bản 1687 và 1774 đều thể hiện dòng sông Hương được phân làm 2 nhánh bao tròn một diện như cù lao đó là thành phố Huế ngày nay. Kinh thành Phú Xuân thời đồ bản 1687 lập vẽ chỉ là doanh trại chuyên “cung cấp quân nhu cho các đạo quân”8. Thời đồ bản 1774 lập vẽ sau khi kinh thành Phú Xuân đã có sự thiết lập (1738) nên khoảng vị các định danh được nhận diện sát đúng thực thế ngày nay (xem hình số 01).

Hình số 01: Trích đoạn khoảng vị các địa danh được lấy làm mốc trên tờ đồ bản 1774 khi định vị đối sánh với địa lý ngày nay. Không gian được xét bao hàm khu vực từ nam phá Tam Giang đến đầm Cầu Hai trong đó kinh đô Phú Xuân/Huế (số 6) là trung tâm. Ghi chú: 1-Võ Xá độ; 2- Chiêm Thành cổ thành; 3- Thổ sơn; 4- Triều Sơn xã; 5- Thiên Mụ tự; 6- Phủ chúa (cung Đại Nội); 7- Noãn hải môn trung thâm (cửa sông Hương); 8- Phú  Vang huyện trị; 9- Kiều (cầu Phạm Văn Đồng); 10- Bình sơn (núi Ngự Bình).
Đường nét đứt màu cam: hướng trục định vị; Mũi tên màu xanh: Hướng nước chảy; Nét màu xanh: Cầu/kiều qua sông hiện nay.


Thể hiện trên đồ bản 1774 tính từ biển vào thì từ cửa sông (cửa Noãn - số 7) qua Phú Xuân phủ (số 6) đến Thiên Mụ tự (số 5) là một trục có phương gần như Đông Tây vuông định với đường bờ biển9. Phân định 2 bên trục Đông Tây là địa lý các định danh mà hiện nay vẫn còn nhận diện được cho là mốc định vị. Bởi vị trí và tên các định danh đã được khảo cứu10 nên chỉ chọn lọc một số định danh không biến đổi (hoặc khó thay đổi) làm chuẩn mốc11 để nhận diện liên kết, đối sánh với địa lý ngày nay. Trên đồ bản 1774, tạm chọn định 10 mốc có tính định vị có số thứ tự (từ bắc xuống nam, từ đông sang tây). Vị trí các địa danh được chọn và đánh số như bảng sau:

Bảng số 01: Vị trí-khoảng vị các định danh chọn làm mốc định vị có tính thời vị. Ngoài ra còn nhiều khoảng vị địa lý được đối sánh, xác định sát đúng với địa lý ngày nay bởi tính đặc biệt, đặc trưng như: Chính Dinh (正府), phủ Tập Tượng (集象府), Phủ Cam (府甘)…


Lưu ý: Các tập đồ bản được cổ nhân lập vẽ có tính ước lệ luôn theo quy ước từ ngoài cửa sông, biển tiến dần vào trong nội địa (nghĩa là từ Đông sang Tây). Để thuận cho sự tổng hợp và so sánh với địa lý hiện tại nên đồ bản được xoay định lại theo phương/hướng Bắc - Nam như địa lý đồ bản ngày nay.

b- Đối sánh với địa lý hiện tại và nhận định sự thay đổi hình thái từ 1774 đến 2025.

Tuy đồ bản cổ có tính khái quát, ước lệ (quan tâm đến các cửa sông) nhưng qua phân tích các mốc định danh và đối sánh hình thái địa lý hiện tại có nhận định: Căn cứ vào khoảng vị bắc Thổ sơn là Võ Xá độ (武舍度) là nơi “đi qua/ vượt sang bờ bên” của một dòng nước đó là sông Bồ ngày nay. Hình thái của sông Bồ trên đồ bản 1687 và đồ bản 1774 đều có chung đặc điểm: dòng nước có hướng chảy thiên về Đông Bắc đổ vào phá Tam Giang chảy ngang Sa Đôi thị (沙堆市). Trên cả hai đồ bản định danh Sa Đôi thị (沙堆市) nằm kề bên phá Tam Giang nhưng phân định thuộc bờ trái (tính xuôi dòng) dòng thoát nước chính của sông Bồ khi chảy ngang qua (xem hình số 2 và số 3).

Vậy nước sông Bồ thời 1774 còn đổ ra phá Tam Giang ở khoảng vị nào ngày nay? Sa Đôi thị là như thế nào và khoảng vị ngày nay ở đâu? Theo từ chữ biểu ý thì: Sa (沙) là cát, hạt cát; Đôi (堆) là tích tụ, dồn, chất đống, chồng xếp như đồi nhỏ và thị (市) là đô thị (chợ). Cổ địa lý tự nhiên qua các thời kỳ đã hình tạo các dãy cồn cát biển xếp lớp, chồng chất kéo dài rộng khắp huyện Phong Điền. Trên đồ bản 1774, khoảng vị Sa Đôi thị thuộc phần thấp dưới kề cạnh phá Tam Giang. Nơi tập trung dân cư (thị/chợ) ven cồn cát dồn xếp chất đống như đồi (Sa Đôi) kề cạnh phá Tam Giang chính là thị trấn Sịa ngày nay (xem hình số 2 và số 3).

Hình số 2: Hình thái một dòng nước (sông Bồ) chảy ngang qua Sa Đôi thị đổ nước vào phá Tam Giang được trích đoạn trên đồ bản 1687.
Hình số 3: Hình thái nước sông Bồ phân nhánh chảy ngang qua Sa Đôi thị đổ nước vào phá  Tam  Giang được trích đoạn trên đồ bản 1774.


Như vậy, qua hình thái thể hiện trên cả hai đồ bản 1687, 1774 có thể khẳng định: Trong khoảng 117 năm vẫn còn một dòng nước chảy ngang qua Sa Đôi thị (沙堆市) đổ vào một đầm nước rộng12 nay là phá Tam Giang. Phần trên (hướng bắc) của phá Tam Giang chỉ có một cửa sông đổ vào đó là sông Ô Lâu. (Xem thêm hình số 2 và số 3).

Cho đến thời 1774, sông Bồ tuy đã phân dòng đổ nước về sông Hương ngang qua Chiêm Thành cổ thành (số 2 - thành Hóa Châu) đúng như mô tả từ thế kỷ 1613 nhưng vẫn còn đổ nước vào phá Tam Giang ở Sa Đôi thị (thị trấn Sịa). Không rõ từ khi nào nước sông Bồ chủ yếu đổ vào sông Hương như hiện nay!?. Chỉ biết rằng thời vị 1880 hình thái sông Bồ tại ngã ba làng Xình (Sình) chỉ là một nhánh sông14 nhỏ!

Một góc nhìn về tên Sịa: Sịa là gì, tại sao là Sịa? Các giải nghĩa thường căn cứ vào từ chữ Sịa để diễn giải nên sự giải thích như sự “gò tôn” không thuyết phục. Bởi cho rằng Sịa là từ gốc mà bỏ qua sự biến âm > và “nuốt âm” trong ngôn ngữ dân địa phương. Gốc định danh là Sa Đôi (沙堆) do âm ngữ địa phương đã biến nuốt âm Sa (沙) > thành Sạ (乍) > rồi thành Sịa (biểu thị từ bởi chữ 笮), tương tự như Các Lái > Cát Lái.

Các thông tin, khoảng vị địa lý (tên địa danh, vị trí, nội dung) trên đồ bản 1774 sau khi đối sánh, xác định phù hợp với địa lý ngày nay được chuyển thể tương đối lên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 > sau đó được tích hợp lên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 như Hình số 04 (xem hình số 04 và bảng số 01).

Hình số 04: Khoảng vị các khối núi, địa danh, cửa sông trên đồ bản 1774 đã xác định trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 được tích hợp trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ 1/250.000. Khi đó, các dòng chảy đường bờ, cửa sông (màu xanh), các khối núi (màu đen đậm) được mô phỏng theo hình thái địa lý đồ bản 1774 với đường nét đứt màu cam là hướng trục định vị.

(Trích đoạn nền địa hình tờ bản đồ Huế (NE 48-16), tỷ lệ 1/250.000).


* Nhận định cửa sông Hương trên đồ bản 1774

Sau khi phân tích các mốc định danh trên đồ bản 1774 đối sánh, so định với địa lý/bản đồ hiện tại có thể hình tượng được khoảng vị, hình thái cửa sông Hương (Kim Trà) thời 1774 đổ ra biển.

Trên đồ bản 1774 có thể hiện một vùng cửa sông (số 02) với ghi chú là Noãn hải môn trung thâm (渜海門中深) nhằm diễn tả cửa sông15 nơi biển lấn sâu vào trong đất liền (海) có vùng đất hoang thấp hai bên bờ sông và sâu ở giữa. Còn trên đồ bản 1687 cửa sông được định danh là Tư Khách hải môn (客海門) khá rộng dạng hom/phễu thể hiện sự lấn sâu vào trong đất liền của biển (海). Qua sự biểu ý của từ chữ có nhận định: cửa sông Hương thời 1687 đến 1774 còn là một vùng nước rộng, dạng hom, phễu biển còn lấn sâu vào trong nội địa. Khi đó đường bờ biển “được viền bên trong” thuộc khu vực rừng Rú Chá (Vân Quật Đông, Hương Phong). Cho đến 123 năm sau dấu tích vẫn còn “là một cái phá do sông Hương tạo thành trước khi đổ ra biển”16 khi Paul Doumer đi qua vào năm 1897 (1897 - 1774 = 123). Đương nhiên khi đó (1774) đường bờ biển thuộc cửa Thuận An hiện nay đến Hòa Duân chưa định hình bởi biển lấn sâu vào trong đất liền trong khoảng từ 1,3 - 1,5km (xem hình số 4 và chi tiết trên đồ bản 1880).

Biểu thị trên đồ bản 1774 phía nam Phủ chúa (số 6) luôn có “các cơ thủy binh” trên một nhánh sông (số 9) hướng chảy về phủ Kẻ Nông rồi đổ về đầm Cầu Hai, nay là sông Đại Giang - Cống Quan. Một nhánh sông ngang qua núi Bình (số 10) nay là sông Phủ Cam nối với kênh An Cựu. Như vậy có thể khẳng định thời 1774 sông Hương còn chia nước về đầm Cầu Hai qua sông Phủ Cam và Đại Giang - Cống Quan. Nhưng hiện nay qua các biến đổi dân sinh mà nước sông Hương (thuộc khu vực cổng kinh thành) không còn sự tiêu thoát qua sông Vân Dương (sông Như Ý - Cống Quan) đổ về đầm Cầu Hai nữa.

II. Địa lý, hình thái sông Bồ và sông Hương hiện tại

1. Địa lý và hình thái chung

Địa lý tự nhiên khu vực nam Quảng Trị đến Hải Vân nằm trong vòng cung địa hình từ núi Coc Muen (Phong Mỹ, Phong Điền) đến Vườn quốc gia Bạch Mã (Lộc Trì, Phú Lộc) với dây cung khoảng 80km. Do bị phong hóa, xâm thực bóc mòn nên hình thái địa hình khu vực Huế có dạng như một “lòng chảo nghiêng” với hướng dốc chung là đông bắc - tây nam (ĐB - TN). Các khối núi do tự nhiên cấu tạo đã quy định dòng chảy theo một phương có hướng vector nhất định nào đó. Do vậy, trong địa hình dạng “lòng chảo” nghiêng đã hình thành nên 03 dòng chảy cùng hướng về tâm nhưng có phương hướng khác nhau. Sông Ô Lâu và sông Bồ đều có phương chung từ tây nam hướng lên đông bắc (TN - ĐB), còn sông Hương có hướng ngược từ nam lên bắc (N - B). Khi cát biển tự nhiên dần bồi lấp nơi hội tụ của ba con sông tạo đầm/vũng nước rộng lớn gọi là phá Tam Giang17 đã mô tả đặc trưng địa lý của vùng đầm phá này (xem hình số 5).

Hình số 05: Tổng thể địa lý hình thái tự nhiên lưu vực sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương.
Đường đậm màu nâu: Biểu thị vòng cung địa hình; Mũi tên màu xanh: hướng vector chung của dòng chảy trước khi bị lấp chặn. [Trích đoạn từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/500.000 (TPC J-11D 4) xuất bản năm 1989].


Qua các dấu hiệu hình thái cho thấy: trước khi có các đê cát ven biển kéo dài từ Phong Chương (Phong Điền) đến Sịa (Hương Trà) thì sông Bồ và sông Hương đổ ra biển trong khoảng Quảng Lợi (Quảng Điền) mà dấu tích lòng sông cũ là các bàu trũng (Bàu Thú, bàu Sen, bàu Niên) cùng các Cổ Tháp, đền miếu vùng Quảng Điền. Khi bị các cồn cát biển lấn dần vào nội địa chắn chặn, lấp dần cửa sông mà hình tạo nên phá Tam Giang. Khi đó, sông Bồ, sông Hương bắt buộc điều chỉnh sự thoát nước về phía ĐN, qua nhiều lần biến chuyển mà sông Bồ dịch chuyển dần về phía đông. Ngày nay dấu tích lòng sông cổ qua các lần biến chuyển phân định rộng khắp khu vực Quảng Vinh, Quảng Phú (Quảng Điền) cùng miếu thờ Đại Càn18 của dân sinh. Còn sông Hương khơi phá các lạch triều sau cồn hình tạo nên liên đầm Hà Trung - Thủy Tú và mở các cửa như sách sử đã ghi lại.

Qua hình số 5 cho thấy: lưu vực sông Bồ và sông Hương có khoảng cách từ đỉnh các núi trên vòng cung địa hình đến biển từ 45 - 50km nhưng tỷ lệ đón nước gấp 2 lần thoát nước (90/45). Do hình thái địa lý như vòng cung đón gió Đông, lưu vực đón, chứa nước trải rộng lại dốc nghiêng phương đông bắc, liền kề biển, các điểm dân cư đất bãi ven sông, cửa nước thoát trước khi đổ ra biển bị tự nhiên bồi lấp, chắn/chặn19 cùng sự cải biến bởi dân sinh và cơ sở hạ tầng, giao thông nên khi mưa lớn, sự thoát chậm thì nước sông dâng cao là tất yếu (xem hình số 5).

2. Bàn về sự biến đổi hình thái địa lý qua thời gian hay hiện trạng hình thái hệ sông Bồ - sông Hương ngày nay

Khoa học địa lý ngày nay đã khẳng định/chứng minh mực nước biển dao động theo chu kỳ: khi dâng lên thì tiến sâu vào trong đất liền (biển tiến), qua một thời kỳ dâng cao rồi dần hạ thấp xuống (biển lùi/thoái). Khi mực nước biển hạ dần thì đường bờ lùi ra xa nên nhiều vùng đất thấp, đảo trước đây bị che ngập đã nổi/hiện lên, các diện/vùng đất ven biển được tăng/rộng lên. Khi mực nước biển lùi xa đương nhiên dòng hải lưu cấu tạo lại đường bờ bởi các cồn cát ven biển đã hình tạo nên đầm phá, vũng vịnh cửa sông/cửa biển mới. Số liệu qua các nghiên cứu của người Pháp cho biết: “từ 1470 đến 1830 đồng bằng (sông Hồng) lấn ra biển 10 - 12km, trung bình 100 năm khoảng 3km”20 và vẫn còn tiếp tục lấn ra biển, đồng nghĩa với mực nước biển hạ thấp dần21. Không phải tự nhiên mà có công cuộc lấn biển của Nguyễn Công Trứ trong khoảng thời gian từ 1820 - 1829. Nhiều văn liệu khảo cứu đã chứng minh sự tàn lụi của cảng thị Hội An, Thị Nại bởi sự bồi lấp cửa sông và cửa sông Hương cũng không ngoại lệ.

Theo Địa chí Thừa Thiên Huế thì “Hệ thống sông Hương (diện tích lưu vực 2.830 km2) có 3 nhánh sông chính: sông Bồ, sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch”22. Như Mục II.1 đã dẫn, do quy định tự nhiên nên sông Bồ và sông Hương có sự khác biệt nhau về cổ địa lý hình thái, phương chảy và phá Tam Giang là nơi hội tụ của 03 nhánh sông. Phương chảy chung của sông Bồ là TN - ĐB nhưng bị các cồn cát bồi lấp, chắn chặn sự thoát nước, nhân sinh thay đổi hình thái (đường giao thông, đầm ruộng, cống ngăn…) nên dòng chảy uốn lượn, phân định dần hướng thoát về Đông Nam. Qua các biến đổi về địa lý, hình thái mà sông Bồ dịch theo phương Đông Tây nhập vào sông Hương thành một hệ sông. Sự biến đổi, dịch chuyển dòng của sông Bồ có lẽ chưa có các khảo cứu khoa học!?

Các khảo cứu nhận định: cửa sông Hương có nhiều tên gọi như Noãn hải môn, Nhuyễn hải môn, Thuận An, Hải Khẩu, cửa Sứt, cửa Eo, cửa Lấp là biểu thị các lần biến động cửa. Các nghiên cứu cho rằng cửa sông Hương thường mở, đóng trong khoảng địa lý từ thôn Thái Dương23 đến Hòa Duân24. Cá nhân thắc mắc: sự biến động tự nhiên một vùng cửa sông luôn có tính không gian, vậy tại sao qua các thời kỳ nhưng sự dịch chuyển cửa Thuận An (cửa sông Hương) chỉ dịch chuyển theo chiều dọc.

Qua xem định sự thể hiện các thông tin trên đồ bản 1774 đối sánh với hình thái, địa ngày nay cho thấy: Cửa sông Hương thời 1774 không ở khoảng vị thuộc bờ biển ngày nay. Bởi mặc định mực nước biển không thay đổi nên rất có thể các nhà khảo cứu chưa xét đến sự dịch chuyển cửa sông theo chiều ngang hay bỏ qua sự mực nước biển lùi xa bờ trong khoảng từ 1687 đến 1800 (hơn 100 năm). Khi mực nước biển dần lùi xa bờ, phù sa bồi lắng, vùng đất thấp nơi rừng Rú Chá được hiện nổi, cát biển dần bồi tạo các dãy cồn, nên trong khoảng hơn 100 năm cửa Noãn (Nhuyễn) tiến dần ra biển dù bị các cồn cát biển lấn lấp và đó là gốc của định danh cửa Eo.

Đầu thế kỷ 19 (1813) vua Gia Long lập dựng 02 pháo đài trấn giữ cửa Eo với tên gọi khác là Thuận An (bởi tên làng Thuận An). Khi đó, từ chợ Thuận An (có trấn Hải Thành) ngược lên Thai Dương - Quảng Ngạn chỉ là “cồn cát biển trải dài bất tận về phía bên phải”25 như Paul Doumer đã mô tả khi đến Huế gặp vua Thành Thái năm 1897. Thời điểm năm 1880, khu vực phía nam cầu Thuận An (Tân Mỹ, Phú Tân) hiện nay chưa có dân cư bởi sông Hà Đao là một cửa thoát, khi đó xóm Cồn Đỉnh - Cồn Sáo - Cồn Tè liền là một dải đất thấp26. Đến năm 1904 sau một trận lũ lớn cửa Thuận An (cửa Eo) bị cát bồi cạn27 gần như không thông ra biển nữa nên địa điểm đó có tên là cửa Lấp.

Lưu ý thêm chi tiết: Thời vị 1687 đầm Cầu Hai là vũng kín28 chưa được nối thông ra biển qua cửa Tư Hiền nhưng đến thời 1774 (sau 87 năm) cửa Tư Hiền đã được mở qua một lạch nước nối thông từ cửa Nhuyễn (Thuận An) đến cửa Tư Hiền. Sông Hương qua quá trình biến dịch, phá nước tạo cửa mới đã mở rộng hình tạo nên đầm Thanh Lam - Hà Trung - Thủy Tú.

Như vậy, so từ thời 1774 đến nay (sau 250 năm) cửa sông Hương (cửa Noãn/Nhuyễn) đã dịch sang phía Đông khoảng 1500m, mặt khác cửa sông còn dịch về phía Đông Nam dao dộng trong khoảng 6,5km (xem hình số 6 và bản đồ năm 1880).

III. Hướng giải pháp và đề nghị

Sở dĩ có sự dài dòng dẫn ở mục I và II như trên chỉ nhằm dẫn chứng thời 1774 nước sông Bồ còn đổ về phá Tam Giang mà chưa dồn cả về sông Hương như ngày nay. Đồng thời sông Hương còn chia nước theo sông Như Ý - Đại Giang chảy qua phủ Truồi đổ vào đầm Cầu Hai. Dù có các cồn cát bồi, chắn nhưng hệ sông Hương luôn thoát nước ra biển đó là sự tự nhiên không thể thay đổi nhưng có thể cải tạo. Khi nước sông Bồ cùng dồn về sông Hương cùng mưa lớn tăng áp lực sức nước nên sông Hương buộc phải phá nơi xung yếu để thoát nước ra biển đồng thời mở rộng hình thành hệ đầm Thanh Lam - Hà Trung - Thủy Tú. Có thể thấy dấu tích cửa Tư Hiền trước đây ở phía bắc núi Hàm Rồng (Vinh Hải) nhưng hiện nay lại ở phía nam núi Hàm Rồng (Vinh Hiền).

Không phủ nhận mưa lớn cực đoan gây ngập lụt29 nhưng khi nước sông dâng quá cao và thoát chậm ắt có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Bởi không đủ thông tin và số liệu nên cá nhân không đề cập đến các công trình thủy điện, thủy lợi, giao thông, cầu cống… tác động đến hình thái dòng chảy. Tôi không phải là dân thủy lợi - thủy văn nhưng thiết nghĩ nếu chia nước về nhiều hướng thoát ắt nước sẽ thoát nhanh hơn, sự ngập úng được giảm thiểu nên có đề xuất chuyển hướng thoát nước sông tại một số nơi như sau:

1- Chuyển sự thoát nước của sông Bồ đổ về phá Tam Giang

Căn cứ vào hình thái dòng chảy, diện tụ nước sông Bồ (938km2) ước định có thể giảm 1/3 lượng nước dồn về sông Hương đồng thời tiêu thoát vùng Quảng Điền qua kênh đào tại một số vị trí (có thể) như sau:

1-1: Đào kênh tắt Phò Nam từ ngã ba sông nối đến Quảng Thọ khoảng 950m; 1-2: Đào kênh mới từ thôn Phước Thành (Quảng An) qua An Xuân đến Mai Dương (Quảng Phước) khoảng 3km; 1-3: Đào mới từ cầu Ngã tư đến Phước Lập (Quảng Phước) khoảng 4,2km; 1-4: Khơi và mở rộng sự thoát về cống Quán Cửa, Quảng Thành (Xem hình số 6).

2- Tăng sự thoát lưu nước khu vực cửa sông Hương

Càng nhiều nơi thoát ắt hạn chế sự nước dâng, dồn về một nơi chốn với đề xuất như:

2-1: Mở kênh nối sông Hương ở Hòa An (Dương Nỗ) về cầu Diên Trường (Hói Bùng Binh) khoảng 0,8km; 2-2: Mở kênh đào nối sông Hương với Rú Chá ở Thuận Hòa (Hương Phong) khoảng 0,8km; 2-3: khơi đào trả lại dòng nước nối sông Hương với sông Hà Đào ở 221-163 Kinh Dương Vương như thời đồ bản 1880; 2-4: Nắn chỉnh đoạn sông Bạch Yến giao với sông Hương, cải biến cù lao chắn sông Bạch Yến ở phía tây Cơ sở Bảo trợ Hoa Sen (Hương Hồ) nhằm phân sự thoát nước từ trước khi nước dồn về khu vực Cố đô Huế. (Xem hình số 6).

Hình số 06: Khoảng vị đề xuất các kênh đào (màu đỏ) tiêu thoát sông Bồ và sông Hương cho vùng hạ du Quảng Điền, Phú Vang. [Trích đoạn nền địa hình tờ bản đồ Phú Vang (6542-III), tỷ lệ 1/50.000].


3- Chuyển sự thoát nước của sông Hương đổ về đầm Sam - Cầu Hai:

Thời 1774 sông Hương còn nhiều phân nhánh đủ rộng đổ nước về đầm Cầu Hai hạn chế sự nước dâng cho cố đô nhưng nay sự cải tạo đã thay đổi hình thái.

3-1: Mở kênh tắt từ cầu Vân Đập sang phủ thờ Tôn Thất Thuyết (Thủy Phong) khoảng 1,6km. 3-2: Đồng thời khơi thoát, mở rộng toàn bộ đoạn sông Như Ý từ cầu Vân Đập - cầu Thống Nhất - cầu Thanh Toàn đến Phú Lương (Phú Vang) nhằm tăng sự thoát lưu nước về đầm Cầu Hai (xem hình số 7).

Hình số 07: Khoảng vị đề xuất các kênh đào (màu đỏ) tiêu thoát sông Hương đổ về đầm Sam và đầm Cầu Hai [Trích đoạn nền địa hình tờ bản đồ Huế (6541-IV), tỷ lệ 1/50.000]. đoạn nền địa hình tờ bản đồ Phú Vang (6542-III), tỷ lệ 1/50.000].


Về bản chất, sự đề xuất mở kênh đào mới, khơi thông dòng nước thoát chỉ là trả lại các điều kiện tự nhiên vốn có trước đây của các dòng chảy mà thôi. Tuy sự mở thêm kênh thoát hao tổn chi phí nhưng xét tổng thể về chuỗi khi quy hoạch tổng thể về: Trị thủy - Giao thông - Thủy Lợi - Thủy sản có nhiều sự thuận khu vực hạ nguồn sông Hương trong tổng thể hệ sinh thái phá Tam Giang - Cầu Hai.

Cửa sông Hương thời năm 1880 - Trích đoạn bản đồ Côte d’ An Nam - Rivière Hue tỷ lệ  1/20.000. (Bờ biển An Nam, sông Huế) do JL. Dutreuil lập vẽ từ 1876 -1877 làm Sơ đồ và kế hoạch hải quân năm 1880.


Viết khi Huế bị thủy tai nghiêm trọng tháng 11/2025.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025.

T.N.M
(TCSH443/01-2026)

-------------------
1 Trần Đức Thạnh và nnk, Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai giá trị tài nguyên và vấn đề biến động cửa; Nghiên cứu Huế (tập ba); Trung tâm nghiên cứu Huế, 2002.
2 Thiên Nam tứ chí lộ đồ thưGiáp Ngọ niên bình Nam Đồ, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 2 (109), 2014, Trương Bửu Lâm và nnk, Hồng Đức Bản Đồ (bản pdf), Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1962 (Nguồn https://vanhoadoc.thuvientphcm.gov.vn).
3 Theo Nguyễn Quang Ngọc, Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa - Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử, Nhà xuất bản Đại Học Quốc gia Hà Nội, 2017.
4 Gustave Dumoutier đã sao lục Hồng Đức Bản đồ trong đó có Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, Giáp Ngọ niên bình Nam Đồ. Ông đã khảo sát thực địa năm 1895 và xuất bản nghiên cứu của mình năm 1896 với tựa “Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV”, Nhà xuất bản Hà Nội, 2020.
5 Gustave Dumoutier, Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV (Nguyễn Văn Trường dịch); Nhà xuất bản Hà Nội; 2020 (trang 171).
6 Các chúa Nguyễn buộc phải lánh trốn chạy về phía nam.
7 Lê Quý Đôn đã ghi về kinh đô Huế trong Phủ biên tạp lục (1776).
8 Gustave Dumoutier, Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV, Sđd, tr.173.
9 Phương địa lý thực tế ngày nay là ĐB-TN vuông định với đường bờ biển phương TB-ĐN.
10 Thiên Nam tứ chí lộ đồ thưGiáp Ngọ niên bình Nam Đồ; Sđd.
11 Mốc định vị để làm chuẩn là: núi, hình thái ngã ba, khúc uốn đặc biệt của sông, nơi tâm linh, thờ tự (lăng miếu, tổ đình).
12 Đồ bản 1687 gọi là nơi “Thủy tụ nội phả khoát” (水聚㘨頗阔): nơi nước tụ lại, họp lại lớn rộng nhưng nghiêng (lệch) chỉ phá Tam Giang lệch nghiêng chảy xuôi về Đông Nam.
13 Theo Dấu xưa thành cổ Hóa Châu: “Thành ở huyện Đan Điền, phía Tây có con sông Đan Điền (sông Bồ) chảy qua. Và có một nhánh nhỏ chảy vào trong thành…”.  Huyện Đan Điền thời chúa Nguyễn Hoàng sau đổi thành huyện Quảng Điền bao gồm Quảng Điền và Phong Điền ngày nay. (Nguồn http://tapchisonghuong.com.vn ngày 30/1/2013).
14 Xem trên bản đồ Côte d’ An Nam rivière Hue (Bờ biển An Nam, sông Huế - Sơ đồ và kế hoạch hải quân) do JL. Dutreuil lập vẽ năm 1880 (nguồn sưu tầm).
15 Noãn hải môn trung thâm (渜海門中深): với Noãn (渜) - một âm khác là Nhuyên/Nhuyễn chỉ đất trống, thấp bao quanh ven bờ; hải (海) - danh từ chỉ biển nằm trong đất liền (một vũng lớn); trung thâm (中深) - sâu ở giữa.
16 Paul Doumer, Xứ Đông Dương (Hồi ký), Nhà xuất bản Thế Giới, 2022 (tr. 285).
17 Từ Tam Giang có nghĩa là “ba con sông” gồm sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương.
18 Theo nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh, trong cuốn “Tín ngưỡng dân gian Huế” thì Phúc thần “Đại càn Nam hải tứ vị Thánh nương” luôn được lưu truyền dân gian tại các làng biển xứ Nghệ, xứ Thanh và cả xứ Huế thường được ngư dân đi biển lập đền thờ cúng.
19 Đã có nhiều tư liệu khoa học và thực tế về các cửa sông bị bồi lấp, mở mới không riêng vùng Huế.
20 Pierre Gourou (2004), Người nông dân châu thổ Bắc kỳ; Nxb Trẻ, tr. 49-50.
21 Theo Pierre Gourou, Sđd tr. 239. Do vậy mà có các cuộc khẩn hoang của Nguyễn Công Trứ ở vùng ven biển Quảng Yên (năm 1828), Thái Bình, Ninh Bình năm 1829.
22 Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Tự nhiên; Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2005.
23 Cửa Thai Dương gắn với truyền thuyết về Thai Dương Phu Nhân hóa đá ở cửa biển.
24 Trần Đức Thạnh và nnk, Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai giá trị tài nguyên và vấn đề biến động cửa; Nghiên cứu Huế (tập ba); Trung tâm nghiên cứu Huế, 2002.
25 Paul Doumer, Xứ Đông Dương (Hồi ký), Nhà xuất bản Thế Giới, 2022 (tr. 283): Quan sát, mô tả của Paul Doumer năm 1897.
26 Xem trên bản đồ Côte d’ An Nam - Rivière Hue (Bờ biển An Nam, sông Huế) do JL. Dutreuil lập vẽ từ 1876 -1877 làm Sơ đồ và kế hoạch hải quân năm 1880 (nguồn sưu tầm).
27 Sự bồi cạn là một quá trình đã có từ thời gian dài trước qua “các quả bóng đen cắm trên sào thông báo cồn cát ngầm lúc nào là yên ả, dễ vượt qua, khó qua và không thể qua” khi Paul Doumer đến Huế năm 1867 (Paul Doumer, sách đã dẫn, tr. 285).
28 Đồ bản 1687 ghi là: Thủy tụ nội phả khoát (水聚㘨頗阔): nước hội tụ về rộng.
29 Đã có nhiều trận lụt được lịch sử và hiện tại ghi lại.

 

 

 

Các bài đã đăng