SỐ ĐẶC BIỆT
Quốc hiệu Việt Nam trong mộc bản Triều Nguyễn
11:15 | 25/06/2010
LÊ KHẮC NIÊNViệt Nam! Hai tiếng thiêng liêng đối với những người con của đất nước. Tuy nhiên không nhiều người biết Quốc hiệu Việt Nam chính thức được gọi tên vào năm nào? Trong sự kiện nào? Trong quá trình phụ trách chỉnh lý khối tài liệu Mộc bản quý hiếm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV – Đà Lạt, tôi đã phát hiện ra tài liệu về việc vua Gia Long đặt quốc hiệu Việt Nam nằm trong Mộc bản triều Nguyễn. Xin giới thiệu đến độc giả tài liệu đặc biệt này.
Quốc hiệu Việt Nam trong mộc bản Triều Nguyễn
1. Tên gọi Việt Nam trước khi hình thành vương triều Nguyễn.

Về Quốc hiệu Việt Nam, đã có nhiều bài viết và bài nghiên cứu nói về vấn đề này, khái quát lại những sự kiện liên quan đến tên gọi Việt Nam chúng ta thấy rằng: triều Nguyễn, Quốc hiệu Việt Nam được công nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao để trở thành chính thức vào năm 1804. Tuy nhiên, hai tiếng Việt Nam lại thấy xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ thế kỷ XIV đã có bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí do Trạng nguyên Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi đầu thế kỷ XV cũng nhiều lần nhắc đến hai chữ Việt Nam. Điều này còn được đề cập rõ ràng trong những tác phẩm của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm(1491 – 1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: “Việt Nam khởi tổ xây nền”. Trong tác phẩm Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn cũng từng nói đến hai chữ Việt Nam. Người ta cũng tìm thấy hai chữ Việt Nam trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ XVI – XVII như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Phòng, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Tây, bia chùa Phúc Thành (1664) ở Bắc Ninh… Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: “Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan” (Đây là cửa ngõ yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ “Việt Nam” được kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam).

Trong lịch sử nước ta có một hiện tượng rất thú vị là Quốc hiệu và tên gọi đất nước (Quốc danh) không thống nhất. Chẳng hạn, năm 1054, nhà Lý đổi Quốc hiệu là Đại Việt, Quốc hiệu đó tồn tại liên tục đến đời Trần (1400), thế nhưng chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh ngày 10/01/1226 lại mở đầu bằng câu: “nước Nam Việt ta từ lâu đã có các đế vương trị vì”. Nhà Hồ (1400 – 1407) đổi Quốc hiệu là Đại Ngu (sự yên vui lớn) nhưng đa số dân chúng vẫn gọi là Đại Việt, còn người Trung Quốc gọi là Giao Chỉ. Thế kỷ XV, trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi có viết: “Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt”, nhưng trong Bình Ngô đại cáo ông lại viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đời Gia Long (1802 – 1820), Quốc hiệu là Việt Nam, nhưng bộ phận dân chúng vẫn quen gọi là Đại Việt, còn người Trung Quốc và người phương Tây thường gọi là An Nam.

2. Tài liệu về việc vua Gia Long đặt quốc hiệu Việt Nam trong Mộc bản triều Nguyễn

Văn bản chữ Hán nói về sự kiện vua Gia Long đặt Quốc hiệu Việt Nam (bản gốc và bản dập)


Mộc bản triều Nguyễn là những bản gỗ khắc chữ Hán Nôm ngược dùng để in ra các sách được sử dụng phổ biến dưới triều Nguyễn. Mộc bản triều Nguyễn là loại hình tài liệu đặc biệt quý hiếm của Việt Nam và thế giới. Hiện nay chỉ còn số ít nước còn lưu giữ được loại hình tài liệu này như: Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. Mới đây, ngày 30 tháng 7 năm 2009, Mộc bản triều Nguyễn đã được đưa vào chương trình “Ký ức thế giới” của UNESCO. Đây là di sản tư liệu đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới. Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO bắt đầu từ năm 1997, đến nay đã có 193 di sản được công nhận. Mộc bản triều Nguyễn được công nhận thông qua tại kỳ họp từ ngày 29/7 đến ngày 31/7/2009 tại thành phố Bridgetown (Barbados) của Ủy ban Tư vấn Quốc tế (IAC) thuộc UNESCO.

Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn có niên đại hơn 200 năm. Hiện tại, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tại Đà Lạt đang lưu giữ hơn 32.000 tấm, trong đó có một số bộ sách rất có giá trị mà các nhà nghiên cứu về lịch sử, pháp luật, địa lý Việt Nam không thể bỏ qua như: Đại Nam thực lục (biên soạn trong 88 năm, từ 1821 đến 1909), Hoàng Việt luật lệ (luật Gia Long), Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Đại Nam nhất thống chí… Mộc bản triều Nguyễn phản ánh nhiều vấn đề và sự kiện xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn. Chúng tôi xin giới thiệu tài liệu về việc vua Gia Long đặt Quốc hiệu là Việt Nam.

Tên gọi Việt Nam lần đầu tiên chính thức trở thành Quốc hiệu của nước ta vào năm 1804. Nó được xác lập bởi một văn bản pháp lý quan trọng là Chiếu của vua Gia Long năm thứ 3 (cách đây hơn 200 năm) và được thông báo cho các nước biết. Xin giới thiệu nguyên văn bài dịch bản Chiếu của vua Gia Long và triều đình nhà Nguyễn về sự kiện này. Nguyên bản gồm hai trang chữ Hán (trang 12 và 13) quyển 23 nằm trong bộ sách Đại Nam thực lục Chính biên đệ nhất kỷ (ghi chép lịch sử thời vua Gia Long) đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV – Đà Lạt:

Dòng chữ "kiến quốc hiệu Việt Nam Đinh Sửu dĩ sự cáo" (việc đặt Quốc hiệu Việt Nam từ ngày Đinh sửu) trong văn bản chữ Hán (bản dập)

Đặt Quốc hiệu là Việt Nam, ngày Đinh sửu đem việc cáo Thái miếu. Lễ xong vua ngự ở điện nhận lễ chầu mừng. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. Chiếu rằng: “Đế vương dựng nước, trước phải trọng Quốc hiệu để tỏ thống nhất. Xét từ các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy nghiệp, mở đất Viêm bang, gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tên nước. Hơn 200 năm, nối hòa thêm sáng, vững được nền thần thánh dõi truyền, giữ được vận trong ngoài yên lặng. Chợt đến giữa chừng, vận nước khó khăn, ta lấy mình nhỏ, lo dẹp giặc loạn, nên nay nhờ được phúc lớn, nối được nghiệp xưa, bờ cõi Giao Nam đều vào bản tịch. Sau nghĩ tới mưu văn công võ, ở ngôi chính, chịu mệnh mới, nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay, kính cáo Thái miếu, cải chính Quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa. Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến Quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa”. Lại hạ chiếu bá cáo với nước Xiêm La, Lữ Tống và các thuộc quốc Chân Lạp, Vạn Tượng khiến đều biết cả.

Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng cho đổi Quốc hiệu là Đại Nam (1838), tên gọi Việt Nam không còn thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng Việt Nam được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí sĩ yêu nước, trong các tác phẩm và tên tổ chức chính trị: Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử (1905) rồi cùng Cường Để thành lập Việt Nam Công hiến hội (1908), Việt Nam Quang phục hội (1912); Phan Chu Trinh viết Pháp – Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam; Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược; Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925) và Việt Nam độc lập đồng minh hội (1941)… Ngày 19/8/1945, cách mạng tháng Tám thành công, Bảo Đại thoái vị (30/8/1945). Ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 chính thức thể chế hóa quốc hiệu này. Từ đấy, Quốc hiệu Việt Nam được sử dụng phổ biến, với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng, toàn diện nhất.


(SDB – 3-2010)





Các bài mới
Các bài đã đăng
Tri kỷ Huế (24/06/2010)
Thanh xuất vu lam (24/06/2010)
Hương còn mãi (22/06/2010)