HẢI TRUNG
Đánh giá về vua Tự Đức, trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, ông Yoshiharu Jsuboi có viết: "Dù sức khỏe kém, Tự Đức rất thông minh, nhất là về văn học. Ông rất thích nghiên cứu học tập và thường đọc các sách kinh điển Trung Hoa, nhất là sách Nho giáo"(1).
Quả thực, là một hoàng đế đồng thời lại là một tác gia văn học có khối lượng sáng tác đồ sộ và phong phú cả nội dung cũng như hình thức thể loại hẳn nhiên trên tuổi của Tự Đức đã đi vào lịch sử văn học.
Qua nhiều sáng tác thơ văn còn lưu lại của ông, phần nào nó đã phản ánh tâm trạng mâu thuẫn, bế tắc của tác giả trước thời cuộc. Từ những tác phẩm này, Tự Đức đã thể hiện niềm mong muốn trở thành một ông vua giỏi, ra tay chấn chỉnh sơn hà, song những mong muốn ấy đều không thành.
Đọc lại một số bài văn từ mệnh của Tự Đức, chúng ta sẽ hiểu thêm hơn về thái độ của một nhà vua đối với "dân đen, con đỏ". Từ thâm tâm, Tự Đức có những ước muốn làm cho đời sống nhân dân trở nên tốt đẹp. Ông đã biểu lộ thái độ lo lắng của mình đối với vận mệnh của nhân dân. Niềm mong mỏi của ông nhiều lúc rất thống thiết trong tâm trạng dằn vặt, âu lo đến khắc khoải. Ngay từ buổi đầu bước lên ngai vị, ông đã nguyện rằng:
"Bước lên ngôi báu, nối nghiệp cha ông, ta nguyện một lòng chỉnh tu việc nước để trong ngoài được hưởng thái bình, chính sự quốc gia rọi xuống dân đen con đỏ"(2).
Chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, lẽ tất nhiên đối với Tự Đức dân là đối tượng để cai trị. Nhưng ông đã nghĩ về dân theo quan điểm truyền thống tích cực: "Chính trị cốt ở nuôi dân, ấy là chí nguyện của trẫm"(3). Có lúc, suy nghĩ về người dân ở Tự Đức rất thấu đáo:
"Chính sự là cốt ở nuôi dân, dân là gốc của nước, gốc có vững chắc thì nước mới yên. Vì binh tài do dân mà ra, cho nên nếu không nuôi dân mà lại cầu cho nước được yên thì khác gì người đi giật lùi mà mong tiến lên"(4).
Do được xem là tư tưởng mang tính truyền thống mà Tự Đức đã kế thừa được từ các thế hệ trước, và cũng chính là bài học lớn nhất của Tự Đức trong suốt thời gian trị vì của mình. Nhưng khi ông nhận ra cái gốc ấy thì đã quá muộn màng. Mãi đến cuối đời làm vua của mình (trong 1 bài dụ ông viết vào năm thứ 34) Tự Đức mới ngộ ra "cái gốc của nước" một cách xót xa.
Lịch sử cho thấy, khi ký Hiệp ước 1862, cắt ba tỉnh Nam kỳ cho Pháp, Tự Đức rất lấy làm hối hận. Nhiều lần ông đã tìm cách chuộc lại nhưng phía Pháp không chấp thuận. Trước nỗi thống khổ của nhân dân, ông đã than rằng: "Thương thay con đỏ lịch triều nào có tội tình chi" hoặc "đất đai nay vẫn chưa thu về, dân còn thương xót như mất mẹ cha".
Là một nhà Nho chính thống, hẳn Tự Đức hiểu rất rõ những quan điểm trong kinh điển của Nho giáo - Kính trời đi với yêu dân. Kinh Thư có viết: “Trời thương dân, dân muốn gì trời cũng nghe”. Nhưng vì không trực tiếp thâm nhập vào đời sống của nhân dân, chỉ biết được đời sống của họ qua việc trình tâu, báo cáo của quan lại nên Tự Đức không thể nào có những chính sách phù hợp với đời sống của dân là tất yếu.
Một trong những tai họa lớn trực tiếp đe dọa đến sự sống còn của người nông dân là thiên tai: hạn hán và lụt lội. Cứ mỗi lần xảy ra hạn, lũ, nhà vua chỉ biết ra sắc lệnh khuyên răn quan lại nên giữ mình để tránh sự trừng phạt của trời đất, khuyên "cầu đảo" cúng tế trời để giảm bớt nỗi khổ cho dân: "... các khanh phải nhất tâm vì nước, vì dân trừ bỏ hết các tệ hại cũ, ra sức cầu đảo, sao cho được điều ứng hay chuyển mất mùa thành được mùa, khiến cho dân khỏi bị đói rách, không được cậy vào của công nhà nước mà nghênh mắt ngồi trông, mặc kệ cho dân khổ sở"(5).
Thiên tai đã đẩy cuộc sống của dân tình xuống vực thẳm của đói nghèo. Thế mà, bọn cường hào, quan lại vẫn không buông tha, tìm mọi cách vơ vét, bóc lột của nhân dân. Trước tình cảnh đó, Tự Đức không thể khoanh tay làm ngơ được, ông lên tiếng chỉ trích: "Lại nghĩ các tỉnh lớn ở Bắc kỳ, năm ngoái chợt bị nạn gió bão quá nặng, nhân dân đau khổ chưa phục hồi được. Trước đây, trẫm đã từng ra lệnh cho các tỉnh thần phải trừ bỏ tập tệ quan lại, xem xét ẩn tình của dân gian, trừ khử bọn cường hào gian hoạt"(6).
Từ văn từ mệnh của Tự Đức chúng ta còn thấy ông là người có tư tưởng ái dân. Sự ái dân được Tự Đức nhắc rất nhiều lần và càng về cuối đời điều ấy lại trở thành niềm băn khoăn lớn nhất của ông. Ý thức được cuộc đời làm vua của mình chưa có công lao gì cho nhân dân, ông chỉ nhấn mạnh sự thành tâm một mực yêu dân: "Cố nhiên, trẫm là một người đức bạc, chưa đủ để nói đến việc chính sự hay được. Duy từ khi nắm chính quyền đến nay lúc nào trẫm cũng một niềm để dạ yêu dân, tuy già cũng không chút suy kém"(7). Và trường hợp này cũng là một minh chứng xác đáng hơn: "Trẫm vốn là người không có tài năng gì, chỉ riêng có một dạ yêu dân, đến tuổi già càng đốc thiết"(8).
Cũng xuất phát từ sự ái dân đó, lúc nào Tự Đức cũng mơ ước một đất nước thái bình, nhân dân được sống yên ổn. Trong “Chiếu bang giao”, ông đã trình bày mục đích của việc bang giao với các nước khác là "muốn dân chúng yên ổn, nước nhà hòa mục"(9) và "sửa sang hòa mục để thiên hạ về chung một nhà". Đó là những điểm khá tiến bộ của một nhà vua.
Bao giờ cũng vậy, một ý nguyện chưa tròn, chưa thực hiện được, ông thường "ngày đêm khắc khoải", "không lúc nào không nghĩ tới" như ông từng bộc bạch. Tấm lòng của ông là vậy nhưng oái ăm thay, Tự Đức vẫn luôn là người bất lực. Trách nhiệm không tròn ông tự dằn vặt bản thân, tự cho mình là "đức bạc, trí kém" là "không có tài năng gì" một cách bi quan, chán nản.
Trong văn từ mệnh, thái độ, tấm lòng "ái dân" của Tự Đức là một thực tế. Nhưng nếu chỉ qua chỉ dụ thôi thì vẫn chưa đủ mà đòi hỏi cần phải có sự đốc thúc thực hiện. Thật là mâu thuẫn khi tư tưởng có phần nào tiến bộ pha lẫn hạn chế của Tự Đức lại đối với việc làm của ông trong thực tế. Chỗ này là tiếng nói bao dung của nhân dân, chỗ kia là những hành động sai lầm trái với niềm mong mỏi của quần chúng. Nếu như ở văn chương, Tự Đức đã thể hiện tấm lòng, tình cảm của một hoàng đế đối với người dân thì hành động bắt nhân dân xây Vạn Niên sẽ được lý giải thế nào? Đó chính là mâu thuẫn của cuộc đời làm vua của Tự Đức.
Văn Từ mệnh của Tự Đức phản ánh tâm trạng "lo lắng ngày đêm" của một vị vua trước sứ mệnh lớn lao của mình. Nhưng cái "hùng tâm" muốn mưu đồ lập nghiệp của Tự Đức dường như mờ mịt vì những điều kiện khách quan và chủ quan đưa lại. Dù bị hạn chế trong nhiều mối quan hệ về tâm lý, tư tưởng, ông vẫn tỏ ra là người ý thức rất rõ bản thân mình. Không ngẫu nhiên, Tự Đức bộc bạch tâm trạng của ông qua văn chương, càng không phải ngẫu nhiên khi cái tôi rất cụ thể của một Hoàng đế lại hiện hữu, định hình một cách trọn vẹn trong tác phẩm của Tự Đức. Những điều đó đều xuất phát từ một tâm sự thầm kín đầy trắc ẩn của một người cầm quyền đối với vận mệnh của dân tộc trước sóng gió lịch sử: muốn gìn giữ đất nước nhưng không đủ sức lực là bi kịch lớn nhất đằng đẵng suốt cuộc đời làm vua của Tự Đức.
Tự Đức là sản phẩm bi kịch trách nhiệm của một hoàng đế. Từ chiêm ngẫm thực tế triều đại và bản thân, Tự Đức đã phản tỉnh để xấu hổ để dằn vặt về nỗi bất lực trước trách nhiệm của mình. Cho nên bế tắc trong tâm hồn của ông lại nặng nề hơn, cuối cùng tư tưởng của ông lại rơi vào bi quan yếm thế: "trẫm thường tự nghĩ, mình đã không có công lại còn có tội, dám đem thân làm lụy đến người"(10) và "trẫm phúc đức tài đều mỏng mảnh, cảnh ngộ gian nan, không có công mà chỉ có lỗi"(11).
Xem lại những trang viết của Tự Đức, chúng ta càng hiểu rõ hơn về tấm lòng của một hoàng đế đối với dân với nước, hiểu rõ hơn về một hoàng đế với bao thăng trầm của cuộc đời. Và điều đáng trân trọng ở một vị vua là sự ý thức rất thành tâm và đúng đắn về tài trí, công trạng cũng như tội lỗi của mình. Minh chứng sau còn góp phần cắt nghĩa cho điều ấy: "Cả nghiệp sáng lập gìn giữ hơn hai trăm năm, nhất đán bỏ mất, thực là tội của tiểu tử này không thể nói xiết"(12).
Cuộc đời làm vua của Tự Đức vừa đáng trách vừa đáng thương. Trách cho một vị vua nhu nhược, bảo thủ, thương cho bi kịch của một hoàng đế muốn gây dựng sự nghiệp kinh bang tế thế mà không gặp thời, để cuối cùng ôm một mối sầu bi đầy tủi nhục về nơi chín suối.
Hơn 100 năm qua, chúng ta đã tìm được từ kho tàng tinh thần của dân tộc một di sản quý giá. Song việc khảo cứu di sản văn hóa ấy chỉ là công việc bước đầu và mang tính khởi thảo. Chúng tôi hy vọng rằng, việc nghiên cứu về chân dung văn học Tự Đức sẽ được tiến hành sâu rộng trong tương lai. Thời gian và thời đại sẽ còn nhiều khám phá khi tên tuổi Tự Đức đã đi sâu vào lịch sử văn học.
Tháng 11 năm 1993
H.T.
(TCSH62/04-1994)
-------------------------
(1) Yoshiharu Tsuboi - Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa - Hội sử học Việt Nam xb - Hà Nội 1992 - trang 198.
(2) Dịch từ vb. A.1793 - Ngự Chế Thi (phụ tạp văn) tờ 8a (tài liệu lưu trữ tại viện Hán Nôm HN).
(3) Tự Đức Thánh chế Văn tam tập - Bản dịch của Tây Hồ Bùi Tấn Niên - Ủy ban dịch thuật phủ Quốc Vụ khanh đặc trách - văn hóa xb - Sài Gòn 1971 - Tập II, quyển II - trang 67.
(4) Tự Đức Thánh Chế Văn tam tập - sđd - Tập I quyển III - trang 261.
(5) nt - Tập I, quyển V, trang 171.
(6) nt - Tập II, quyển IX, trang 12.
(7) nt - Tập II, quyển II, trang 81.
(8) nt - Tập II, quyển VIII, trang 261.
(9) Dịch từ Vb.A.1793 - sđd - tờ 9a.
(10) Tự Đức Thánh Chế Văn tam tập - sđd - Tập I, quyển II, trang 60.
(11) nt - Tập I, quyển VII, trang 214.
(12) nt - Tập II, quyển II, trang 80.