NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Đã có một thời nhà văn viết ra tác phẩm, sách được phát hành, là coi như xong việc. Khen chê bình luận trên báo chí (nếu tác phẩm gai góc hay thách thức những khuôn khổ quyền lực văn hóa, chính trị..., đủ để dấy lên các luồng dư luận trái chiều) thì dù tốt - xấu, hay - dở, thậm chí phải - trái, thảy đều là chuyện của thiên hạ.
Sự thờ ơ bất chấp với dư luận - phẩm chất sẵn có nơi người sáng tạo - được “tiếp tay” bởi sự giãn cách thường xuyên giữa cõi tĩnh tại của căn phòng của nhà văn với lẽ bán mua của thị trường xuất bản. Điều này mang lại cho nhà văn một chốn nương náu vật lý và tâm lý biệt lập với mọi thứ bên ngoài.
Qua việc chú tâm vào thực hành viết, kẻ cố chấp - tác giả - sống trọn vẹn trong thế giới mà mình tạo dựng. Công việc của nhà văn từ tốn trong một trật tự thời gian riêng, có tính lặp lại, như bậc tư tế tiến hành nghi thức tôn giáo. Thế giới trong tác phẩm trở thành trung tâm đời sống của nhà văn, các tương quan hướng ngoại đóng vai trò thứ yếu.
Chúng ta phải tiếc nuối vì một thời đại tự tại của văn nhân đã đi qua. Ngày nay, thế giới ẩn dật (đương nhiên là có phần khó gần và bí ẩn) của các nhà văn đã bị nhiễu động, kịch bản hóa bởi các làn sóng quảng bá. Bản thân nhà văn hôm nay cũng chịu một sức hút khó cưỡng của xã hội thị trường và truyền thông. Căn phòng riêng của tác giả đã chật đầy những tạp âm eo sèo.
Hẳn rằng một số tác giả, đặc biệt là người viết thức thời hôm nay sẽ phản biện rằng, đừng tô vẽ, cường điệu về quá khứ như vậy. Rõ ràng ngày hôm qua cũng đã có những nhà văn ta thán về sự buồn tẻ, bị cô lập, bị đẩy vào bước đường cùng của nợ nần, nghèo nàn và thiếu thốn, chịu sự bạc bẽo và ghẻ lạnh của người đời. Các cảnh huống hài-đen về văn nghiệp trong quá khứ cũng nhiều không kém các hư cấu về những thân phận tăm tối chua chát trong nhân gian mà văn giới đã dệt nên.
Chẳng phải lịch sử văn chương nhân loại cũng từng chật đầy những kho chuyện buồn tủi của các văn nhân đó sao?
“Vậy thì có gì đáng để tiếc nuối hay than thở? Hãy sống hết trách nhiệm cho hôm nay. Kẻ làm nghề văn trong thời đại này chắc hẳn vui vẻ hơn xưa nhiều. Không gian truyền thông rộng mở, cây cầu gắn kết giữa nhà văn và độc giả được thiết lập dễ dàng, thông thoáng tiện lợi vô cùng. Nhà văn hoàn toàn có thể bước ra khỏi căn phòng cô lập bốn mùa để gặp gỡ người đọc (hoặc sẽ đọc) mình, trực tiếp - bằng xương bằng thịt, lắng nghe tâm tư và kỳ vọng của họ; thăm dò được hiệu ứng to nhỏ từ họ. Tác phẩm anh ta không còn là viên sỏi ném vào mặt hồ dày đặc sương mù không âm không vọng. Trên cây cầu đầy những sự kiện “giao lưu” đó, tác giả có thể giải thích, nói đôi điều về công việc, chọn lựa của mình khi viết, thậm chí tiết lộ dụng ý, thông điệp của tác phẩm nếu độc giả yêu cầu. Một cách khéo léo, anh ta tự mình nắn chỉnh chiều hướng cảm thụ tiệm cận với ý đồ sáng tác. Anh ta nắm lấy cơ hội để tiếng nói của mình được chú ý hơn, vai trò xã hội phía sau trang viết của nhà văn cũng trở nên rõ ràng hơn. Từ đó, tác phẩm không còn là một hộp chứa những mật mã, những thách đố, những khối suy tư cô đặc và phong kín, mà chúng (có vẻ như) được ‘giải mật’, hé lộ bởi chính người viết. Mọi thứ minh bạch tuyệt vời, sao lại phải phàn nàn?”, họ - những người cầm bút thức thời - phản biện.
Điều đó không sai. Nếu xoay trục nhìn về phía giới kinh doanh xuất bản thì lại càng vô cùng tích cực cho thị trường. Hiệu quả truyền thông quyết định sức bán. Và người viết một cuốn sách, theo cách nhìn thuần túy thị trường, là tham gia vào một mắt xích cốt lõi trong dây chuyền sản xuất một sản phẩm. Sản phẩm đó vận hành trong thị trường theo đúng các nguyên lý sòng phẳng của nó. Nên cũng như nhà sáng chế xe hơi, điện thoại, dòng sản phẩm gia dụng hay một loại mỹ phẩm nào đó, khi ra mắt tác phẩm mới, nhà xuất bản cần nhà văn xuất hiện, thuyết minh về “sản phẩm” của mình, hé lộ thông tin về lao động, sáng chế ngôn từ cho đến bếp núc công việc của mình. Xét ở góc độ xã hội thị trường là hoàn toàn hợp lý. Phát ngôn của tác giả sách bên ngoài tác phẩm trở thành chất liệu để gia tăng sức lan tỏa (viral) thông tin có chủ ý trong dòng chảy truyền thông nhiều cạnh tranh. Không có gì phải chê trách. Cho cùng, là để hiệu ứng thông tin về tác phẩm được lan rộng, nhiều người biết, tìm kiếm và, còn gì tốt đẹp hơn: chốt đơn mua sách.
Vì thế, với các nhà xuất bản ngày nay, việc xây dựng hình ảnh, khuếch đại sức ảnh hưởng truyền thông trực tiếp từ tác giả trở thành một trong những chiến lược tiếp thị quan trọng. Một ông nhà văn trong thời quá khứ nếu sống dậy, đi lạc vào thị trường xuất bản bây giờ, chắc hẳn sẽ ngơ ngác, toát mồ hôi khi nhận được phản hồi của nhà xuất bản về tác phẩm của mình đại loại rằng, “Thưa ông, chúng tôi đã nhận được tác phẩm mới của ông. Thật vinh dự khi được đồng hành với ông trong việc xuất bản. Nhưng nhân tiện xin ông cung cấp cho chúng tôi thông tin về các kênh truyền thông cá nhân trên mạng xã hội và các ý tưởng truyền thông để chúng tôi tính toán kế hoạch quảng bá mới mong có được hiệu quả thị trường sau khi phát hành”. Thật nhã nhặn và minh bạch. Có khi, đúng ra là nhiều khi, còn tế nhị hơn: “Thưa ông, tác phẩm của ông là những đột phá ấn tượng, nhưng để những đột phá đó thu được kết quả tương xứng, chúng tôi có một số đề nghị về việc giao lưu ra mắt sách sau khi xuất bản, như sau...”. Và các điều khoản “hỗ trợ truyền thông” như một ràng buộc trách nhiệm của tác giả với tác phẩm được ghi vào trong hợp đồng bản quyền - một cam kết có tính pháp lý mà nhà văn khó đóng cửa phòng lẩn trốn được.
Có những nhà xuất bản đo độ ảnh hưởng của tác giả qua sức mua ngay trong các đợt giao lưu ra mắt tác phẩm mới. Trong một nền xuất bản chưa trưởng thành, thì thước đo giá trị nghệ thuật là thứ không hề được đoái hoài, thay vào đó, sức bán và độ lan tỏa thông tin nhất thời sẽ được mang ra đong đếm và ưu tiên. Tác giả không được nhiều follower trên mạng, không có kênh truyền thông riêng, không chịu xuất hiện trước công chúng hay thậm chí không “duyên dáng” trong các buổi giao lưu thì cũng coi như là một điểm trừ to tướng cho tương lai các tác phẩm của anh ta về sau.
Này ông nhà văn đến từ quá khứ, vui lòng quay về thời đại của ông, yên nghỉ với sự cơ hàn cô độc để đổi lấy giấc mộng đẹp đẽ “viết xong là xong”.
Duy trì một hệ thống nguyên tắc riêng, ở đó một mặt không gian biệt lập của nhà văn trở nên bất khả xâm phạm, mặt khác lại có thể ứng xử linh hoạt với thực tế khắc nghiệt của trách nhiệm phơi bày bản thân phía sau trang viết là điều mà không phải tác giả nào cũng làm được. Và không cần phải đặt mình vào thế giằng xé hay đấu tranh tư tưởng làm gì, đa phần nhà văn ngày nay nhanh chóng chọn “hướng tha” (nếu không muốn dùng từ “tha hóa” [giải thích thêm: từ “tha hóa” dùng ở đây đã loại trừ hàm nghĩa đạo đức]). Họ bước ra phía khán phòng rộng lớn hơn và dễ dàng quay lưng với căn phòng riêng. Đa số cũng coi xuất hiện trước công chúng là cơ hội; phải tranh thủ mọi cơ hội dù có liên quan hay không đến tác phẩm của mình. Để được xuất hiện. Để được phát ngôn. Nói, nói, và nói như những hoạt động “đính kèm” vào tác phẩm. Bởi nói, có thể tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp, nhanh, hòa vào tiếng ồn của dòng chảy truyền thông hơn là sự lặng thinh, ẩn mình, bí mật. Đời sống văn chương bây giờ không còn là sự tế nhị gói ghém khéo léo trong một món quà là tác phẩm, sự bặt thiệp và khiêm cung của mối giao cảm “tự nhiên hương”, mà là một đường băng của tốc độ phô bày, giải thích không ngừng và đôi khi là tự đánh bóng trần trụi. Cốt là để được khách hàng tức thời xuống tiền chọn mua. Điều này hợp với tâm lý - hành vi tiêu dùng phổ biến: kích hoạt cảm xúc (muốn sở hữu) nhất thời.
Ngược lại, những người từ chối (số ít, đương nhiên) các trò buông bắt truyền thông trong khán phòng đông vui và tự tạo rào chắn với thế giới thông tin nói chung thì chắc chắn sẽ bị coi là lập dị, kiêu ngạo và gàn dở. Kẻ đó có khi còn bị gán nhãn ảo tưởng (ông tưởng ông là ai mà thế giới này có thể háo hức trông chờ những thứ ông viết và lập tức mua chúng?). Như một lẽ dĩ nhiên, nếu những kẻ có phẩm chất biết khước từ kể trên rơi vào nhóm tác giả mới, thì sẽ khó để thuyết phục được nhà xuất bản đầu tư ấn hành; nếu rơi vào nhóm tác giả đã thành danh thì sách tác phẩm nhiều khả năng được xem là loại văn chương dành cho thiểu số vì không những không tìm được độc giả tiềm năng mà đến độc giả trung thành cũng sẽ tự rơi rụng dần dần. Có một vài, chính xác là số ít, nhà xuất bản kiên trì với nhóm tác giả thiểu số này đôi khi chỉ vì một lý do chung chung: in sách để làm thương hiệu, không vì theo đuổi mục tiêu doanh số.
Quay lại trục nhìn của người viết, thì trách nhiệm liên đới với đời sống tác phẩm trong các ràng buộc thị trường sau khi tác phẩm đã xuất bản sẽ kéo tác giả ra khỏi căn phòng riêng (theo cách nói có tính ẩn dụ của Virginia Woolf), khiến anh ta mất thời gian cho các mối quan hệ truyền thông hào nhoáng, chẳng ích gì với thế giới nội tại của tác phẩm. Những phẩm chất hướng nội và có phần khắc kỷ làm nên đời sống văn nhân đích thực sẽ bị phá vỡ, xâm chiếm bởi một thế giới ồn ào và thừa mứa thông tin nhưng lại luôn thèm khát thông tin vô độ. Anh ta, nhà văn, phải tính đến chuyện mình xuất hiện thế nào, nói gì để được truyền thông trích dẫn và tạo ra hiệu ứng (trong khi năng lực nói, hoàn toàn không phải là thế mạnh của đa số nhà văn nếu so với các diễn giả lĩnh vực tâm lý học, nghệ thuật sống, truyền cảm hứng, thầy dạy chữa lành,... nhưng biết làm gì khác nếu anh ta xuất hiện trước độc giả của mình trên một sân khấu trong một buổi giao lưu, ra mắt sách có người dẫn chuyện với những câu hỏi khó phân định giữa thông minh và nhạt nhẽo). Vậy là anh nhà văn đáng thương của chúng ta phải ứng phó với những chất vấn và truy vấn hiếu kỳ từ phía độc giả xoay quanh những chuyện hóc búa học thuật như là phương pháp sáng tác cho đến các thắc mắc xoàng xĩnh liên quan tới phần đời tư nhàm chán ngớ ngẩn, và, không quên mục tiêu chính của các buổi nói chuyện là gợi mở tò mò về tác phẩm mới để độc giả lập tức lấy điện thoại ra, vào trang thương mại điện tử đặt sách hay chí ít, cảm thấy tâm hồn rộn ràng khi xếp hàng chờ xin chữ ký nhà văn...
Mệnh lệnh của thế giới truyền thông đó là sản xuất ra thông tin, càng nhiều càng tốt. Nhà văn phải xuất hiện, đối thoại, hiện diện không ngừng, để được công chúng “nhận diện”.
Byung-Chul Han, triết gia người Đức gốc Hàn có một nhận định xác đáng khi nói về sự “cán phẳng” nội tâm dẫn tới sự biến mất của nghi thức trong thời truyền thông kỹ thuật số. Những lập luận và lời cảnh tỉnh thuyết phục của Han hoàn toàn phù hợp khi soi chiếu vào sáng tạo của nhà văn trước áp lực truyền thông tiêu dùng ngày nay (sự chú tâm trong căn phòng riêng của nhà văn dường như đã thuộc về một thế giới nghi thức trong quá khứ). Han viết: “Yên lặng và câm lặng không có chỗ trong mạng kỹ thuật số, nơi sự chú tâm có cấu trúc phẳng. Giao tiếp kỹ thuật số diễn ra theo chiều ngang. Không có gì nổi bật lên ở đó. Không có gì đi vào chiều sâu. Nó không chuyên sâu mà trải rộng, điều này dẫn đến việc tiếng ồn trong giao tiếp ngày càng gia tăng. Vì chúng ta không thể im lặng, chúng ta phải giao tiếp. Hoặc: Chúng ta không thể im lặng vì chúng ta đang chịu áp lực của giao tiếp, áp lực của sản xuất. Sự tự do, sự giải phóng khỏi lời nói do sự im lặng mang tới rốt cuộc lại thể hiện như một sự ép buộc phải giao tiếp. Tự do lại biến thành sự ép buộc”. (Sự biến mất của nghi thức, Byung-Chul Han, Trần Anh Tuấn dịch, Phanbook & Nxb. Hồng Đức, 2025; trang 89).
Vì lợi nhuận hữu hình (đo bằng doanh số) và vì lợi nhuận vô hình (đo bằng tần suất thông tin và hiệu quả chuyển hóa đơn hàng), đa số nhà xuất bản sẽ dựng lên những cần ăng-ten thu phát tín hiệu liên quan tới xu hướng thị trường rất tốt nhưng đồng thời cũng đánh mất khả năng nhạy cảm trước các giá trị thẩm mỹ, phương pháp văn chương cốt lõi và thuần túy. Đời sống phê bình, đánh giá sách trên báo chí bây giờ cũng thừa nhạy bén, thông minh, giỏi nắm bắt cơ hội cập nhật xu hướng thông tin nhưng lại thiếu độ lùi cần thiết, năng lực chuyên môn và tính liêm khiết để có thể rạch ròi minh bạch chỉ ra các khả năng: thứ gì thuộc về đám đông vui vẻ chóng qua phục vụ cho thị trường và thứ gì là bước tiến trong sáng tạo dẫn vào tương lai văn học.
Thực hành chức nghiệp văn chương trong bối cảnh đó, nhà văn muốn tồn tại bằng nghề đa số phải thỏa hiệp hoàn toàn hoặc một phần với cách vận hành của thị trường. Anh ta bước ra khỏi gian phòng riêng và xuất hiện dưới ánh đèn của các sân khấu giao lưu để chứng minh thành ý, trách nhiệm của mình với nhà xuất bản qua việc trình bày trôi chảy mọi bề về chính tác phẩm được viết ra. Anh ta phá vỡ nguyên tắc bất thành văn nhưng quan thiết đó là sự đoạn tuyệt với tác phẩm để tác phẩm mang lấy một đời sống độc lập. Bằng các diễn ngôn chủ quan, anh ta can dự vào không gian sáng tạo trong tiếp nhận. Nhà văn bỏ qua ý niệm về “cái chết của tác giả”, thay vào đó khoác lên tấm mặt nạ bi hài kịch của kẻ tự diễn giải và chào mời tác phẩm mình.
Nghề văn cũng như bao nhiêu nghề sáng tạo nghệ thuật khác, sự cô đơn sáng tạo luôn đứng trước ngưỡng thách đố lớn lao đó là những ham muốn danh vọng hào nhoáng. Dòng chảy truyền thông sẽ biết cách biến nhà văn trở thành những diễn giả có ảnh hưởng, nhiều tác giả đồng thời là KOL (Key Opinion Leader - người dẫn dắt dư luận chủ chốt, có ảnh hưởng trong một cộng đồng). Từ đó, những tác phẩm thậm chí được viết sau cả những bản kế hoạch truyền thông. Có những tác phẩm ra mắt đến đón điểm rơi các sự kiện. Viết trở thành những dự án thông minh và thương lượng với bên ngoài, không còn là một cuộc dạo bước chậm rãi, từ tốn và cẩn trọng đi vào lãnh địa nội tâm của nhà văn.
Không còn đất sống cho sự ẩn mình sáng tạo.
Không chỉ người viết mới vào nghề với sự thức thời nồng nhiệt thì mới háo hức hiến mình cho cỗ máy sản xuất và truyền thông tiêu dùng nhào nặn, mà ngay cả những người viết đã thành danh, những người đạo cao đức trọng trong bộ dạng chân sư chuyên giảng dạy về “vô ngã, vô thường” cũng không vượt qua được sự quyến rũ của thứ danh vọng treo trên bục giao lưu thù tạc chóng vánh và các bài báo tán tụng vô thưởng vô phạt, các content tán dương đậm sắc thái mê tín trên mạng xã hội. Vì sản lượng, đã có những tác giả thời danh làm cái điều chẳng thể ngờ tới: xào nấu các bản thảo cũ, vơ vét cả những lời khen tụng trôi nổi đó làm thành bản thảo mới, cốt để sớm có một cuốn sách được in tốc hành. Cuốn sau thì phải dày dặn hơn cuốn trước.
Trên đây là một tính điển hình có thể góp phần lý giải cho hiện tượng số sách in mỗi năm một tăng, sự kiện sân khấu ra mắt sách, tọa đàm về sách khắp nước nhiều vô kể nhưng bước tiến về giá trị thì mờ mịt khó thấy.
Bạn hình dung được gì về một nền văn hóa mà ở đó có những thứ lẽ ra là thù tạc dễ dãi được biến thành cuốn sách trang nhã và được xem là món ăn tinh thần ê hề cho mọi người? Bạn có thể nói gì hơn về một đời sống văn chương mà ở đó rất nhiều bản giới thiệu tác giả, bằng cách nào đó, hùng vỹ như những ngọn núi, trong khi giá trị tác phẩm của họ - nói một cách nghiêm túc, thì chỉ như những viên sỏi, hòn cuội nhám nhít thô vụng thiếu những chăm chút cơ bản?!
Nền xuất bản trở thành nơi trình bày những nghịch lý nhất trong đời sống tri thức: cái nhiều trở thành bệnh hoạn và sách in càng nhiều thì sự triệt tiêu giá trị trí thức, sáng tạo càng cao. Nói khác đi, chính các hình hài vật lý của cái gọi là sách đã giết chết đời sống đích thực của sách. Các sự kiện từ giải thưởng sách cho đến truyền thông xuất bản chính thống bây giờ trở nên thừa mứa, rẻ rúng, là sân khấu son phấn phù phiếm của các hội đoàn.
Sau các sự kiện trọng đại là dấu hiệu ngày tàn văn chương biểu hiện nơi những cuốn sách yểu mệnh do được viết và in vội vã.
Khi được hỏi, trong quá trình viết văn, điều gì mang lại cho ông niềm vui lớn nhất, nhà văn Alessandro Baricco (Ý) nói rằng: “Tôi thích một mình, hoàn toàn một mình. Tôi thích được như thế, vì đây là một công việc chỉ có thể làm một mình. Đúng, điều thích nhất: viết văn là một quá trình đơn độc chừng nào. Một mình anh là cả thế giới, anh là tất cả, sự cảm nhận thế giới, thời gian. Anh làm chủ tất cả, tất cả những gì tồn tại như một câu chuyện.” (Thế giới là một cuốn sách mở, Lévai Balázs, Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & Nxb. Văn học, 2010; trang 155). Một nhà văn giỏi về ẩn dật lẫn khả năng lắng nghe độc giả như Haruki Murakami thì gọi cây cầu giữa người viết và độc giả là một “ống thông” bí ẩn, không tới mức cần quá vai trò của giới văn nghệ truyền thông. Ông viết: “Có thể tôi đã nối một chiếc ống to và thẳng giữa mình và độc giả, dành thời gian xây dựng hệ thống trao đổi trực tiếp thông qua đó. Đó là hệ thống không cần (đến mức đó) “người trung gian” như giới văn nghệ và truyền thông. Mà cần nhất là ‘khả năng tin cậy’ nảy sinh tự nhiên giữa tác giả và độc giả, điều này thì khỏi phải bàn. Nếu không được nhiều độc giả tin tưởng ‘Sách của Murakami thì cứ mua về đọc thử. Không thiệt được đâu’, thì dù có nối thẳng với nhau bằng chiếc ống to đến mấy, hệ thống ấy cũng không vận hành được đâu.” (Nghề viết tiểu thuyết, Haruki Murakami, Nguyễn Hồng Anh dịch, Nhã Nam & Nxb. Hội Nhà văn, 2025; trang 256). Nhưng sẽ thế nào nếu niềm vui thú của sự viết trong trạng thái một mình đã chuyển hóa thành niềm vui thú được tắm trong những hội hè của vô nghĩa.
Còn biết chờ đợi gì vào nền văn chương vốn đã thiếu vắng các nền tảng căn bản nội tại lại còn rơi vào một thời kỳ mà người trực tiếp làm ra văn chương đang bận bịu với những toan tính ngoại vi văn chương.
Thế giới sâu thẳm và tự tại trong tác phẩm một nhà văn, cái làm nên sức sống bền bỉ của văn chương thuần túy thì không ai có thể bảo tồn thay, ngoài chính nhà văn.
Nhưng cũng nghịch lý và hài hước thay, trong khi thời đại nhàn nhã trong đời sống văn chương của nhà văn đã mất, vậy mà có những nạn nhân lại chẳng thiết tha hay nuối tiếc gì. Nói khác đi, phần lớn các nạn nhân còn không biết mình là nạn nhân. Họ vui vầy bên ngoài căn phòng riêng đã ẩm mốc và xuống cấp tự bao giờ.
N.V.N
(TCSH445/03-2026)