Nghiên Cứu & Bình Luận
Dịch bệnh: Sự khủng hoảng y - sinh trong đời sống nhân loại (Từ thực tiễn đến văn chương)
14:48 | 29/04/2026

NGUYỄN THÙY TRANG

Thế kỷ XXI chứng kiến sự tái xuất/xuất hiện và lan rộng của nhiều dịch bệnh với quy mô toàn cầu.

Dịch bệnh: Sự khủng hoảng y - sinh trong đời sống nhân loại (Từ thực tiễn đến văn chương)
Ảnh: tư liệu

Những trận dịch SARS, H5N1, H1N1, Ebola, MERSCoV, Covid-19,… đã vượt ra khỏi phạm vi của lĩnh vực y - sinh để trở thành một “chấn thương” nhân loại, gắn với sự di chuyển xuyên biên giới, đô thị hóa, biến đổi khí hậu và khủng hoảng sinh thái. Trong bối cảnh đó, tuy y học và sinh học đã có nhiều thành tựu nhưng cũng bộc lộ những giới hạn: sự bất lực trước tốc độ lây nhanh của virus, sự quá tải của hệ thống y tế, và những bất bình đẳng trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe. Đi tìm nguồn gốc dịch bệnh, truy nguyên những nỗi đau của con người, David Quammen chỉ ra: “Áp lực và sự phá hoại về mặt sinh thái do con người gây ra đang khiến những mầm bệnh trên động vật tiếp xúc gần hơn với cộng đồng, trong khi công nghệ và những hành vi của con người đang cho phép những mầm bệnh đó phát tán rộng rãi và nhanh chóng hơn”1. Có ba yếu tố dẫn tới sự xuất hiện các trận dịch nguy hiểm: (1) Các hoạt động của con người khiến hệ sinh thái tự nhiên tan rã một cách nguy nan. (2) Sự tồn tại của hàng triệu vi sinh vật chưa được biết đến, bao gồm những loài virus, vi khuẩn, nấm, sinh vật nguyên sinh,… Chúng ẩn tàng trong rừng, thân lá, có khi trú ngụ ở những loài động vật, cỏ cây mà con người hiếm khi để ý tới. (3) Việc phá vỡ hệ sinh thái tự nhiên đã giải phóng những vi sinh vật đó khỏi môi trường (vốn là nơi tồn tại của nó). Bị trục xuất ra khỏi “vật chủ”, đôi khi, chúng không chủ đích “tấn công” con người, nhưng cơ chế sinh học buộc chúng phải thích nghi, xâm nhập để sinh tồn. Những điều này đã làm nên sự bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng đến nhân loại.

Ngoài ra, theo điều tra xã hội học, những xung đột về chiến tranh sinh học, hóa học, chiến tranh công nghệ và thương mại cũng là tác nhân gây ra mầm bệnh cho con người. Nhiều chuyên gia nhận định, gần đây, nhân loại đã có sự chuyển mình mang tính đột phá về công nghệ, dân số và khí hậu, đi kèm với điều này là sự xuất hiện của những đại dịch nguy hiểm2. Bên cạnh đó, lợi dụng những bước tiến về công nghệ, những cuộc chiến tranh thương mại nổ ra giữa các nước lớn3. Cuộc chiến này ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, nhất là những nước có điều kiện thấp càng ít có cơ hội tiếp cận với y tế hiện đại, khả năng điều trị chịu nhiều phụ thuộc từ sự viện trợ tài chính, nguồn dược liệu, thuốc thang. Nhiều giả thuyết cho rằng: sự bùng phát đại dịch như một sự tái thiết lập quyền lực chính trị và trật tự thế giới, ảnh hưởng đến an ninh con người4.

Đứng trước những vấn nạn nhức nhối của dịch bệnh, văn học đã phóng chiếu những nhận thức về nỗi đau thể lý, sự mâu thuẫn giữa các dân tộc và giới hạn của con người trước tự nhiên. Mỗi tác phẩm về dịch bệnh như một bức tranh xã hội chân thực, một câu chuyện văn chương mang tính thực tế; giúp chúng ta hình dung sâu rõ về bản chất sinh học loài người cũng như niềm mong mỏi vào tiến bộ khoa học, năng lực kiểm soát tự nhiên của nhân loại.

1. Dịch bệnh: sự khủng hoảng y - sinh toàn cầu và những động thái của văn học

Những năm gần đây, khuynh hướng văn học dần tập trung vào các chủ đề về bệnh tật, dịch bệnh mà nhân loại đã, đang và sẽ trải qua. Dự cảm về bước phát triển của văn học tương lai, Phan Tuấn Anh nhận định: “Nghiên cứu văn học ngày nay đã xác lập được mối quan hệ chặt chẽ với những ngành khoa học tự nhiên vốn nghiên cứu sâu về mặt bản năng, thể xác của con người, mà tiêu biểu là sinh học và y học”5. Trong khi trước đây, tư duy nhị nguyên phân tách rạch ròi giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, thì ngày nay, tư duy nhất nguyên đã liên kết các ngành lại, chuyển hướng sang nghiên cứu liên/xuyên ngành. Khi dịch bệnh trở thành một phần không thể tách rời của đời sống toàn cầu, việc né tránh hoặc giản lược chủ đề này đồng nghĩa với việc văn học tự thu hẹp khả năng tiếp cận hiện thực, đánh mất vai trò phản tư và cảnh báo vốn có. Vì thế, các lĩnh vực văn học - y học - sinh học đã gặp nhau trong sự quan tâm đến sinh mệnh con người. Lấy con người làm trung tâm, văn học - y học - sinh học cùng chia sẻ những hiểu biết về con người trên phương diện thể xác, tâm hồn, tinh thần; tìm sự kết nối với môi trường tự nhiên. Việc thờ ơ hoặc xem nhẹ chủ đề y học - sinh học sẽ là một thiếu khuyết đối với văn chương.

Trong văn học Việt Nam đương đại, dịch bệnh xuất hiện như một dấu hiệu của thời đại, phản ánh sự giao thoa giữa vấn nạn y - sinh toàn cầu và những vấn đề xã hội, văn hóa, lịch sử đặc thù. Nhiều tác phẩm đã viết về dịch bệnh như một bối cảnh thời sự, cho thấy trạng thái bất ổn và dự cảm “ngày tận thế” của loài người. Chủ đề bệnh tật càng ngày càng hấp dẫn và thu hút nhiều cây bút hơn khi thế giới trải qua đại dịch. Bằng nhiều cách thức, vấn đề dịch bệnh trong văn học đặt ra những câu hỏi căn bản về sự mong manh của sinh tồn, về tính lỏng lẻo trong kết nối cộng đồng. Nhờ đó, dịch bệnh trở thành một “cơ hội” để thanh lọc lại thế giới nhiễu nhương, tạo điều kiện cho văn chương - đặc biệt là tiểu thuyết - phản tư, ghi nhận và tái hiện.

Nhìn về tiểu thuyết Việt Nam, các nhà văn rất ý thức trong việc đề cao sự kết nối y học - sinh học. Tiểu thuyết đã tham gia vào việc kiến tạo diễn ngôn về y - sinh. Chẳng hạn Có nỗi buồn gieo mầm nhân ái - Nhật ký y tá thời Covid-19, nhà văn Iris Lê đã đứng từ góc độ là một chứng nhân (bác sĩ điều trị trong bệnh viện) và một nạn nhân (con gái và người thân đều mắc Covid-19). Trải nghiệm thấy nhiều người đều bị virus tấn công, Mie đã tự tình: “Con virus này có thể vô lương tâm và vô đạo đức, nhưng tuyệt nhiên rất công bằng. Từ thủ tướng đến chị công nhân quét đường, từ người danh gia vọng tộc đến kẻ cơ hàn hay một ngôi sao điện ảnh, đều có nguy cơ nhiễm ngang nhau. Virus Corona không chừa một ai. Nó cũng không buông tha cho bất cứ quốc gia nào, giàu sang hay nghèo khó. Từ Tây sang Đông, từ Âu sang Á”6. Bằng giọng văn của phóng sự báo chí, của chẩn đoán y khoa, thống kê toán học, tác phẩm đã góp phần trung gian hóa tri thức y học, giúp con người hiểu và đối diện với bệnh tật một cách nhân văn hơn.

Có thể thấy, văn học đã tiếp nhận và phản ánh khủng hoảng này theo nhiều cấp độ khác nhau: từ những biểu hiện cụ thể của bệnh tật, sự lây nhiễm, cho đến những hệ quả tinh thần, xã hội và đạo đức mà dịch bệnh để lại. Trong khi các ngành khoa học tự nhiên trên thế giới đã coi dịch bệnh là một mấu chốt quan trọng để tái tư duy về con người và thế giới, thì văn học, nếu không nhập cuộc, sẽ tự đặt mình ra ngoài những cuộc đối thoại tri thức lớn của thời đại. Thoát ra khỏi những đại tự sự về chiến tranh, tình yêu, đất nước, văn học bàn luận đến những vấn đề có tính cập nhật, mang đến cơ hội đối thoại với các lý thuyết và khuynh hướng tư tưởng đương đại như quyền lực sinh học (Biopolitics), sinh thái học nhân văn (Humanistic Ecology) hay hậu nhân loại (Posthumanism). Đọc tiểu thuyết Những ngày cách ly (Bùi Quang Thắng), Tình người cách ly (Từ Nguyên Thạch), Im lặng sống (An Bình Minh), Đảo bạo bệnh (Đức Anh), Mùa hè năm ấy bên em là mãi mãi (Hồ Điệp Thanh Thanh), những cách ứng phó với đại dịch được các nhà văn trình bày tường tận, chân thực. Tiểu thuyết đã góp phần định hướng nhận thức xã hội và tâm thế đối mặt với đại dịch.

Khi diễn giải khái niệm và đặc trưng cơ bản của văn học dịch bệnh, L. G. More cho rằng: “Văn học về dịch bệnh thể hiện sự tương đồng về mối quan tâm nhân văn; để khám phá ý nghĩa của những trải nghiệm đau đớn thông qua việc đọc, suy ngẫm và kể chuyện, hình thành kinh nghiệm cho chúng ta về sức khỏe, bệnh tật và đau ốm. Đồng thời, cung cấp cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc về cách tổ tiên tiếp thu nỗi đau và thống khổ từ đại dịch. Văn học về dịch bệnh luôn được chứng minh là một cửa sổ nhìn vào những xã hội đang phải hứng chịu dịch bệnh, qua đó đưa ra một bức tranh gần gũi về những điểm giống và khác nhau, từ nhỏ đến lớn, từ các vấn đề xã hội, chính trị, liên quan đến sức khỏe và kinh tế mà họ gặp phải”7. Như thế, việc phản ánh dịch bệnh trong văn học hàm chứa những kiến thức liên ngành về y học, sinh học, nhân học, dịch tễ học, tâm lý học, xã hội học,… Đồng thời, “những lĩnh vực liên ngành này trở thành chất liệu để nhà văn xây dựng nhân vật, sáng tạo cốt truyện và triển khai các tình huống truyện. Cụ thể, nhà văn đề cập đến dịch bệnh như một chất xúc tác khởi nguồn, phát triển câu chuyện… Nội dung của sáng tác về dịch bệnh đều có những điểm tương đồng nổi bật ở việc miêu tả phản ứng của con người khi bệnh tật lây lan, những băn khoăn về nguồn gốc virus, những bất cập trong xã hội, cũng như các cách thức đối phó, chống chọi trong tình thế gay cấn, hiểm hóc”8. Điểm lại tiểu thuyết Việt Nam đương đại, dễ thấy động thái nhập cuộc rõ rệt trong xu hướng liên ngành. Dịch bệnh không còn là một hiện tượng ngoại biên hay một biến cố ngẫu nhiên trong cấu trúc tự sự như trước đây, mà dần trở thành một chủ đề trung tâm, hội tụ các vấn đề lớn của đời sống đương đại. Tiểu thuyết Dòng sông chết của Thiên Sơn là thiên phóng sự về những mầm bệnh đang bùng phát ở người già và trẻ em, từ nông thôn đến thành thị, từ đông sang tây. Nalis xô dạt bờ định mệnh của Thương Hà là hành trình khởi sinh, phát triển của các chủng loại virus; dưới sự tác động tiêu cực của con người đến môi trường, loài Nalis bùng phát, đẩy con người đến bờ diệt vong. Bể trăng côi của Huỳnh Trọng Khang là sự thấu ngộ quy tắc “điều chế” vaccine; đó là ái nhân để kháng cự bệnh Huyết nhiệt. Qua đó, các nhà văn đã thể hiện năng lực tiếp nhận và chuyển hóa đa dạng những tri thức y - sinh thành kinh nghiệm thẩm mỹ - nhân văn.

Đáng chú ý, tiểu thuyết về dịch bệnh đã góp phần mở rộng biên độ phản ánh hiện thực, đưa văn chương thoát khỏi những mô thức quen thuộc, tiến gần hơn đến những vấn đề mang tính quốc tế. Trong những văn bản này, tri thức y học không chỉ được sử dụng như chất liệu minh họa mà còn tham gia trực tiếp vào việc kiến tạo ý nghĩa. Các thuật ngữ y khoa, các mô tả về quy trình điều trị, thống kê dịch tễ, hay những chi tiết liên quan đến cách ly, phong tỏa, tiêm chủng,… đã trở thành một phần của cấu trúc tự sự. Khủng hoảng y - sinh, suy cho cùng là khủng hoảng của con người trước sự mong manh của sinh mệnh và sự sụp đổ của những điểm tựa tinh thần vốn được xem là vững chắc. Đây là tiền đề quan trọng để chuyển sang xem xét dịch bệnh như một không gian hiện sinh, nơi con người phải đối diện với nỗi sợ, sự cô độc và những lựa chọn mang tính đạo đức trong hoàn cảnh nguy nan.

2. Dịch bệnh: trải nghiệm hiện sinh của con người

Cùng tập trung vào “chữa trị” bệnh tình cho con người, nhưng sự khác biệt giữa y học và văn học nằm ở cách thức tiếp cận. Nếu y học bắt mạch nỗi đau qua những triệu chứng, biểu hiện trên thân thể để đưa ra các chẩn đoán phù hợp cho phương pháp điều trị, thì văn học quan tâm thấu cảm và diễn giải nỗi đau qua những trải nghiệm hiện sinh, đối diện trực diện với những câu hỏi mang tầm triết học về sự sống, cái chết và ý nghĩa tồn tại. Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI, trong quá trình phản ánh dịch bệnh, đã cho thấy sự dịch chuyển từ việc mô tả bệnh tật như một “biến cố xã hội” sang khai thác dịch bệnh như một không gian hiện sinh cực hạn, phơi bày những thân thể tổn thương, những trầm luân thử thách ý chí và ưu tư về tam quan.

Một điều dễ nhận ra, dịch bệnh đã lột trần sự bất toàn, phi lý của đời sống. Thời kỳ dịch bệnh tạo ra một không gian đặc thù: không gian cách ly - nơi các mối quan hệ xã hội bị gián đoạn và con người buộc phải sống trong trạng thái cô đơn kéo dài. Trong tiểu thuyết viết về dịch bệnh, cô đơn không chỉ là hệ quả của giãn cách xã hội, mà còn là một trải nghiệm hiện sinh sâu sắc, làm lộ diện bản chất mong manh của kết nối người. Những ngày cách ly của Bùi Quang Thắng tái hiện một cách chân thực cảm giác bị “đóng khung” của con người trong không gian hẹp. “Hàng rào sắt B40 cao quá đầu người bao quanh. Lối vào duy nhất cũng có barrier chắn ngang và luôn có hai người lính gác kiểm soát tất cả mọi đối tượng, mọi thứ hàng hóa ra vào”9. Nhân vật sống trong từng khu biệt lập; các giá trị vật chất như tiền bạc, nhà lầu, xe sang bị vô hiệu hóa, họ phải đối diện với ranh giới mong manh của cái chết. Cả cuộc đời lăn lộn, bôn ba, kiếm chác; cuối cùng, thứ con người nhận lại là sự bất lực trước dịch bệnh. Ngay cả những người trẻ tuổi, nồng nhiệt sức sống như Hoàng Cúc cũng phải cách ly, rơi vào hoảng loạn, mất người thân.

Đẩy con người vào trạng thái bất lực và đơn độc, dịch bệnh đã chứng minh sức hủy diệt của tự nhiên. Con người buộc phải chứng nghiệm với những giới hạn sinh học và đau đớn của thân thể, trực diện với cái chết như một khả thể thường nhật; đồng thời chứng kiến cảm giác sợ hãi, bất an và mất kiểm soát. Trong tình thế này, dịch bệnh đã trở thành một sự khủng hoảng hiện sinh, tự vấn những câu hỏi về bản ngã, sinh mệnh. Con người hiện lên như những chủ thể hiện sinh bị ném vào hoàn cảnh phi lý, thân phận cá nhân bị thu hẹp vào những không gian bí bách, thời gian kéo dài vô định, tạo ra cảm giác trống rỗng, mất phương hướng. Từ góc nhìn này, tiểu thuyết Việt Nam đương đại cho thấy tính chất “giải cấu trúc” quan niệm về con người: từ vị thế anh hùng, làm chủ lịch sử, sang bệnh nhân, nạn nhân, người bị chấn thương. Trải nghiệm dịch bệnh trở thành chất xúc tác để văn chương đào sâu những vấn đề hiện sinh như cô đơn, sợ hãi, hoài nghi và khát vọng được thấu hiểu, kết nối.

Sự cô đơn, hoang mang khiến con người rơi vào nỗi ám ảnh trước những câu hỏi hiện sinh. Trong tiểu thuyết Bể trăng côi, Huỳnh Trọng Khang lấy chứng nhân thuần túy Phật giáo để lý giải những cái chết trong thời kỳ dịch bệnh như một quy luật thường hằng: sinh - trụ - dị - diệt. Nhà văn đã tái hiện cảnh tượng dịch Huyết nhiệt hoành hành vào thời Huyền Trang đời Đường đi lấy kinh trong sự song hành với hành trình dấn thân của nhà sư trẻ ở Sa Mạo sơn. Giải thích nguyên nhân kiếp nạn này khác với tác phẩm Tây du ký của Ngô Thừa Ân và cả những dị bản lưu truyền trong dân gian, Huỳnh Trọng Khang chia sẻ: “Huyền Trang sống vào cái thời mà các thư tịch chép chuyện dịch bệnh còn ít. Trong một câu chuyện về dịch bệnh phải kết thúc bằng cảnh thiên hạ thái bình, nhân loại dù chỉ còn sót hai người đi nữa thì vẫn còn nhân loại. Chỉ thế thì dịch bệnh mới có ý nghĩa gì đó hơn là cơn cuồng sát của tự nhiên. Để rao giảng một bài học, để còn lại chứng nhân”10. Con đường tu hành của Huyền Trang đầy rẫy bệnh tật (…), ông dấn thân vào đời sống, cùng nhân gian trải qua các bệnh dịch tả, Huyết nhiệt.

3. Dịch bệnh: tái cấu trúc quan hệ cá nhân - cộng đồng, con người - tự nhiên

Không thể phủ nhận, dịch bệnh mang đến những điều bất lợi, cản trở và phá hủy nhiều điều đẹp đẽ trong cuộc sống, nhưng nhờ vậy, chúng ta buộc phải “sống chậm”, để xem xét, thiết lập lại vai trò, vị thế con người trong mối quan hệ giữa cộng đồng và hệ sinh thái. Nếu trên bình diện y - sinh, dịch bệnh gây nên khủng hoảng sức khỏe và ở bình diện hiện sinh phơi bày sự mong manh của thân phận, thì ở cấp độ xã hội - văn hóa, nó còn dẫn đến một hệ quả sâu rộng hơn: tái cấu trúc nền tảng của đời sống con người. Bởi vì, giữa bối cảnh toàn cầu hóa, dịch bệnh không chỉ tác động đến sức khỏe của người dân mà còn làm thay đổi sâu sắc sự nhận thức lại mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, con người và tự nhiên. Từ đây, tiểu thuyết Việt Nam đương đại từng bước phản tư về trật tự xã hội, trách nhiệm đạo đức và vị thế của con người trong thế giới hậu nhân loại.

Ngoài khủng hoảng kinh tế, lương thực và y tế, các nhà văn còn lưu tâm đến cuộc khủng hoảng truyền thông. Trong thời kỳ đại dịch, sự hoạt động của các phương tiện truyền thông có ý nghĩa quan trọng, với tác dụng: phổ biến kiến thức dịch bệnh cho người dân, tuyên truyền các biện pháp phòng tránh, cập nhật số liệu, đưa ra lời cảnh báo, lan tỏa sức mạnh đoàn kết và động viên cộng đồng… Nhưng nó cũng có mặt hạn chế. Một số thành phần tiêu cực đã lợi dụng truyền thông để gây hoang mang dư luận, trục lợi, tung những tin đồn thất thiệt làm dân chúng lo âu, hoảng loạn, xã hội bất an. Nhà văn Iris Lê đánh giá: “Sự nhiễu loạn thông tin không chỉ gây ra thiệt hại trong khoảng thiếu hụt nhu yếu phẩm. Mà còn có những tấn bi kịch khác mà người ta có thể không ngờ tới”11. Thương Hà nêu lên thực trạng: “Mỗi ngày phòng an ninh mạng phải xử lý rất nhiều thông tin. Gần đây do dịch bệnh căng thẳng, các loại tin giả, thông tin sai sự thật rồi các loại bài viết được đăng tải tràn lan khiến lượng công việc của cậu tăng lên rất nhiều”12. Lực lượng công an và quân đội, ngoài việc phải giữ gìn trật tự an ninh trong xã hội, các đồng chí còn phải vất vả đối phó với sự hỗn loạn của các tài khoản ảo để đảm bảo bình yên trên không gian mạng.

Tiểu thuyết Dòng sông chết của Thiên Sơn nhấn mạnh hơn tính chất nguy kịch của các căn bệnh thế kỷ “Một số nước ở châu Phi đang trong thảm cảnh bệnh AIDS hủy diệt tương lai của lớp trẻ, có nguy cơ đẩy các dân tộc đến bờ vực diệt vong”13. Viết trong tâm thế phản tư sự bất công của con người trước bệnh tật, nhà văn khẳng định dịch bệnh là một trong những điều tệ hại nhất thời đại. Bởi nó xáo trộn đời sống, buộc con người phải nhìn lại cách mình tồn tại trong mạng lưới cộng đồng và trong hệ sinh thái tự nhiên.

Vì thế, những cuộc ẩu đả trên đường phố, xô xát trong siêu thị, hay những cuộc phản đối các sách lược phòng chống dịch bệnh trở thành hiện tượng xảy ra phổ biến ở nhiều quốc gia. “Người ta không ngừng đưa ra những bằng chứng về sự chủ quan của các nước phát triển về việc phòng tránh và giãn cách”14. Phải chăng mọi người đã quen với cuộc sống quá tự do, no đủ, phóng túng và xuề xòa trong việc bảo vệ sức khỏe bản thân, cộng đồng? Nên khi bị cách ly, bị buộc phải đeo khẩu trang, thiết bị bảo hộ, con người có vô vàn cung bậc phản ứng và hành xử khác nhau, tạo nên một hiện thực nhiễu loạn chưa từng có. Và, chỉ những tác phẩm văn học biểu hiện đại dịch mới có thể chạm tới những tổn thương và mất mát mà người dân trên toàn thế giới phải gánh chịu.

Một số tiểu thuyết lại đặt các nhân vật trong mối quan hệ căng thẳng giữa cộng đồng và cá nhân. Một mặt, cộng đồng trở thành không gian bảo vệ, nơi các biện pháp kiểm soát, giám sát được triển khai nhằm đảm bảo an toàn chung. Mặt khác, chính cộng đồng cũng có thể trở thành nguồn áp lực, khi cá nhân bị tước bỏ quyền tự do, bị kỳ thị hoặc bị đồng nhất hóa như “nguồn lây”. Các mối quan hệ xã hội cũng nảy sinh những rạn nứt, mâu thuẫn. Khi người ta phải đụng chạm cùng nhau trong một nơi chật hẹp, không được hoạt động ngoài trời và không thể làm được điều gì, đời sống gia đình, làng xóm có nguy cơ đảo lộn trật tự. “Người ta không thể ra ngoài đi làm, không thể mưu sinh kiếm sống. Những đồng tiền còn lại có vẻ như không đủ cho họ duy trì cuộc sống như trước đây. Gánh nặng tiền bạc rồi gánh nặng trong gia đình khiến những tiếng mắng chửi kia ngày ngày đều có thể nghe được”15. Thời kỳ dịch bệnh khủng khiếp trôi qua trì níu cuộc sống con người, khiến sự sinh tồn vốn đã khó khăn, càng lúc càng bấp bênh, khốn đốn.

Một số tác phẩm chủ đề này nhưng được viết theo khuynh hướng lãng mạn, lý tưởng hóa tình yêu trong thời dịch giã. Như Những ngày cách ly của Bùi Quang Thắng là sự khẳng định tình yêu và sự quan tâm sẽ giúp con người vượt qua đại dịch. Mùa hè năm ấy bên em là mãi mãi của Hồ Điệp Thanh Thanh hư cấu câu chuyện đại dịch Moros+ qua tình yêu của bác sĩ Hạ Vũ và bệnh nhân Hoàng Phi. Hay Tình người cách ly của Từ Nguyên Thạch lại dẫn dắt quá trình chống dịch bệnh đến câu chuyện tình giữa Minh và Kim Anh. Với số lượng bao quát hàng ngàn người, tác phẩm của Từ Nguyên Thạch vượt lên trên quan hệ nam nữ để đặt ra ý nghĩa của sự san sẻ và đoàn kết, khi con người biết đối đãi với nhau ân cần, tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách.

Ngoài ra, dịch bệnh còn làm nổi bật quan hệ giữa con người và tự nhiên. Virus xuất hiện như tác nhân thách thức vị thế trung tâm của con người. Vì dịch bệnh không phải là “tai họa ngẫu nhiên”, mà là hệ quả của sự can thiệp thô bạo của con người vào tự nhiên, của sự mất cân bằng sinh thái. Tác phẩm Nalis xô dạt bờ định mệnh của Thương Hà cảnh báo: “Nếu con người không thay đổi thói quen của mình tôn trọng những điều trong tự nhiên. Và không ồn ào trong tâm thức. Thì Trái đất không nóng lên, thiên tai lũ lụt không còn, và ngay cả với virus tồn tại biến mất trong hòa bình với con người”16. Lời trần thuật này như tiếng kêu báo động của thiên nhiên, tiếng gọi sâu thẳm của rừng rậm, tiếng nói đau đáu từ các vi trùng. Sự nổi giận của Mẹ thiên nhiên thông qua các đại dịch là sự trừng phạt kinh hoàng và mang tính nhân quả.

Để thế giới trở nên tốt đẹp hơn, con người phải thay đổi những hành vi và thái độ với tự nhiên. Trong đó, xóa bỏ quan niệm “nhân loại trung tâm” cùng tham vọng bá quyền chính là nỗ lực mà nhiều nhà văn hướng đến. “Cái đáng sợ trên thế giới này không phải Nalis, cũng không phải dịch bệnh hay thiên tai. Cái đáng sợ nhất trên thế giới này là lòng tham của con người đấy. Chính lòng tham trở thành liều thuốc đắng mà uống vào loài người sẽ diệt vong. Đó chính là sự tham lam vô độ cái gọi là bá chủ địa cầu. Thiên đàng hay địa ngục, ngạ quỷ súc sinh đã tàng ẩn bên trong mục nát về tâm hồn. Một loại tâm ma vô độ đang ngự trị giữa một hành tinh xanh đang dần kêu khóc từng ngày. Hãy tha cho chúng tôi. Nếu có một ngày thế giới này biến mất, con người chết hàng loạt, đó không phải tại dịch bệnh, cũng chẳng phải tại Nalis. Tất cả là vì sự ích kỷ của con người”17. Trong cuộc giải cứu con người bên bờ vực “tuyệt chủng”, nhân loại hiểu ra, vaccine hữu hiệu nhất không phải được điều chế ở phòng thí nghiệm, mà chính là vaccine của tình thương.

Với tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân, người đọc khơi mở nhận thức về những gì đã làm với tự nhiên. “Hiện nay chúng ta có rất nhiều căn bệnh mới vì sự sống bị đảo lộn và càng ngày càng có nhiều hệ độngthực-vật tuyệt diệt, không thể tái sinh. Thế mà khi đọc các tài liệu về cách phòng ngừa ung thư, người ta còn khuyên chúng ta hãy sống trong một môi trường sạch đẹp, bầu không khí trong lành. Thật là mỉa mai”18. Từ kinh nghiệm của một nhà báo, Trương Văn Dân mang đến những trăn trở trước cách thức chữa trị bệnh tật cho con người trong bối cảnh ô nhiễm môi trường. Thông qua tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa, tác giả không chỉ lên án hành động hủy hoại thiên nhiên, mà còn đặt ra một câu hỏi mang tính nhân văn: con người hiện đại còn cơ hội làm hòa với thiên nhiên? Gợi dẫn này chính là chìa khóa để chúng ta hướng đến cuộc sống lành mạnh trong tương lai. Từ đây, văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XXI góp phần đặt lại vấn đề về đạo đức sinh thái và trách nhiệm của con người trong mạng lưới sự sống. Dịch bệnh trở thành lời cảnh báo về sự đứt gãy trong quan hệ con người - tự nhiên, buộc con người phải tái tư duy về cách thức tồn tại của mình trong thế giới đa loài.

4. Kết luận

Dịch bệnh trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI là một đề tài mang tính thời sự, thể hiện sự nắm bắt nhanh nhạy của văn chương trước vấn đề sinh mệnh con người và tồn vong muôn loài. Từ khủng hoảng y - sinh toàn cầu, trải nghiệm hiện sinh cá nhân, sự tái cấu trúc các mối quan hệ xã hội - tự nhiên, dịch bệnh cho thấy khả năng bao quát và chiều sâu tư tưởng của văn học Việt Nam. Vì thế, văn chương vượt ra khỏi chức năng ghi chép hiện thực, mở rộng phạm vi đề tài và phương thức biểu đạt để trở thành một “công cụ” bắt mạch, giúp con người diễn giải những tổn thương và bất an mà ngôn ngữ khoa học khó chạm tới. Qua đó, tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI góp phần khẳng định vai trò của văn học trong việc giúp con người nhận diện “tâm bệnh”, đối mặt với nỗi sợ và tìm kiếm ý nghĩa tồn tại trong một thế giới đầy bất trắc. Đồng thời, tiểu thuyết cũng tham gia vào cuộc đối thoại toàn cầu về vận mệnh, đạo đức và trách nhiệm sinh thái; hướng nhân loại học cách chung sống hài hòa với nhau và với thế giới tự nhiên như điều kiện tiên quyết của sự tồn tại bền vững.

N.T.T
(TCSH446/04-2026)

----------------------
1 David Quammen. (2021). Nguồn gốc dịch bệnh. Nxb. Dân trí, Hà Nội. tr.47.
2 Baker, Rachel E., et al. (2021). “Infectious disease in an era of global change”, Nature Review Microbiology 20, p.193-205. Doi 10.1038/s41579-021-00639-z. tr.193.
3 Xem thêm Mikic, Mia, Puutio, T. Alexander, and Jame G. Gallagher. (2020). “Healthcare products trade and external shocks: The US-China trade war and COVID-19 pandemic”, ARTNeT Working Paper Series No.190, May 2020, Bangkok ESCAP. Available at https://artnet.unescap.org.
4 Xem thêm Vũ Thị Thu Quyên. (2021). “An ninh con người trong đại dịch Covid-19: vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”. Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông. Số T9/2021. tr.52-57.
5 Phan Tuấn Anh. (2019). Văn học Việt Nam đổi mới - Từ những điểm nhìn tham chiếu. Nxb. Văn hóa - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh. tr.221.
6 Iris Lê. (2020). Có nỗi buồn gieo mầm nhân ái - Nhật ký y tá thời Covid-19. Nxb. Văn hóa Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh. tr.162.
7 More (2021). More L. G. (2021). “Representations Of Plagues And Pandemics In Literature: A Critical Study”, Ilkogretim Online - Elementary Education Online, Vol 20 (Issue 1), 3849-3859. Doi: 10.17051/ ilkonline.2021.01.426. tr.3850.
8 Nguyễn Thùy Trang. (2025). Văn học và y học: Bắt mạch nỗi đau. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. tr.29-30.
9 Bùi Quang Thắng. (2020). Những ngày cách ly. Nxb. Hội Nhà văn: Hà Nội. tr.63.
10 Huỳnh Trọng Khang. (2023). Sđd. tr.168.
11 Iris Lê. (2020). Sđd. tr.106.
12 Thương Hà. (2021). Nalis xô dạt bờ định mệnh. Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. tr.24.
13 Thiên Sơn. (2017). Dòng sông chết. Nxb. Văn học, Hà Nội. tr.208-209.
14 Thương Hà. (2021). Sđd. tr.17.
15 Thương Hà. (2021). Sđd. tr.127.
16 Thương Hà. (2021). Sđd. tr.378.
17 Thương Hà. (2021). Sđd. tr.174.
18 Trương Văn Dân. (2011). Bàn tay nhỏ dưới mưa. Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. tr.198-199.

 

 

Các bài đã đăng