Khảo cổ
Tìm thấy bản di chiếu viết bằng tiếng Pháp của vua Khải Định
15:25 | 27/03/2026

THƠM QUANG - THANH BIÊN

Vua Khải Định, tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là vị vua thứ 12 của triều Nguyễn. Ông lên ngôi năm 1916 trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ. Vua Khải Định lâm trọng bệnh vào cuối năm 1925, nhà vua đã băng hà vào ngày 6 tháng 11 năm 1925, hưởng dương 41 tuổi.

Tìm thấy bản di chiếu viết bằng tiếng Pháp của vua Khải Định
Các quan khâm sai, toàn quyền Pháp đến dự tang vua Khải Định - Ảnh: Từ bộ sưu tập của ông Ngô Văn Ðức ở Bordeaux, Pháp/ baotanglichsu.vn

Về việc vua Khải Định băng hà, có khá nhiều tư liệu nhắc đến, đặc biệt là lễ quốc tang lớn của ông tại Huế. Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ được xem là bộ sách cuối cùng trong hệ thống “Đại Nam thực lục” của triều Nguyễn. Bộ sách này ghi chép những sự kiện lịch sử xảy ra dưới triều vua Khải Định. Trong quyển 10, tờ 50 của bộ Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ có ghi về việc vua Khải Định băng hà như sau: “Vua không khỏe. Năm ấy, từ mùa xuân qua mùa hạ đến mùa thu, thánh thể không hòa, quan thầy thuốc người Tây, người Nam hết lòng hầu thuốc mà vẫn vô hiệu, đến lúc ấy dần dần nặng thêm. Ngày 20, vua băng hà ở lầu Kiến Trung, thọ 41 tuổi. Phủ Tôn Nhân và đình thần văn võ kính đặt tử cung ở gian chính trong điện Càn Thành. Cơ Mật viện bàn với chính phủ Bảo hộ đem tin quốc hiếu bố cáo trong ngoài, rồi lập tức gửi điện văn bẩm với Đông cung Hoàng Thái tử điện hạ (lúc bấy giờ là Hoàng Thái tử điện hạ đang du học ở thành Paris nước Đại Pháp) và xin về nước để phụng hộ tang nghi”.

Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ, quyển 10, tờ 50 ghi về việc vua Khải Định băng hà. Nguồn: Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp.


Trước khi băng hà, vua Khải Định có viết di chiếu để lại. Tuy nhiên tư liệu về bản di chiếu của vua lại rất ít ỏi. Ngay cả bộ Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ ghi chép về cuộc đời vua Khải Định cũng không thấy chép lại. Bản Tang lễ sự nghị, tài liệu Hán Nôm ký hiệu A.2618 hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có một đoạn ngắn trong bản di chiếu này được Bộ Lễ trích lại từ Nội Cung lục của Cơ Mật viện1. Chỉ có một tờ báo đương thời là Lục tỉnh tân văn có lề nhỏ “di của sau” nên có được một bản sao, nhưng chỉ đăng trên hai số ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1925 thì chấm dứt mà văn bản vẫn chưa được đầy đủ, trọn vẹn.

Đúng 100 năm sau khi vua Khải Định mất (1925 - 2025), chúng tôi, những người làm công tác Lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (thành phố Đà Lạt) đã may mắn tìm thấy được bản di chiếu của vua Khải Định. Đây là bản di chiếu được viết bằng tiếng Pháp, thuộc phông Tòa Khâm sứ Trung Kỳ. Theo như công văn số 349 ngày 6 tháng 11 năm 1925 của Cơ Mật viện gửi ông Khâm sứ Trung Kỳ thì bản di chiếu của vua được viết bằng hai ngôn ngữ khác nhau đó là chữ Hán và chữ Pháp. Nội dung công văn có viết: “Chúng tôi trân trọng kính báo đến Ngài rằng: “Các Hoàng thân đã giao cho chúng tôi một hộp sơn son thếp vàng. Trước sự hiện diện của các quan lại trong triều, chúng tôi đã mở chiếc hộp này, trong đó chúng tôi tìm thấy 2 bản di chúc của Hoàng đế băng hà, một bản viết bằng chữ Hán, bản kia viết bằng chữ Pháp…””. Hiện bản di chiếu viết bằng chữ Hán của vua chưa có nguồn khảo cứu.

Hồ sơ 2666 thuộc phông Tòa Khâm sứ Trung Kỳ hiện đang lưu giữ bản di chiếu bằng tiếng Pháp của vua Khải Định - Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV


Sau đây là toàn văn lời Di chiếu của đức Khải Định tiên hoàng đế. Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả:

“Người đời ai ai cũng phải đi đường cuối cùng, là đường cách biệt trần gian, nhưng mà cũng nên làm sao cho có một hai tấc công với đời mới gọi rằng có thế gian. Theo như tính ta sẵn có lòng thương đời vì gặp thời gian nan khắp cả hoàn cầu phần nhiều nơi biến cải bắt chước lấy nhau mà hủy phá chữ nhơn, chữ nghĩa, dạy cho nhau ham lấy chữ lợi chữ quyền, cái phong trào đó từ Âu Mỹ tràn qua cho đến nước ta đã sáu mươi năm nay, chớ theo bổn tính của dân ta là dòng giống Tiên Long của ta, là đều nhơn thuần tục mỹ, ôn hậu hòa nhã hơn cả các loài người ở trên trái đất.

Đã sáu mươi năm nay truyền nhiễm những tánh tham bạo của các xứ ngoài đem vào, giống nòi của ta có một ngày sau đây rồi sẽ giết nhau chém nhau đầy sông đầy núi cũng vì bắt chước nhau theo lối phong trào, lấy lợi quyền mà phá nền nhơn ngãi, nhưng cũng tại khí vận xui khiến, dầu ưng hòa bình cũng khó sắp đặt trước, song chỉ cốt một điều lo liệu bảo toàn cho tôn miếu của ta, (…)2.

Cho nên từ khi ta tức vị cho đến nay, thiệt lấy làm lo sợ cho tôn miếu nhà ta, thiệt ngày không ăn đêm không ngủ, lấy bịnh hoạn làm lãng nhãng, thiệt là khổ tiềm tư lự3 nhưng mà thiên nan vạn nan, huống có chữ Nhứt mộc nan chi đại hạ4, nhưng mà đương lúc ta trọng nhậm ngôi trời, ta xét lại ta không dám tỷ lòng với liệt thánh chớ chữ thạnh đức của ta cũng đủ lối, nay mà ta có thượng tân5 là đã nhờ liệt thánh ta soi xét mới ban cho ta dự vào cửu miếu. Song chỉ có một điều, Sừ nhị6 chưa đủ tài đức, e lại khó cho tương lai, nhưng mà cũng ở thiên vận sử nhiên7, tạo hóa đã định trước rồi, nhưng ta chỉ mong nơi Bảo hộ Chánh phủ bảo toàn tôn miếu, lại cho được như lời Bảo hộ đã công nhận với ta cùng triều đình ta, thì dầu ta có tại thiên cũng cám ơn Pháp đình cùng Bảo hộ Chánh phủ. Ta chỉ có một điều không an tâm, không được toại nguyện là nhứt sanh ta cầu cho được tống chung đức Khôn Nghi Hoàng thái hậu, kẻo mà ngài rất có công nghiệp với đức hoàng khảo ta nhiều, từ khi ngài đang tiềm long cho đến khi ngài lâm băng ta chỉ mới năm tuổi, mà giáo dục ta cho đến bây giờ, mà thành đặng một ngôi hoàng đế đủ thạnh đức vạn toàn, thiệt công đức rất là cao trọng, mà trời không cho đặng như nguyền của ta. Nay ta xin trông cậy Bảo hộ Cơ mật chư khanh đạt khắp cả văn võ thần liêu một điều: Dầu ta vạn tuế hậu cũng xin hai nhà nước cung phụng lưỡng tôn cung cũng như khi ta đương hiện tại vậy.

Lưỡng cung thánh xỉ đã cao không còn bao lâu, cho nên xin cung phụng lưỡng cung cho đến khi vạn tuế hậu, cũng chiếu theo quốc lễ như đức Thừa Thiên, đức Thuận Thiên Cao hoàng hậu mà cử hành, song các sự phô trương cũng nên tùy thời nghi mà châm chước, còn như ta mà vạn tuế hậu trong các điển lễ cũng châm chước, kẻo mà theo điển lễ của nước ta lắm việc phiền hà hao phí vô ích, như việc hào soạn sanh tư8 mười phần cũng nên giảm đi bảy, tám phần thời mới hiệp ý ta. Còn khi chầu theo ta chỉ chầu một bộ đại triều Cửu long quan (Cửu long bác ty hoàng bào) cùng thất bửu ngọc đái9 thường các lễ ta xuyên trước10, đến đồ y phục chỉ đem toàn đồ hàng, nhiễu, vân, xuyến mà thôi, lại một cái kim bài có khảm hột khắc chữ “Đại Nam thiên tử”, với một cái khánh ngọc khảm vàng khắc chữ “Thọ thiên vĩnh mạng”, một phiến bửu tinh vàng khảm hột.

Còn nhứt thiết đồ vàng ngọc kim cương các hạng áo nhiễu áo gấm để lưu lại cho Sừ nhị Vĩnh Thụy hết, đồ ấy ta đã trích riêng của ta để lưu cho con ta không phải đồ quốc sản đều để lại Kiến Trung, còn đến đồ trần tự của ta tại Khải Thành điện cùng sau thăng phối Thế miếu, Phụng Tiên không nên trần tự đồ vàng, đồ ngọc và áo quần, những đồ ấy để lại cho tự quân dùng. Chí như đồ trần tự của ta chỉ làm bằng bạc bằng đồng mà thôi, những đồ phục sức của ta sắm sửa cứ y lời ta để lại cho Vĩnh Thụy hết, dầu mà xảy ra sự gì mà con ta không được kế thống thì những của chi của riêng ta cũng cho con ta, như chỗ An Định cung nội nhứt thiết vật kiện chi cũng của riêng ta đã cho Vĩnh Thụy rồi, như nếu mà có thuận thì Vĩnh Thụy con ta mà có được nghiệp kế thống, thì chỗ An Định cung cũng làm của riêng Vĩnh Thụy, chớ không nên cho làm của công, còn khi đã chầu lên lăng vào Thiên Định cung rồi, thì nên thiết một viên hộ sứ để giữ cung điện, lại thiết sáu tên phụng trật tôn thất nam để chầu hầu khi hương khói cùng lau bàn quét bụi.

Lại cấp một đội 15 hoặc 20 lính để canh thủ hoặc chỉnh lý lập bồn tài thọ11 cho Thiên Định cung, không nên để nội cung phi tần của ta ở thường chỗ đó được, vì chỗ sơn lâm chướng khí lại với nhà viện cũng không, thì nội cung cũng nên phân hai mà ở với lưỡng cung, hoặc khi nào có lễ thì lên lạy với thăm, rồi thì về hay là năm ba ngày nội cung ai muốn lên Thiên Định mà chầu thăm thì tâu lưỡng cung đổng tất12 rồi truyền thị vệ hoặc biểu xe điện chực rồi đi, nội cung nên ở lại mà chầu hầu lưỡng cung đến sau đàm hậu13 thăng phối ta về Thế miếu, Phụng Tiên, về án hữu tam, lúc đó lại cho nội cung qua ở Phụng Tiên để hương khói như chư tiền triều nội cung khi xưa vậy. Ở đó cho gần mà chầu hầu lưỡng cung, song chỉ có một điều như Sừ nhị Vĩnh Thụy mà đặng kế thống thì ta cho Hậu phi vi hoàng mẫu.

Các điều ta nói về khoản lưỡng cung và nội cung của ta theo các lối đó, là Vĩnh Thụy con ta đặng kế thống, nếu có xảy ra sự gì con ta không đặng kế thống, thì phải đi theo thế này: Khôn nguyên Hoàng thái hậu lên ở tại Ngưng Hy điện, đức Khôn Nghi Hoàng thái hậu về ở tại An Định cung với cháu là Đông cung Hoàng thái tử phái quân gia mà chầu hầu lưỡng cung, xin đãi lưỡng cung cũng chiếu lễ mẫu hậu. Cho đến khi lưỡng cung vạn tuế như quốc lễ mà cử hành đại lễ cho đến khi thăng phối, song ta lại có một điều cần xin kíp mà trông cậy Bảo hộ và Cơ mật chư khanh không nên quên chữ giao hảo chi tình, không đáng bỏ chữ quân thần chi nghĩa.

Bây giờ Vĩnh Thụy nó đương xung ấu, hoặc vài ba năm sau chi đây mà có rủi ro lưỡng cung có vạn tuế hậu, nhờ Bảo hộ với chư khanh Cơ mật cùng quân thần lo lắng cho chỉnh đốn, làm cho hiệp theo quốc lễ kẻo Đông cung còn đương dại lắm, còn về khoản sau tang tế lễ nghi, bộ Lễ phải tuân mà tỉnh giảm những tiết chi phiền lắm, nên giảm đi, như sinh tư hào soạn không nên dùng nhiều, phải châm chước cho hiệp theo thời mà khỏi sự lãng phí vô ích.

Còn đến sự tang chế cũng nên thay đổi lại, không phải sự để chế cho lâu mới là hiếu, trong sự để chế nên làm ra ba khoản: đại tang thì để mười lăm tháng, trung tang nên để một năm còn tiểu tang thời để sáu tháng thì phải hơn. Bộ Lễ nên tuân theo lời ta mà châm chước lại, như ta đã nói đại lược trên đây mà làm cho thành lệ, để sau phải theo lệ đó mà làm, chớ ai theo Văn Công hoặc Thọ Mai thì không ích gì, phải tuân theo lời ta, huống chi lễ nhạc “Tự thiên tử xuất”. Lại có một điều này chỉ cần là lo lắng chỗ lăng tẩm, chỗ thờ tự cho kỹ lưỡng nghiêm trang mà thôi, chớ làm bàn làm đám cho nhiều thiệt là lãng phí vô ích, ta coi như có một lần tang nghi thì đã đem ném bỏ năm bảy vạn cho nên phải tùy thời mà châm chước”14.

Có thể nói, trong bản di chiếu này, vua Khải Định đã bày tỏ nỗi lòng trăn trở sâu xa của một vị quân vương đối với vận mệnh đất nước trong tương lai, đồng thời lo lắng cho sự bảo tồn miếu đường, lăng tẩm của Hoàng tộc. Đặc biệt, vua căn dặn phải tổ chức tang lễ cho mình và các Thái hậu một cách tiết kiệm, giản dị. Ông giao lại các bảo vật, trang phục, tài sản riêng cho Đông Cung Vĩnh Thụy, mong mỏi thế hệ kế vị giữ gìn di sản của hoàng triều. Qua bản di chiếu có thể thấy được hình ảnh chân thực về một thời kỳ đầy biến động trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX.

T.Q - T.B
(TCSH445/03-2026)

---------------------
1 Theo tác giả Cao Tự Thanh trong bản dịch sách Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ.
2 Vì lời lẽ của một vị vua nói về những người tiền nhiệm, nội dung có thể chứa đựng những nhận định chủ quan, thậm chí nhạy cảm đối với hình ảnh của vị vua Thành Thái và Duy Tân, nên chúng tôi xin được lược bớt.
3 Khổ tiềm tư lự: vất vả lo thầm.
4 Nhứt mộc nan chi đại hạ: 1 cây gỗ khó đỡ nổi mái nhà lớn.
5 Thượng tân: lên làm khách trời, ý nói chết.
6 Sừ nhị: Còn gọi là Trừ nhị tức người sẽ nối ngôi làm vua, đây chỉ Vĩnh Thụy.
7 Thiên vận sử nhiên: Vận trời khiến nên như thế.
8 Hào soạn sanh tư: thức ăn cúng tế nói chung.
9 Thất bửu ngọc đái: đai lưng ngọc khảm thất bảo.
10 Xuyên trước: mặc và đeo.
11 Tài thọ: trồng cây.
12 Đổng tất: biết rõ.
13 Đàm hậu: sau lễ tế đàm, tức lễ tế sau ngày chôn cất 27 tháng, hiếu chủ chính thức bỏ tang phục.
14 Tham khảo phần “Di chúc”, trang 633, Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ, tác giả Cao Tự Thanh.

 

 

Các bài đã đăng