NGUYỄN HỒNG NHUNG
Những người trẻ mang gì vào thơ nhỉ? Câu hỏi lý tính được đặt ra với lý giải vật lý rằng trái đất vẫn vận động như thế và nó còn đang có chiều hướng đau ốm hơn. Ái ố hỷ nộ của con người vẫn thế, cộng với sự chèn ép của người máy và trí tuệ AI. Người trẻ còn làm thơ để làm gì?
Thi ca, tự nó có đời sống riêng nằm ngoài các trào lưu hay các giải thưởng hữu hạn. Ý thức được mình đọc chưa nhiều và tránh việc ăn theo, nói leo, tôi đã mở đọc tập thơ Dần sáng dù có hơi khiên cưỡng.
Tiếp nhận thi ca thú vị ở chỗ, chỉ gặp một ý, một câu thơ hay là người đọc có cảm hứng lần đọc tiếp các trang phía sau. Với trường hợp tôi đọc tập Dần sáng cũng vậy. Dịch chuyển của thời gian ở tiêu đề được khá nhiều người phân tích chưa đủ lôi cuốn khiến cho cảm giác khiên cưỡng bị mờ đi. Cho tới khi tôi tự mình đọc, tự mình cảm theo chính mình... “tiếng bẻ củi hẫng lòng nước sôi” (bóng cha). Hình ảnh so sánh ở trang thứ chín mang tới một dự cảm tốt. Dần sáng của Nguyễn Thị Kim Nhung, gợi mở nhiều góc nhìn tiếp nhận…
Nắng tìm quê để ấm
Con người, vạn vật nhờ nắng, tìm tới nắng để được chiếu sáng và sinh sôi. Nắng, khái niệm tỏa sáng và sưởi ấm vạn vật. Trong cảm nhận của Kim Nhung, nắng cho đi và cũng cần được nhận lại. Nó cũng cần tìm tới một nơi chốn để từ đó mà chính nó được sưởi ấm. Đề tài trong thơ Nhung cũng vậy. Trục cảm xúc xoay quanh sự bao dung với chính mình, với ký ức về quê hương, về hành trình sống mà mình đã trải nghiệm. Đặc biệt là sau những mất mát và biến động, với mục đích tìm lại chính mình và củng cố bản thân để sống. Thơ của Nhung không phải là sự phản ánh trực tiếp những biến cố mà là sự giãi bày cảm xúc thông thường. Thi ca là điểm tựa tinh thần để đối diện với khó khăn và tìm lại ý nghĩa cuộc sống. Tới lượt mình, thi ca soi chiếu trong dòng chuyển động của nội tâm mà tìm được điểm tựa để từ đó nó được sưởi ấm và làm sáng. Thi ca tìm tới thế giới nội tâm của tác giả để cất lời của cỏ cây, của đời sống tinh thần. Thi ca trở nên có ý nghĩa hơn. Giống như nắng, nắng cho đi và cũng có nhu cầu được nhận lại, để ấm.
Có một tiếng nói luôn gọi người thơ trở về. Đó là tiếng vọng của quê hương, xứ sở, của ký ức, của thời gian đã qua: “tiếng gọi loang đồng ruộng/ làm giật mình bóng đêm…/ nhà ai thổi cơm sớm/ gạo đổ vào nồi để lại tiếng vang/ nuôi nhau qua ngày giáp hạt/ …/ ta đã khác mà giọng người còn biếc.../ người vợ mặc lại áo/ hai vạt khép bóng đêm/ đôi vầng sáng miên man thầm tỏa/ sung một đời buông quả/ không chạm nổi đáy ao” (dần sáng). Chỉ với những nét phác họa, bức tranh thuộc về làng quê vụt hiện với những ký ức về sự tiếc nuối đúc rút từ phận đời, phận người. Những hụt vơi, hao khuyết, không trọn vẹn nào, mong muốn nào dang dở được phác ra ở đây? Không đặc tả từng chi tiết, hình ảnh thơ gợi ra trong cảm nhận của độc giả nhiều liên tưởng khác nhau.
Có những khoảng thời gian trong ngày luôn khiến cảm xúc của con người rung động một cách đặc biệt. Dần sáng cũng vậy. Khoảng thời gian dịch chuyển về ngày mà bóng đêm bị lui lại. Dần sáng còn là sự chuyển động tích cực của tâm trạng con người sau những hụt vơi đã qua đi. Không một nỗi đau nào được nói ra cụ thể, một mong muốn nào được diễn đạt cụ thể nhưng sự vận động, dịch chuyển về hướng tươi mới hơn thì đã rõ. Có tiếc nuối mơ hồ, có nỗi buồn cắc cớ, có cả những thất vọng không rõ nguyên do. Tất cả cùng đồng hiện trong bức tranh “dần sáng”.
Không hướng tới một bức tranh kỳ vĩ, chuyển động thơ trong Dần sáng đi sâu vào những lát mỏng tế vi của đời sống nội tâm mà nhiều khi ngay chính chủ thể không gọi được thành tên. Và khi dõi theo mạch chuyển động đó trong nội tâm của chính mình, mẫn cảm với ngôn từ giúp tác giả bắt ra được những vần, ý nương bám: “nắng ngả dưa/ lòng sành tăm lên li ti nỗi nhớ/.../ xuân về dòng nước trong/ nắng tìm quê để ấm” (dòng xuân). Có thể, trong khi bắt lại những chuyển động của cảm xúc, Kim Nhung có cái may mắn gặp lại được mình với trạng thái của con trẻ “bầy trẻ rộn chiều áo mới/ tin những điều giản đơn”. Đọc Dần sáng, hẳn chúng ta đồng điệu với cảm nhận của Trần Việt Hoàng khi tác giả này chia sẻ: “... Thơ không là sự trải dài của cảm xúc mà là những lát cắt tinh tế lóe lên từ khoảnh khắc khi chủ thể sáng tạo đối thoại với hiện thực và chính mình. Dần sáng đã đem đến cho người đọc một sự hình dung sâu mà rộng, buồn mà bền, tinh mà sắc về những trạng thái cảm xúc, khiến người đọc phải dừng lại…”. Bức tranh tâm trạng nhuốm màu nắng, cái màu nắng “ngả dưa” chỉ hơi vàng lên mà bảy phần còn xanh lắm. Bảy phần xanh còn đang vận động, đang chuyển di. Có được câu thơ này, Kim Nhung hẳn phải “hên” lắm.
Trong từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, “hơi ấm” mang nhiều ý nghĩa tích cực, chủ yếu liên quan đến sự sống, sự bảo vệ, tình yêu thương, sự giác ngộ, hy vọng, và sức mạnh tinh thần. Nó tượng trưng cho sự tồn tại, sự thoải mái, kết nối và hy vọng chiến thắng trong cuộc sống và trong chiến đấu, đồng thời phản ánh sự hiện diện của tri thức và sự khai sáng. Nguyễn Thị Kim Nhung không diễn đạt hơi ấm mà là “ấm”, sự ấm tự khởi tâm mang tới cho con người trạng thái được vỗ về, được xoa dịu, nó mang ý nghĩa của sự bảo vệ. Cảm giác gần gũi, an ủi và kết nối, tượng trưng cho tình yêu thương và sự chăm sóc có thể nương tựa được một cách vững chãi chứ không mong manh, có thể xua tan bất cứ lúc nào của “hơi ấm”. Thơ của Nguyễn Thị Kim Nhung chinh phục người đọc cũng ở điểm này. Trong khi lang bang với thi ca, được cảm xúc dẫn dắt thì người thơ - ở đây cụ thể là đời sống tinh thần của một người nữ không hề dễ bị tác động, mất phương hướng. Luôn tìm thấy sự ủi an, chở che từ chính mình. Có mong manh, có yếu đuối nhưng luôn có niềm tin khởi sắc.
Bao dung dành cho chính mình
Chúng ta thường nhân danh sự cao thượng để bao dung cho một ai đó. Sự bao dung lúc này nằm trong tính vị kỷ. Bao dung khi đó là xu hướng đặt lợi ích, nhu cầu và mong muốn của bản thân lên hàng đầu khi đưa ra quyết định hoặc hành động, đôi khi bỏ qua hoặc xem nhẹ người khác. Vì thế, nó thường dễ hơn sự bao dung dành cho chính mình. Dần sáng có sự bao dung theo hướng khó hơn này: bao dung dành cho chính mình. Dần sáng phác họa một cá nhân trải qua nhiều biến cố, vẫn hướng về sự bao dung, trân trọng những gì thuộc về quá khứ và hiện tại. “mọi buốt đau ai cắt nghĩa do trời/ lấy trong vắt đáp từ số phận/ người nhóm bếp xua cơn nồm tạp niệm/ lửa thay lời thắp những bao dung” (mai). “Lửa thay lời thắp những bao dung”. Lửa không đốt những lầm lỡ, những thất vọng nếu đã từng có, từng sinh ra thành đống tro tàn mà tàn tro của nó vẫn còn ám ảnh mãi. Lửa thủ thỉ, tâm tình, lửa chuyển hóa, xoa dịu và làm tan biến “cơn nồm tạp niệm”. Chính lúc này, tinh thần được giải phóng khỏi những tạp niệm mà nó mang vác và dành sự bao dung cho chính mình. Tới lúc này, tinh thần mới được như đứa trẻ thơ, được làm tươi mới lại “thơ ngây chưa đi hết/ thơ ngây lại về đây/ tiếng trẻ mơ sắp lại ngày đang tới” (làm mẹ). Đạt được điều này là khi con người đã va vấp, đã trải nghiệm đủ để trưởng thành. Con người được khắc họa trong Dần sáng là như vậy.
Bao dung để trưởng thành: “như giọt sương sót lại nơi kẽ lá/ ta giữ ánh sáng nhỏ trong mình/ không phải để long lanh” (bóng tối). Sau những biến động của cuộc sống, con người có xu hướng tìm kiếm sự kết nối lại với nội tâm, hiểu rõ bản thân mình hơn. Quá trình đó không hề dễ dàng. Có cố gắng rồi cũng vấp phải nhỏ nhen của chính mình. Diễn biến tâm trạng đó được khéo diễn tả qua một phân cảnh nhỏ, như thước phim chỉ loáng hiện trên màn hình trong giây lát: “cơn mưa nào trút bỏ/ nồm nực như cơn ghen/ lòng nhen lửa vẫn còn giá lạnh” (trái mùa). Chuyển động nội tâm chỉ chính chủ thể biết, tự mình trải nghiệm, tự mình thấm “nơi vết ứa của mình/ tôi nhoài ra khỏi niềm xoa dịu/ bay hay buông thì gặp khẽ khàng” (không ai biết). Bao dung với chính mình, buông nhẹ và thoát ra khỏi những tạp niệm. Đích tới của “con đường đi rất xa/ chỉ để gặp được mình” (nồng thu). Buông nhẹ không diễn ra tự thân mà sinh ra bởi những chấp niệm chỉ khiến chủ thể thêm nặng lòng hơn “cứ tưởng buông là nhẹ/ tiếng rơi xót gió mặt hồ” (vỡ lòng). Trong hành trình sống và trải nghiệm, con người học cách buông tự gốc rễ của mọi tạp niệm.
Trái tim người nữ trong thơ Nhung không né tránh, trốn chạy cảm xúc hay cố gắng nén lại chúng bởi lý trí. Người nữ trong thơ Nhung đón nhận và tìm ra vẻ đẹp, sự đồng cảm từ nó “muôn sắc màu ẩn vào trong lụa/ cho ta ấm trước mong manh” (trước lụa). Ánh sáng của niềm tin vào những điều tốt đẹp ở phía trước trong thơ Nhung không rực rỡ mà như tinh thần của Dần sáng. Nó là nhịp đời, nhịp thời gian trôi trong chuyển động chậm. “đi qua những phố không đèn/ đợi một ban mai chầm chậm sáng” (Vẽ đêm).
Đời sống tinh thần của người nữ trong thơ Nhung luôn tìm kiếm một điểm tựa hướng vào chính mình dù không phải không có lúc băn khoăn: “đứa trẻ lớn lên trong chiều đợi mẹ/ gió đùa vạt áo nôn nao/ phố như trẻ cần thêm gì để lớn” (phố non). Phố cần gì để lớn? Người cần gì để bình tâm? Nhiều khi, con người không cần và không nên làm gì cả. Cứ trải nghiệm, cứ cảm rồi hiểu thật sâu. Mọi cưỡng cầu có khi còn gây “chát”: “phố giấu niềm riêng trong hẻm nhỏ/ trái hồng chưa kịp ửng cùng thu/ tình còn ương ta hái về nghe chát” (mắt nhớ). Người nữ trong thơ Nhung vì thế luôn có sự chuyển biến nội tâm. Là cá nhân luôn biết lắng nghe chính mình, bao dung chính mình, ôm ấp xúc cảm của mình để sống thành tâm nhất.
Bản thân đời sống thực có tác động tới xúc cảm thi ca? Hẳn là có rồi. Nhưng cái vận động sống sượng của các dạng thức tồn tại thẩm thấu qua đời sống tinh thần được sáng, được trở nên “ấm”. Tính từ này trong “dần sáng” được biểu đạt thực sự sâu sắc.
Nắng và ánh sáng ở trong thơ
Người sáng tác, trong lúc được cảm hứng sáng tạo ghé thăm, những con chữ xếp thành ký tự rồi hiện lên trong suy nghĩ. Anh ta, bắt, tóm lại nó và tạo thành thi phẩm. Ý nghĩa của những con chữ không phải khi nào cũng được tạo dựng trước. Người đọc, khi tiếp nhận tác phẩm sẽ làm rõ nó và nhiều khi cho nó thêm một đời sống mới. Hình tượng nắng và ánh sáng dù thật mảnh khẽ trong “dần sáng” đã để lại trong cảm nhận của độc giả nhiều ý vị.
Nắng là hình ảnh gắn bó mật thiết với cảm quan trung du, vùng đất của mây trắng, gò đồi, đồng ruộng, những mùa quả... Nắng trải lên tất cả những cảnh vật ấy, tưới tắm lên tất cả, dung dưỡng tất cả. Và dường như với vẻ buồn bã trầm lặng của trung thu thì nắng cũng là sắc màu làm nên sự tươi mới, ấm áp. Nắng mỗi mùa mang mỗi màu mỗi vẻ khác nhau nhưng luôn mang đến niềm hy vọng. Nắng trong “Dần sáng” không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà là linh hồn của không gian sống, là màu của ký ức là cái ấm của lòng người.
Nắng cuối đông, nắng tháng chạp trong nhưng yếu, gợi sự mong manh, dễ tổn thương, thiếu đủ đầy; nắng ngả dưa, nắng mang màu đu đủ chín là cái nắng nuôi dưỡng, chắt chiu, làm chín, gắn bó với vòng đời cây trái, mùa màng cũng như sự chín chắn, trưởng thành của con người; nắng đỏ, nắng qua đồi, nắng đơm lên là ánh nắng gắn với khao khát, đam mê, tuổi trẻ...
Ngay từ bài mở đầu Làng đồi, nắng đã hiện lên như một trạng thái cảm xúc: “người như nắng hừng lên điều gì”. Nắng mang dáng dấp của con người, của tình yêu, của sự sống đang hừng sáng phía sau những lặng im, buồn tẻ. Nắng này cũng là sự sống động của ký ức, gọi về ký ức mạnh mẽ. Cách nhân hóa ấy khiến ánh nắng trở thành một nhân vật đồng hành, một dấu hiệu nhận diện sức sống của kỷ niệm, sức mạnh của liên tưởng.
Trong các bài thơ kế tiếp, nắng được nhìn bằng cái nhìn thân thuộc và đa thanh: nắng cuối đông trong như rượu gạo, nắng cuối đông ngập ngừng lời chưa ngỏ, nắng mang màu đu đủ chín, nắng tìm quê để ấm. Mỗi biểu hiện đều gắn với một cung bậc cảm xúc hay một trạng thái cảm xúc nào đó. Nắng cuối đông trong vắt, ấm áp nhưng khan hiếm, vừa gợi nhớ, vừa xót xa như sự hiện hữu mong manh ảo ảnh về cha (bóng cha). Có khi là cái nắng cần thiết để chín muồi những mùa quả cũng như sự chuyển hóa của thời gian và tâm thức (mùa chín). Có khi là nắng mang theo cảm giác ấm áp của trở về, đoàn tụ, sum vầy (dòng xuân). Và có khi là nắng chạm đến hoài niệm của một trải nghiệm quý giá nào đó (mùa thu Sơn Tây). “Một khung trời đỏ nắng/ mộng mơ nào cũng khát vời xa” (người lạ) là ánh nắng dữ dội, rực rỡ, gắn với khát vọng, đam mê, nhưng cũng đầy xa vời, ám ảnh; “không đủ vàng cho người mơ mộng/ không đủ ấm cho kẻ lạnh lòng” là ánh nắng mỏng manh, bất lực, gợi cảm thức về sự trôi dạt và thiếu vắng...
“Dần sáng” không hướng đến miêu tả nắng như thứ ánh sáng chói chang, mà như một sự lan tỏa, chuyển dịch, tan biến... Có thể là “trong như rượu gạo”, “ngập ngừng lời chưa ngỏ”, “tìm quê để ấm”. Nắng ở đây mang tính chất là thể của cảm xúc, không chỉ chiếu sáng mà còn làm dịu, thấm, thành chất men của cảm xúc. Chính vì thế, nắng trong “Dần sáng” được người viết coi như biểu tượng của sự sống, hi vọng, hướng tới và có khi là cả sự đồng cảm, đồng vọng. Một thứ nắng của ký ức, của sự thấu hiểu, của lòng nhân hậu, bao dung.
Nếu nắng là ngoại cảnh tác động thì ánh sáng trong “Dần sáng” là hành trình bên trong, là sự thức tỉnh của tâm hồn sau những lớp bóng tối. Nhiều bài thơ đặt ánh sáng trong thế tương phản giữa đêm và ngày, giữa tối và trong, giữa mất và còn. Chính sự đối chiếu ấy mong muốn đạt được điều gì đó vang và đọng cho tập thơ: “như giọt sương sót lại nơi kẽ lá/ ta giữ ánh sáng nhỏ trong mình”. Đó không phải ánh sáng từ mặt trời, mà là ánh sáng của lòng người, ánh sáng của nội tâm, một thứ sáng âm ỉ, không rực rỡ nhưng đủ để không tắt. Hình ảnh “ánh sáng nhỏ” này được mang đến khi người viết chạm đến thiền và ngộ ra ít nhiều từ chính trải nghiệm mất mát của bản thân. Người viết muốn tự soi mình, tự tìm ánh sáng, tự nuôi dưỡng niềm tin để không bị che khuất bởi bóng tối của đời sống.
Hay khi “đợi một ban mai chầm chậm sáng” là khi người viết biết chấp nhận hiện thực như nó đang là nhưng không thôi nhẫn nại và tin vào ánh sáng, tin vào sự tử tế, thiện lương của cuộc đời này sẽ luôn lên tiếng, dù là tiếng nói sau cùng.
Ánh sáng trong Dần sáng không đứng yên mà vận động. Nó có lúc yếu ớt: “tháng tư sót lại ánh nhìn/ vẫn còn ấm trên màu nắng cũ”, có lúc bừng nở, mạnh mẽ trong âm thầm: “đôi vầng sáng miên man thầm tỏa”, có lúc gắn với khát vọng: “một khung trời đỏ nắng/ mộng mơ nào cũng khát vời xa”. Từ ánh sáng thiên nhiên, người viết muốn đi đến ánh sáng tinh thần, từ ánh sáng của mắt nhìn đến ánh sáng của niềm tin. Chính sự chuyển hóa ấy đã làm nên thôi thúc, làm nên tính biểu tượng riêng để viết nên Dần sáng.
Trong văn hóa thế giới, ánh sáng và nắng là những biểu tượng phổ quát, đại diện cho tri thức, sự thật, sự sống, sự giác ngộ, và sự tốt lành, đồng thời xua tan bóng tối, chiếu sáng và chuyển hóa vô minh. Nắng, ánh sáng và hơi ấm của nó, là yếu tố duy trì sự sống, biểu tượng cho sự nuôi dưỡng và sự phát triển. Như đã phân tích, nắng và ánh sáng trong thi ca Nguyễn Thị Kim Nhung không phải là thứ ánh sáng chói lòa, gay gắt mà diễn tiến của chuyển động chậm, trong ranh giới mà bóng tối đang bị đẩy lùi.
Biểu đạt của nắng và ánh sáng được chính tác giả chia sẻ: “Dần sáng là sự ngộ ra và cũng là nỗ lực tìm ra ánh sáng trong lòng mình của người viết. Nó không chỉ soi chiếu hiện thực mà còn giúp người viết vượt thoát khỏi hiện thực, khỏi bóng tối trong đời sống và hơn hết là bóng tối trong chính tâm hồn mình để tự mở ra vươn đến ánh sáng của cái đẹp, của sự thấu suốt, của thiện lương. Chính trong không gian sáng tạo của riêng mình, người viết tìm ra con đường 'dần sáng'. Tức là 'dần sáng' là một hành trình từ yếu mềm đến mạnh mẽ hơn, từ u tối đến tỏ tường hơn, từ khép kín đến mở lòng hơn. Và sau tất cả, đó là hành trình để người viết nhận ra 'con đường đi rất xa/ chỉ để gặp được mình'. Ánh sáng ở đây như một ngọn lửa nhỏ nhưng bền bỉ để người viết chống chọi với những mất mát, phôi pha mà vẫn không đánh mất mình...”.
Viết tới đây, người đọc hẳn nhớ tới khẳng định: “Thế giới này làm ta tan vỡ trong nhiều cách, nhưng sau cùng, nơi vết nứt ấy, ánh sáng sẽ len vào.” (Ernest Hemingway). Ánh sáng len vào trong những tan vỡ, ôm ấp, xoa dịu và làm ấm là thông điệp thẩm mỹ mà tác giả Nguyễn Thị Kim Nhung đã gửi tới chúng ta!
N.H.N
(TCSH59SDB/12-2025)