Ai ra xứ Huế
Phủ Kiến Tường Công và ký ức hoàng gia triều Nguyễn
14:52 | 29/04/2026


TRẦN VĂN DŨNG

Phủ Kiến Tường Công và ký ức hoàng gia triều Nguyễn
Phủ Kiến Tường Công

Lời dẫn

Trong tiến trình lịch sử triều Nguyễn, bên cạnh những nhân vật giữ vai trò chính trị và quân sự nổi bật, vẫn có những vị hoàng thân, hoàng tử không trực tiếp đảm nhiệm trọng trách triều chính nhưng đã để lại dấu ấn sâu sắc về nhân cách, học vấn và ảnh hưởng văn hóa lâu dài trong hoàng tộc. Đức ông Kiến Tường Công Miên Quan là một trường hợp tiêu biểu như vậy.

Cuộc đời của đức ông không chỉ phản ánh rõ nét nền nếp giáo dưỡng, truyền thống thi thư và đạo lý của hoàng tộc nhà Nguyễn, mà còn gắn liền với một hệ thống di sản phong phú, bao gồm di sản vật thể, phi vật thể và tư liệu có giá trị độc đáo. Những di sản ấy, qua nhiều biến thiên của lịch sử, vẫn được hậu duệ gìn giữ, trân trọng và tiếp tục phát huy ý nghĩa trong đời sống văn hóa - lịch sử của vùng đất Cố đô cho đến ngày nay.

1. Thân thế và nhân cách của hoàng tử Miên Quan

Chân dung đức ông Kiến Tường Công Miên Quan (1827 - 1847)

Hoàng tử Miên Quan 綿官, tự là Tắc Tư 則思, sinh ngày 26 tháng 4 năm Đinh Hợi (tức ngày 21/5/1827), là hoàng tử thứ 36 của vua Minh Mạng, con của đức từ Tiệp dư Lê Thị Ái1. Trong số các con của đức Tiệp dư, hoàng tử Miên Quan là người con thứ tư. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã được sử sách ghi nhận là người “khôi ngô, có tính hiếu đễ”2, sớm bộc lộ tư chất trầm tĩnh, lễ độ và giàu tình cảm gia đình.

Sử chép rằng, khi hoàng tử Miên Quan mới khoảng 8 - 9 tuổi thì đức từ Tiệp dư lâm bệnh nặng. Trong thời gian ấy, ông cùng anh trai là Tuy Quốc công Miên Trinh ngày đêm hầu hạ thuốc thang, tận tâm tận lực, không quản nhọc nhằn. Hành động hiếu thuận đó khiến các cung nhân, nữ quan đều cảm phục, dành nhiều lời khen ngợi, xem ông tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã có phong thái chững chạc của người trưởng thành3. Đây cũng là một biểu hiện sớm cho thấy nền tảng nhân cách được hun đúc từ giáo dục cung đình nghiêm cẩn và môi trường gia giáo.

Sau khi được vua Minh Mạng cho phép ra lập phủ đệ riêng, hoàng tử Miên Quan không chỉ chuyên tâm học tập kinh sử theo truyền thống Nho học, mà còn mở rộng phạm vi tri thức sang các lĩnh vực khác như y thư và sách xem tướng. Việc “ngoài kinh sử ra, sách thuốc sách xem tướng đều đọc qua cả”4 cho thấy hoàng tử là người ham học, có tinh thần cầu tri thức rộng rãi, không bó hẹp trong con đường công danh thông thường. Tuy nhiên, thể trạng yếu ớt và bệnh tật triền miên đã sớm phủ bóng lên cuộc đời ngắn ngủi của ông, để lại trong tâm tư hoàng tử nhiều nỗi u hoài. Một lần, khi soi gương thấy dung nhan tiều tụy, hoàng tử Miên Quan buồn rầu thổ lộ cùng anh trai là hoàng tử Miên Trinh rằng: “Học thì lấy Tử Chiêm (tức Tô Thức) làm thầy, ở thì như Khương Quang (anh em) cùng chung chăn với nhau, sự rất vui của con người, còn gì hơn thế nữa. Nhưng vì em ốm yếu, phận mệnh có hạn thôi, em chẳng giống được anh”5. Lời bộc bạch ấy phản ánh rõ nét tâm trạng tự ý thức về thân phận, vừa an nhiên trước niềm vui học vấn và tình huynh đệ, vừa man mác nỗi lo về số mệnh hữu hạn của bản thân.

Trước nỗi niềm ấy, hoàng tử Miên Trinh đã ôn tồn an ủi: “Tôn thúc ốm yếu mà tuấn tú học giỏi, Trương Tử Phòng mặt như đàn bà con gái mà nho nhã. Cố nhiên là sự thường của người nho gia, há có phải những người tóc bạc lại mọc răng như trẻ con đều là bọn (Nam) Bôn, (Hạ) Dục6 mà người ấp Giáng7, ông Lão Bành8 phải có sức nhấc đỉnh bạt núi cả đâu?”9 Lời khuyên mang đậm tinh thần Nho gia này không chỉ nhằm xua tan mặc cảm về thân thể, mà còn khẳng định giá trị của học vấn, nhân cách và khí độ trí thức, vượt lên trên những giới hạn thể chất thông thường. Dẫu vậy, “lòng sầu muộn của ông cũng không tiêu tan được”10, cho thấy nội tâm hoàng tử Miên Quan luôn chất chứa sự nhạy cảm và ưu tư hiếm thấy ở lứa tuổi thiếu niên.

Ngày mồng 4 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 21 [1840], hoàng tử Miên Quan được vua cha tấn phong tước Kiến Tường Quận công 建祥郡公, lấy theo tên phủ Kiến Tường thuộc tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Đồng Tháp). Việc phong tước này là sự ghi nhận chính thức của triều đình đối với thân phận, vai trò và địa vị của ông trong hàng hoàng thất triều Nguyễn. Cũng trong năm này, vua Minh Mạng cho đúc các con thú bằng vàng để ban thưởng cho các hoàng thân, hoàng tử đã và chưa được phong tước. Riêng Kiến Tường Quận công Miên Quan được ban một con long mã bằng vàng, nặng 4 lạng 8 đồng cân11, thể hiện sự ưu ái đặc biệt của vua cha dành cho người con có tư chất hiền hậu nhưng sức khỏe yếu kém.

Đến niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 6, ngày 18 tháng Chạp năm Bính Ngọ (tức ngày 3/2/1847), đức ông Kiến Tường Quận công Miên Quan lâm trọng bệnh và qua đời, hưởng dương 20 tuổi. Trước sự ra đi sớm của đức ông, vua Thiệu Trị vô cùng thương tiếc, ban thụy hiệu là Cung Lượng 恭諒, đồng thời cấp thêm 1.000 quan tiền, vải lụa cùng nhiều phẩm vật quý từ vườn Đông, lại sai các hoàng thân công đến ban rượu trong lễ tang12. Những nghi thức và ân điển ấy phản ánh sự trân trọng của triều đình đối với nhân cách hiền lương, khiêm cung và đời sống nội tâm sâu sắc của đức ông Kiến Tường Quận công.

2. Truy phong tước vị

Ngày 16 tháng 3 năm Bảo Đại thứ 14 [1939], đức ông Miên Quan được triều đình long trọng truy phong tước Kiến Tường Công 建祥公, đồng thời cải thụy từ Cung Lượng 恭諒 thành Cung Túc 恭肅. Đây là một sự kiện mang ý nghĩa đặc biệt, không chỉ đối với hậu duệ phòng Kiến Tường Công mà còn trong đời sống hoàng tộc đương thời, thể hiện sự ghi nhận của triều đình đối với một hoàng tử nổi tiếng về nhân cách và học vấn.

Sự kiện truy phong tước vị Thân công này đã được báo Tràng An - một trong những tờ báo có uy tín thời bấy giờ đăng tải và giới thiệu trong bài viết mang nhan đề “Trong hoàng tộc: Lễ truy phong đức Kiến Tường Công, con thứ 36 của đức Minh Mạng”, với nội dung như sau: “Chúng tôi rất lấy làm vui mừng được tin đức Kiến Tường Quận công, tức ngài Mân Quan mới được đức Kim thượng ban sắc truy phong tước Kiến Tường Nhứt Tự Công. Lễ truy phong sẽ cử hành tại phủ thờ Ngài ở Vỹ Dạ nay mai. Ngài là con thứ 36 của đức Minh Mạng và em đồng bào của Ngài Tuy Lý Vương. Mới 20 tuổi Ngài đã từ trần. Dã sử biên chép Ngài thông minh tuấn tú và khi qua đời đã đem lại cho hoàng tộc một mối vô cùng thương tiếc. Ngài có người con là mệ Hường Mục, lớn lên lãnh tước Kỳ Ngoại hầu. Kế thế đời cháu ngài chỉ có mụ Ưng Trực, lãnh tước Tá Quốc khanh và 3 người cháu gái. Cụ Tá Ưng Trực hiện nay là một bậc lão thành 76 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh. Tánh tình thật là hòa nhã, trong bà con lân lý ai nấy đều kính phục”13. Bài báo không chỉ phản ánh thông tin liên quan đến lễ truy phong mà còn khắc họa rõ hình ảnh đức ông Kiến Tường Công trong ký ức hoàng tộc và xã hội đương thời: một hoàng tử thông minh, tuấn tú, được triều đình và thân tộc hết mực thương tiếc khi sớm qua đời.

Nội dung bản sách phong trên lụa (thể sách) do vua Bảo Đại ban cấp để truy phong cho đức ông Miên Quan tước vị Kiến Tường Công, được Công Tằng Tôn Bửu Tiệp dịch nghĩa, đã thể hiện rõ tinh thần tôn vinh công đức, nhân cách và vị thế của đức ông trong hoàng gia. Toàn văn bản dịch như sau: “Ngưỡng mộng lộng lộng trời cao vận thái, Trẫm mong nối nghiệp Tiên triều Liệt thánh hưởng phước biết bao ân vinh. Tuy vậy, Trẫm vẫn thận trọng trước hết là các bậc Hiền vương, dẫu còn dẫu mất, không đều phân biệt cứ tùy công đức mà ban tước vị. Gặp thời thuận tiết, cây trái xinh tươi, bèn nhớ lại Miên Quan là con trai thứ 36 của vua Thánh tổ. Đối với Hoàng gia là một bậc tài năng chói lọi, từng giúp đỡ giang sơn, công trình vĩ đại, lại là có tiền nhơn hậu, chẳng khác gì móng chân của kỳ lân, đi đến đâu bách thú đều được hưởng phước hoan nghênh, mà mãi mãi đến nhà Châu vẫn còn nổi tiếng thơm danh. Ta nay, trông chỗ Hoàng gia tùy theo công nghiệp với nước, mà lượng truy phong tước vị cho được công minh. Thời nay gặp lễ Đại khánh tiết cũng là một lẽ tự nhiên, mà nhớ đến các bậc đời xưa. Vậy trước chuẩn gia phong Kiến Tường Quận công lên ‘Nhất Tự Công’ đem vào sách mệnh để di tích về sau. Thương thay, mảnh gương trong sạch, ngàn thu vẫn còn kỷ niệm, giang sơn làm bảo đảm chứng minh. Xiêm áo thêm hoa, cân đai thêm nụ dẫu rằng mờ ám dưới cửu tuyền vinh ân ánh sáng, tưởng cũng tới nơi. Xin người chín suối thấu hưởng. Nay sắc”14. Qua bản sắc phong này, có thể thấy rõ việc truy phong Kiến Tường Công không chỉ mang tính nghi lễ, mà còn là sự khẳng định chính thức của triều đình đối với danh phận, nhân cách và công lao của đức ông Miên Quan trong hoàng gia triều Nguyễn.

3. Con cháu hậu duệ và không gian thờ tự

Đức ông Kiến Tường Công là người khai mở phòng 36, thuộc Đệ Nhị chánh hệ của hoàng tộc triều Nguyễn, đồng thời được triều đình ngự ban bộ chữ “Mục 目” để đặt tên cho các thế hệ con cháu trong phòng15, theo đúng quy định về thứ bậc dòng tộc của hoàng gia. Đức ông có ba người con trai: Hường Mục 洪睦, Hường Cân 洪盺, Hường Chơn 洪眞 và một người con gái là Cẩm Văn 錦文. Khi đức ông Kiến Tường Công qua đời, các con đều còn nhỏ, trong đó hai người con trai là Hường Mục và Hường Chơn chưa đến tuổi trưởng thành. Triều đình đã chiếu theo lệ dành cho công tử từ 11 tuổi trở lên mà cấp lương bổng nuôi dưỡng cho hai anh em, thể hiện sự quan tâm và ưu đãi của triều đình đối với hậu duệ của một hoàng tử tài hoa bạc mệnh.

Sơ đồ phong tước tại phủ Kiến Tường Công


Công tử trưởng Hường Mục (? - ?) được vua Tự Đức tập phong tước Kỳ Ngoại hầu vào năm 1869. Con trai của Hường Mục là Ưng Trực 膺直 (1864 - 1941) được vua Thành Thái tập phong làm Tá Quốc khanh vào năm 1896; đến năm 1940, dưới triều vua Bảo Đại, ông được cải phong tước Kiến Tường Huyện hầu. Công tôn Ưng Trực từng giữ chức Phó sứ Ty Từ Tế, khi về hưu được triều đình vinh thăng hàm Hồng lô Tự khanh.

Công tôn Ưng Trực có năm người con trai: Bửu Đam, Bửu Chúng, Bửu Tiệp, Bửu Chiêm, Bửu Chuân và ba người con gái: Xuân Lang, Mỹ Lang, Hải Huệ. Các người con đều được chăm lo học hành, trưởng thành và có vị trí nhất định trong xã hội đương thời. Trong đó:

Bửu Đam 寶眈 (1885 - 1962) sau khi tốt nghiệp đã vào làm việc tại Sở Hỏa xa Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (1918), khi về hưu giữ chức Phòng trưởng phụ trách cầu cống Hỏa xa. Ngày 1 tháng 4 năm Quý Mùi (tức ngày 21/5/1943), ông được vua Bảo Đại tập phong tước Trợ Quốc khanh. Châu bản triều Nguyễn ghi nhận, ngày 14 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 18 (1943), Bộ Lễ nghi - Công tác dâng bản tấu nêu rõ việc Phủ Tôn Nhơn xin cho Bửu Đam, khi ấy 58 tuổi, kế tập lo việc thờ cúng trong phòng Kiến Tường Công sau khi Huyện hầu Ưng Trực qua đời; việc này đã được Bộ Tài chính, Hội đồng Thượng thư và Khâm sứ nhất trí chuẩn thuận, vua phê: “Chuẩn y. Ngự ký: BĐ”16.

Bửu Chúng 寶衆 (1892 - ?) được triều đình bổ hàm Cửu phẩm văn giai, giữ chức Trưởng phòng phòng Kiến Tường Công.

Bửu Tiệp 寶睫 (1894 - 1951) tốt nghiệp Trường Quốc Tử Giám, được bổ làm tùng sự Nam triều; năm 1917 theo phái đoàn sang Pháp với nhiệm vụ Thông ngôn. Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Trú dịch Hà Tĩnh (1920), Bang tá Thừa phủ (1925), Tri huyện Đại Lộc (Quảng Nam, 1931), Tri huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An), Tri huyện Hòa Vang (Quảng Nam), khi về hưu mang hàm Hồng lô Tự khanh.

Bửu Chiêm 寶䀡 (1902 - 1942) từng làm Thư ký Sở Hỏa xa Đồng Hới, Đà Nẵng và Thư ký Tòa Công chánh Đà Nẵng, sau chuyển sang nghề thầu khoán, khai thác mỏ vàng Bồng Miêu. Năm 1934, ông trở về Huế và được triều đình ấm thọ hàm Hàn lâm viện Cung phụng.

Bửu Chuân 寶盹 (1909 - ?) làm y tá tại Bệnh viện Huế, đến năm 1949 giữ chức Y tá trưởng Bệnh xá phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Đáng chú ý là Mỹ Lang (1906 - ?), con gái thứ hai của Công tôn Ưng Trực, là người tài sắc vẹn toàn, kết hôn với ông Durozad, từng giữ chức Giám đốc Ngân hàng Đông Dương tại Tourane (Đà Nẵng), sau chuyển công tác sang Tahiti. Báo Tràng An cho biết, lễ thành hôn của bà tại Tourane từng được hãng thông tấn Arip đưa tin trên hệ thống vô tuyến điện; trong số những người chứng kiến và làm chứng hôn có nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền và xã hội đương thời như Thượng thư Bộ Lễ Công Tôn Thất Quảng, Kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ Đại thần Ưng Bàng, Khâm sứ Yves Châtel và quan Luật sư Guerry. Bài báo ca ngợi cuộc hôn nhân này như một biểu hiện giao thoa văn hóa Đông - Tây ở tầng lớp thượng lưu. Bà Mỹ Lang từng được Chính phủ Nam triều ban thưởng huy chương Kim Bội17.

Cổng vòm phủ Kiến Tường Công

Sau khi đức ông Kiến Tường Công qua đời, phủ đệ của ngài được con cháu chuyển đổi thành phủ thờ, tọa lạc tại làng Vỹ Dạ, huyện Phú Vang xưa (nay thuộc địa chỉ số 92 đường Nguyễn Sinh Cung, phường Vỹ Dạ, thành phố Huế), cách phủ Tuy Lý Vương không xa. Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, phủ Kiến Tường Công đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần, song vẫn cơ bản giữ được dáng vẻ kiến trúc truyền thống của một phủ đệ hoàng gia triều Nguyễn. Diện mạo kiến trúc hiện nay của phủ là kết quả của đợt đại trùng tu vào năm 1997. Tổng thể công trình bao gồm các hạng mục chính như bến phủ, cổng vòm, bình phong, nhà chính, nhà phụ và hệ thống sân vườn, với diện tích hơn 500 m². Việc quy hoạch và bố cục mặt bằng của phủ Kiến Tường Công tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc phong thủy truyền thống phương Đông, thể hiện rõ trong hướng nhà, trục không gian và mối quan hệ với cảnh quan tự nhiên xung quanh.

Phủ Kiến Tường Công quay mặt về hướng Tây, phía trước có sông Hương làm yếu tố Minh đường, mang ý nghĩa cát tường. Bến phủ xưa nằm đối diện bên kia đường, tuy hiện nay đã có nhiều thay đổi do quá trình đô thị hóa, hai bên xây dựng nhà cửa hình thành một kiệt nhỏ dẫn xuống bờ sông. Tiến vào phủ, trước mắt hiện ra cổng vòm với những đường nét trang trí mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống. Mái cổng được đắp nổi bằng xi măng giả ngói ống, trang trí đồ án “Lưỡng long triều nhật”, biểu trưng cho địa vị vương giả và sự tôn quý của chủ nhân phủ đệ. Chính giữa mặt ngoài cổng, bên dưới lớp mái thứ hai, là biển ngạch đắp nổi dòng chữ “建祥公府 Kiến Tường Công phủ”, thể hiện bằng nghệ thuật nề ngõa. Trên cổng còn tạo tác các ô hộc hình vuông, chữ nhật trang trí hoa văn; các đầu đao được đắp nổi hình hoa lá hóa, hướng về trung tâm, tạo nên bố cục cân xứng và hài hòa. Hai bên trụ cổng có đắp nổi câu đối chữ Hán theo lối nề ngõa:

建祥富貴興
阮福功名盛

Kiến Tường phú quý hưng,
Nguyễn Phúc công danh thạnh.

Dịch nghĩa:

Phòng Kiến Tường Công ngày càng hưng thịnh, giàu sang;
Họ Nguyễn Phúc công danh rạng rỡ, phát đạt.

Nội thất phủ Kiến Tường Công


Qua cổng phủ, không gian mở ra với sân phủ và một bức bình phong án ngữ phía trước nhà chính. Bình phong mang ý nghĩa ngăn chặn tà khí, đồng thời gửi gắm ước vọng về sự an hòa, thịnh vượng cho con cháu. Công trình trung tâm của phủ là nhà chính, được xây dựng trên mặt bằng hình chữ nhật, kết cấu ba gian, mái lợp ngói. Trên đỉnh nóc mái tiếp tục xuất hiện đồ án “Lưỡng long chầu nhật”, nhấn mạnh tính chất vương phủ của không gian thờ tự. Phía trước ba gian là ba lối cửa, với sáu cánh cửa gỗ. Trên cửa lối chính giữa treo bức hoành phi đề bốn chữ “建祥公祠 Kiến Tường Công từ”, xác lập rõ chức năng thờ tự của công trình. Không gian nội thất được chia thành ba gian thờ: Gian giữa thờ thần chủ và di ảnh đức ông Kiến Tường Công; gian bên trái (theo hướng nhìn từ trong ra ngoài) thờ Huyện hầu Ưng Trực; gian bên phải thờ Kỳ Ngoại hầu Hường Mục, phản ánh rõ trật tự tông phái và sự tiếp nối dòng dõi.

Hiện nay, phủ thờ Kiến Tường Công do ông Bảo Minh18 trông coi, gìn giữ và phụng thờ. Lễ húy kỵ của đức ông được tổ chức long trọng vào ngày 17 tháng Chạp hằng năm. Ngoài con cháu trong phòng Kiến Tường Công, còn có đại diện các phủ phòng đồng từ như phủ Tuy Lý Vương, Trấn Biên Quận công, Phong Quốc công đến tham dự. Hoạt động thờ tự tại phủ không chỉ là sự thực hành đạo lý uống nước nhớ nguồn, mà còn là sự tiếp nối di sản tinh thần hoàng gia, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa của dòng họ và vùng đất Cố đô.

4. Viên tẩm và giá trị di sản lịch sử - kiến trúc

Viên tẩm của đức ông Kiến Tường Quận công được an táng tại cánh đồng ấp Thiên Tỉnh, làng Dương Xuân; ngày nay thuộc địa chỉ số 5 kiệt 242 đường Bùi Thị Xuân, phường Thuận Hóa, thành phố Huế. Trải qua thời gian, viên tẩm vẫn được con cháu trong phủ gìn giữ và bảo tồn khá nguyên vẹn, thể hiện rõ đạo lý tri ân tổ tiên của dòng tộc, đồng thời góp phần quan trọng vào việc lưu giữ các giá trị văn hóa - lịch sử của vùng đất Cố đô Huế.

Viên tẩm của đức ông Kiến Tường Quận công
Văn bia tại viên tẩm của đức ông Kiến Tường Công


Về mặt kiến trúc, viên tẩm đức ông Kiến Tường Quận công được xây dựng theo quy thức tẩm mộ truyền thống của hoàng gia triều Nguyễn, gồm một vòng thành bao bọc, hai bia đá, phần nấm mộ và hệ thống bình phong tiền - hậu. Ngay phía trước cổng viên tẩm là bình phong tiền, được xây dựng nằm chính giữa trục thần đạo, giữ vai trò che chắn và tạo không gian linh thiêng cho khu tẩm mộ. Bao quanh toàn bộ viên tẩm là một lớp la thành xây bằng gạch, trát vữa, vừa xác lập ranh giới thiêng liêng, vừa bảo vệ không gian an táng.

Bình phong hậu được xây dựng gắn liền với la thành, hoàn chỉnh bố cục kiến trúc tổng thể của viên tẩm. Tấm bia đá thứ nhất được dựng ở phía trước phần mộ. Bia được làm bằng đá thanh, tạo hình theo dạng “Tam sơn”, trán bia trang trí mô típ “Lưỡng long chầu nhật”, diềm bia trang trí hồi văn “long hóa”, các nét chữ khắc sâu, rõ ràng. Nội dung chính văn khắc dòng chữ: “Kiến Tường Quận công, thụy Cung Túc tôn tẩm; Bảo Đại thập niên nguyệt cát nhật tạo; Tự tử: Hồng lô Tự khanh Ưng Trực bái lập - 建祥郡公謚恭肅尊寢;保大十七吉日造年;嗣子: 鴻臚寺卿膺直拜立” (Tẩm mộ của đức ông Kiến Tường Quận công, tên thụy là Cung Túc; Hậu duệ thừa tự là Hồng lô Tự khanh Ưng Trực kính lập bia). Phía sau tấm bia mộ là phần nấm mộ của đức ông Kiến Tường Quận công, được xây dựng theo kiểu liếp, gồm ba tầng, bên trong là cốt gạch, bên ngoài trát vữa, với các khối hình chữ nhật xếp chồng lên nhau, tạo dáng thức vững chãi, trang nghiêm, đúng quy chuẩn mộ táng của hoàng thân quốc thích triều Nguyễn.

Tiếp đến là tấm bia đá thứ hai, được gắn ở vị trí chính giữa bình phong hậu. Văn bia khắc dòng chữ: “Kiến Tường Quận công, thụy Cung Lượng chi tẩm - 建祥郡公謚恭諒之寢” (Viên tẩm của đức ông Kiến Tường Quận công, tên thụy là Cung Lượng). Đây là tấm bia đá cổ, được tạo dựng vào năm 1847, có giá trị đặc biệt trong việc xác định niên đại và thụy hiệu chính thức của Kiến Tường Quận công. Ngoài ra, tại bình phong hậu còn gắn hai tấm bia đá có kích thước rộng 32 cm, cao 77 cm, khắc văn bia: “Đệ Kiến Tường Cung Lượng Quận công thần đạo bi minh - 弟建祥恭諒郡公神道碑銘” (Bài minh trên bia thần đạo của em là Kiến Tường Quận công, thụy Cung Lượng). Bia hiện nay có một số chữ Hán bị mờ nét do tác động của thời gian. Bài minh này do anh trai của đức ông là Tuy Quốc công Miên Trinh biên soạn vào ngày 27 tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 7 [1847], nhằm ghi lại thân thế, nhân cách và đức hạnh của em trai là Kiến Tường Quận công Miên Quan. Đến ngày rằm cuối mùa xuân năm Canh Thìn (1880), người con cả của Kiến Tường Quận công là công tử Hường Mục đã đứng ra chịu trách nhiệm khắc lại toàn bộ văn bản này trên hai tấm bia đá, dựng tại tẩm mộ của đức ông, với mục đích lưu truyền đức độ, nhân cách và ký ức về Kiến Tường Quận công cho các thế hệ hậu duệ về sau.

Xung quanh viên tẩm của đức ông Kiến Tường Quận công còn có nhiều ngôi mộ của con cháu hậu duệ trong phủ, tạo thành một quần thể mộ táng mang tính gia tộc, phản ánh sự tiếp nối huyết thống và truyền thống thờ tự bền vững của dòng họ trong không gian văn hóa lịch sử của mảnh đất đế đô.

Thay lời kết

Cuộc đời của đức ông Kiến Tường Công Miên Quan tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức hoàng tộc triều Nguyễn. Từ nhân cách hiếu đễ, tinh thần hiếu học cho đến hệ thống di sản kiến trúc, văn bia, phủ thờ và truyền thống của hậu duệ, tất cả hợp thành một chỉnh thể giá trị văn hóa - lịch sử đặc sắc. Việc tiếp tục gìn giữ, nghiên cứu và phát huy các di sản liên quan đến đức ông Kiến Tường Công không chỉ góp phần bảo tồn di sản tinh thần hoàng gia, mà còn làm phong phú thêm bức tranh văn hóa của Cố đô Huế trong dòng chảy lịch sử dân tộc.

T.V.D
(TCSH446/04-2026)

---------------------------
1 Ngoài hoàng tử Miên Quan, đức từ Tiệp dư Lê Thị Ái còn sinh hạ hai hoàng tử và hai hoàng nữ khác, gồm: Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820 - 1897), hoàng tử thứ 11; hoàng tử Miên Long, mất sớm, hoàng tử thứ 22; Hòa Mỹ Công chúa (1825 - 1847), hoàng nữ 22; hoàng nữ Nhàn Trinh (1829 -1830), hoàng nữ thứ 30 của vua Minh Mạng.
2 Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 3, bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 153.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 3, Sđd, tr. 154.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 3, Sđd, tr. 154.
5 Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 3, Sđd, tr. 154.
6 Mạnh Bôn, Hạ Dục đều là những dũng sĩ ngày xưa.
7 Người ấp Giáng sống thọ đến 73 tuổi.
8 Lão Bành tức Bành Tổ thọ 700 tuổi.
9 Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 3, Sđd, tr. 154.
10 Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 3, Sđd, tr. 154.
11 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 5, bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 695.
12 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 6, bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 945.
13 Báo Tràng An (1939), “Trong hoàng tộc: Lễ truy phong đức Kiến Tường Công, con thứ 36 của đức Minh Mạng”, Tràng An báo, số 425, ra ngày 6 tháng 6 năm 1939, Huế, tr. 1.
14 Phủ Kiến Tường Công (1943), Gia phổ phòng Kiến Tường Công, Vỹ Dạ, Huế, tr. 2-3.
15 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 6, Sđd, tr. 756.
16 Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, triều vua Bảo Đại, tập số 046, tờ số 36.
17 Báo Tràng An (1939), “Trong hoàng tộc: Lễ truy phong đức Kiến Tường Công, con thứ 36 của đức Minh Mạng”, Tràng An báo, số 425, ra ngày 6 tháng 6 năm 1939, Huế, tr. 1-2.
18 Ông Bảo Minh là con trai cụ Vĩnh Thai, cháu nội cụ Hồng lô Tự khanh Bửu Tiệp.

 

 

Các bài đã đăng