TRIỀU NGUYÊN
Ở Thừa Thiên - Huế có bài ca dao: Con chim đại bàng bay ngang hòn núi bạc
Con cá ngư ông móng nước biển khơi
Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi lời
Kẻo một mai tê con cá về sông vịnh, con chim lại đổi dời non xanh.
Chỉ có bấy nhiều lời, bài ca dao ẩn chứa một tâm trạng, một nỗi niềm kì lạ. Bởi đôi lời mà người nghệ sĩ dân gian muốn được phân tỏ, điều cốt lõi của bài ca, lại hầu như không được trực diện, sáng tỏ. Vậy tâm trạng, nỗi niềm kia là gì? Và vì sao đã muốn giãi bày lại e dè, kín đáo đến thế?
Đó là vấn đề mà bài viết nhỏ này hy vọng sẽ giải đáp được phần nào, nhằm nối nhịp cầu giao cảm của con cháu nay với ông cha xưa.
Bài ca dao ghi lại như trên do người viết được nghe từ tấm bé (và mãi được nghe cho đến khi viết những dòng chữ này). Ngoài ra, còn có một số dị bản, trong đó có hai dị bản đáng lưu ý:
I.- Con chim phượng hoàng bay ngang biển bắc
Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi
Gặp nhau đây xin phân tỏ một đôi lời
Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời non nam. (1)
Và:
II. - Con chim phượng hoàng đậu hòn núi bạc
Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi
Gặp nhau đây phân giải đôi lời
Kẻo mai tê con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời non xanh. (2)
Chim đại bàng là một loài chim lớn và khỏe nhất trong số các loài chim. Theo sự miêu tả của một số người cao tuổi cả quyết đã trông thấy nó, thì khi bay, bóng của đại bàng râm mát một khoảng trời. Chim phượng hoàng được vua chúa Trung Hoa và Việt Nam dùng thành biểu tượng quí tộc dành cho nữ giới (để sánh với rồng). Phượng thuộc bộ tứ linh (long, lân, qui, phượng), đẹp rực rỡ, thịt ăn ngon (nem công chả phượng được xem là hai món hảo hạng). Ngoài ra, đôi loan phượng hòa mình là một hình ảnh đáng ao ước của tình yêu đôi lứa.
Cá ngư ông còn gọi là cá ông, nhiều người cho đó là một loài cá voi to. Người ven biển làm nghề cá tin tưởng cá ngư ông sẽ bảo vệ họ khi hành nghề và cứu giúp lúc chẳng may thuyền đắm, nên khi cá chết dạt vào bờ (gọi là ông lụy hay bà lụy), được chôn cất và thờ cúng long trọng như một vị thần.
Người viết đã thực hiện một cuộc điều tra nhằm tìm hiểu nghĩa hàm chỉ (connotation) về tên gọi động vật trong dân gian ở Thừa Thiên - Huế. Kết quả ở ba động vật vừa nêu có các đặc điểm chung: sạch, nhanh, khôn, đẹp, khỏe, to lớn và linh thiêng (mức độ to lớn phượng kém cá voi)(3). Điều này nói lên, người địa phương có thiện cảm và cả sự ngưỡng mộ ba động vật này.
Vùng Thừa Thiên - Huế và lân cận còn có một số bài ca dao nhắc đến chim đại bàng, chim phượng hoàng, cá ngư ông, xin được dẫn ra dưới đây:
(A) Con chim đại hàng bay ngang đình chợ
Em hỏi anh rày có vợ hay chưa
Em đây cầm tờ giấy trắng che mưa
Che răng cho khỏi ướt, vốn thiệt em chưa lấy chồng (4)
(B) Con chim phượng hoàng tám mươi năm trói cánh
Nay gặp thời thả cánh bay ra
Vừa năm thân, dậu mới qua
Việt Minh tiến tới nước nhà yên vui (5)
(C) Con chim đại bàng bay ngang hòn núi bạc
Con cá ngư ông móng nước biển khơi
Ví dầu thầy mẹ có quăng sáo thả trôi
Em cũng lăn vô mà chịu cho vẹn lời thủy chung (6)
(D) Con cá ngư ông mắc câu Lã Vọng
Con chim đại bàng bị ná Thạch Sanh
Nào ai hiếu nghĩa như anh
Khi đau thì vắng, khi lành viếng thăm (7)
Bài (4) và (C), chim đại bàng, cá ngư ông tượng trưng cho sự bền vững, thiêng liêng. Dựa vào sự bền vững, thiêng liêng này, các số phận của con người dù đang ở trạng thái khát khao hy vọng (A) hay bị ruồng rẫy phải nổi trôi (C) cũng đều an tâm, vui lòng hứng chịu.
Chim phượng hoàng, chim đại bàng, cá ngư ông ở bài (B) và (D) mắc nạn. Ở bài (B), khi chim phượng hoàng được tự do cũng là lúc "nước nhà yên vui", trong lúc ở bài (D), cá ngư ông và chim đại bàng gặp tai ương kèm theo cách cư xử không bình thường của người con trai đối với gia đình (có thể hiểu là bố mẹ) cô gái. Và hễ khi cô gái đã buông những lời như vậy, có nghĩa, sợi dây tình giữa hai người bị cắt đứt.
Chim đại bàng, chim phượng hoàng và cá ngư ông qua bốn bài ca dao vừa dẫn là những hình ảnh tượng trưng cho Đất Nước. Dân gian đã gắn số phận cá nhân vào vận mệnh Đất Nước. Chuyện an, nguy của Đất Nước đồng nghĩa với hạnh phúc hay bất hạnh của người dân. Sự to lớn, xinh đẹp, mạnh mẽ, thiêng liêng... của ba động vật đang bàn trở thành các biểu tượng của Đất Nước và được người nghệ sĩ dân gian sử dụng như một biện pháp tu từ, có tính chất ước lệ.
Cũng cần nói thêm, hình ảnh hai loài "vua chim" (đại bàng hay phượng hoàng)(8) và "vua cá" (cá ngư ông) này, còn gợi lên một niềm tin, một khát vọng về chủ quyền vững chắc (của người dân) đối với Đất Nước ấy.
Con chim đại bàng bay ngang hòn núi bạc
Con cá ngư ông móng nước biển khơi
là một hình ảnh Đất Nước hùng vĩ, thiêng liêng và là chỗ dựa vững chãi của mọi con dân.
Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi lời
Kẻo một mai tê con cá về sông vịnh, con chim lại đổi dời non xanh
Theo hướng lý giải trên, tình hình Đất Nước làm nền cho bài ca dao là ổn định, thái bình, nhưng đến đây lại nảy ra vấn đề đáng suy nghĩ.
Cả hai dị bản (I) và (II) của bài ca dao đều muốn chỉ rõ con cá và con chim ở câu cuối chính là cá ngư ông và chim đại bàng (nọ có nghĩa là ấy, đấy). Và như vậy, Đất Nước ở đây đang có sự đổi thay, biến dịch chứ không phải nguy khốn như (B) và (D).
Thông thường, các biểu tượng mang tính cố định. Ở biểu tượng Đất Nước, có hai trạng thái thường gặp là bình yên hay nguy khốn như đã nói. Vậy có thể có trạng thái đổi thay, biến dịch (về hình thể) cua Đất Nước như câu cuối của bài ca dao vẽ ra không?
Cho đến nay, chưa tìm thấy tài liệu ghi rõ thời điểm xuất hiện của bài ca dao đang bàn. Qua thực tiễn đi điền dã sưu tầm văn học dân gian ở Thừa Thiên -Huế, người viết nhận thấy: đây là một bài ca dao được nhiều người thuộc nhất, đặc biệt là số người cao tuổi và được sử dụng phổ biến trong hát ru, hát hò mái nhì. Dấu hiệu này phần nào nói lên tính chất cổ và độc thoại của nó.
Sự đổi thay, biến dịch hình thể của Đất Nước lớn nhất thời cận đại mà lịch sử ghi lại, là việc mở rộng bờ cõi về phương nam vào hai thế kỷ XVI và XVII. Ngọn cờ mở đất dựng làng nhà Nguyễn giương lên thuở ấy phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc, nên cuộc nam tiến thắng lợi trọn vẹn. Gia nhập đội quân nam tiến này, hầu hết là những người dân đất bắc.
Làm một cuộc hành trình dài, phải vượt qua bao định kiến xã hội (về kẻ ly hương) cùng thế tương tranh khó tránh khỏi giữa hai nhà chúa (chúa Trịnh, chúa Nguyễn) hai phương, những người di cư tất phải để lại quê nhà những người thân thuộc nhất, mà chuyện tái ngộ hết sức mong manh. Tâm trạng ly hương, nỗi nhớ người thân và tình cảm mến yêu vùng đất mới đan quyện nhau, đã khiến người ra đi mở đất lâm vào hoàn cảnh đặc biệt (Cảnh "biển bắc", "non nam" ở dị bản (I)).
Bài ca dao rất có thể đã ra đời trong hoàn cảnh ấy.
Theo bản đã ghi của người viết, dù con cá và con chim ở câu cuối ngoài cá ngư ông, chim đại bàng, còn có thể hiểu là chim, cá nói chung trong ca dao, không hiếm bài dùng hình tượng chim, cá để ám chỉ con người. Nói "sông vịnh - non xanh" cũng như “góc biển - chân trời”, chỉ một nơi xa lắc, khó còn gặp gỡ. Và nghĩa của hai câu cuối sẽ là: May mắn gặp được nhau, hãy bày tỏ nỗi niềm uẩn khúc cho nhau, kẻo rồi đây mỗi người một nẻo đổi dời, khó còn hy vọng để gặp lại nữa. (Từ xin vừa có nghĩa yêu cầu đối tượng nói ra, đồng thời lại có nghĩa muốn được tự giãi bày. Điều này nói lên cuộc gặp gỡ kia có thể chỉ nằm trong tiềm thức, ước mơ. Và chúng ta hiểu vì sao bài ca dao lại thích hợp với các loại hình độc thoại).
Hai cách hiểu câu cuối của bài ca dao nhằm bổ sung ý nghĩa chứ không mang tính loại trừ nhau.
Đến đây, đã có thể nói, tâm trạng, nỗi niềm mà người nghệ sĩ dân gian muốn phân tỏ qua bài ca dao là: Đất Nước đang buổi thái bình và cũng là lúc mở mang bạt ngàn sông núi (hiểm họa chia cắt, phân tranh từ đó khó bề tránh khỏi). Thôi thì vận nước ra sao, phận mình đành vậy. Dẫu vẫn biết vợ chồng (cha con, anh em...) mình khó bề đoàn tụ, nhưng đã trót ra đi không dễ trở về, đất lành chim đậu, chuyện nghĩa tình xin hiểu cho nhau...
Đó là đôi lời của người ở lại miền nam muốn giãi bày với người thân trên đất bắc, có Đất Nước chứng tri.
Sự e dè, kín đáo ở đây là cần thiết, vì hai lẽ: phải nói lên một điều khó nói là tự mình cắt đứt nghĩa tình, và đang ở trên đất chúa Nguyễn, ăn lộc chúa, há lại thốt lên lời hờn oán để mắc tội bất trung, dẫu biết mình bị tuyệt đường trở lại. Vậy mà người nghệ sĩ dân gian đã nói được cùng lúc cả hai điều khó nói ấy, bằng cách dùng các biểu tượng đất nước, con người, và cách mở ra một không gian ngút ngàn núi bạc, non xanh, biển khơi, sông vịnh, rồi thắt lại ở tiêu điểm bằng một cuộc gặp gỡ nửa như có hai người tâm sự, nửa như một lời thư bỏ ngỏ, lơ lửng giữa đất trời. Lời thư ấy quả là bi tráng. Nó như một lời thệ ước gắn bó với Đất Nước thiêng liêng vừa được quyền sở hữu, lại như lời than vãn trước thân phận cô liêu.
Bài ca dao được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Mỗi thế hệ lại có niềm riêng của mình để hòa vào lời ca, hay để cảm thông. Người viết dựa vào một số cứ liệu và cảm nhận bản thân, cũng chỉ nêu ra một cách hiểu, nếu chưa trúng ý người xưa cũng mong được người nay phân tỏ.
T.N.
(TCSH62/04-1994)
-------------------------------
(1) Vũ Ngọc Phan, Hò Huế, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H, 1978, tr. 656.
(2) Trần Việt Ngữ, Thành Duy, Dân ca Bình Trị Thiên, Nxb Văn học, H, 1967, tr. 65.
(3) Triều Nguyên, Động Vật học tiếng Việt qua dẫn liệu vùng Thừa Thiên - Huế, Luận văn Cao học, ĐHSP Huế, 1992 (lược ghi).
(4) và (5) Trần Hoàng (Chủ biên), Ca dao dân ca Bình Trị Thiên, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1988, tr. 59 và 83.
(6) và (7) Triều Nguyên, Văn học dân gian Hương Phú, Sở Văn hóa - thông tin Bình Trị Thiên, 1988, tr. 160 và 221.
(8) Theo thiển ý của người viết, phượng hoàng thường ở thung lũng, đồi thấp, dáng mềm mại, hiền nhu, không xứng hợp cảnh bay ngang (hay đậu) hòn núi bạc (núi cao có tầng mây trắng phủ). Ngọn núi ấy thích hợp với đại bàng (một loài chim thích ở chóp núi, dũng mãnh, bay cao và nhanh hơn).