Tác giả-tác phẩm
Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Huế nhìn từ tiểu thuyết ‘Từ Dụ thái hậu’ của Trần Thùy Mai
09:27 | 03/02/2026


NGUYỄN HỮU PHÚC

Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Huế nhìn từ tiểu thuyết ‘Từ Dụ thái hậu’ của Trần Thùy Mai

1. Dẫn nhập

Từ Dụ thái hậu là một trường thiên tiểu thuyết ở dạng “cung đấu”, một tác phẩm góp phần làm nên tên tuổi của nữ nhà văn Trần Thùy Mai. Sự thành công của tác phẩm đã đưa độc giả đi từ cung bậc cảm xúc này đến cung bậc cảm xúc khác, vui có, buồn có, sự phẫn nộ thậm chí là những giọt nước mắt được khắc họa qua những nhân vật trong truyện. Tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu không chỉ tái hiện một cách chân thực lịch sử Việt Nam dưới thời trị vì của những vị vua đầu triều Nguyễn, mà còn chỉ ra được những gam màu nổi bật trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người dân Huế.

2. Vài nét về tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu

Bộ tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu được chia thành hai tập: tập thượng và tập hạ, gồm 69 chương, mang đậm yếu tố lịch sử và văn hóa. Có thể xem đây là tiểu thuyết lịch sử dạng “cung đấu” hiếm hoi của văn học Việt Nam đương đại, viết về thời kỳ đầu của nhà Nguyễn. Tác phẩm là cuốn tiểu thuyết đầy tâm huyết của nữ nhà văn Trần Thùy Mai viết về cuộc đời của bà Phạm Thị Hằng - từ một cô gái được tiến cung khi mới 13 tuổi, sau bao thăng trầm, biến cố đã trở thành chính thất của vua Thiệu Trị, sau trở thành Hoàng thái hậu Từ Dũ nổi tiếng hiền đức, được xem là bậc Mẫu nghi thiên hạ. “Đó là một câu chuyện rất dài với nhiều khổ đau, hạnh phúc, vinh quang và cả thị phi, tai tiếng”1.

Với bút pháp tả thực, văn phong thuần Việt và cốt truyện đậm chất điện ảnh, nhà văn đã tái hiện một cách sinh động chính trường nhà Nguyễn từ lúc vua Gia Long khởi nghiệp cho đến lúc vua Tự Đức lên ngôi hoàng đế, các nhân vật lịch sử được khắc họa rất sắc nét và các sự kiện lịch sử hiện ra đầy chân thực2. Xuyên suốt qua 69 chương, bộ tiểu thuyết đã dẫn dắt người đọc chứng kiến rất nhiều thân phận những người phụ nữ sống trong tường thành cung cấm, những bi kịch, những thủ đoạn tàn độc đầy rẫy ở hậu cung đôi lúc làm khuynh đảo cả triều chính, gây những cái chết đầy oan trái, những án oan tiếng nhơ khó rửa. Giữa chốn tranh đấu đầy khốc liệt như thế, lại nảy nở một mối tình lãng mạn, chung thủy của Phạm Thị Hằng và hoàng trưởng tử Miên Tông (vua Thiệu Trị sau này). Bên cạnh đó còn có bóng dáng thầm lặng mà trung thành trước sau như nhất của Trương Đăng Quế, đại công thần nhà Nguyễn.

Đánh giá sự thành công của Trần Thùy Mai trong tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu, nhà phê bình văn hóa Nguyễn Thị Việt Nga viết rằng: “nhà văn đã dựng lên được một cách sống động, chân thực và hấp dẫn cuộc sống phía hậu cung, điều mà chính sử không ghi chép lại nhiều, và nếu không phải là người trong cuộc, thì cũng khó lòng được thấy. Trần Thùy Mai đã vén tấm rèm lấp lánh của cung đình, để soi rọi vào cuộc sống nơi tử cấm thành, tưởng như êm đềm với những cung tần mỹ nữ, những hoàng hậu, hoàng thái hậu chỉ biết chuyên tâm chuyện phấn son váy áo, nấu nướng thêu thùa, sinh con đẻ cái cho hoàng tộc mà hóa ra nhiều sóng gió hơn cả chốn triều chính ngoài cung điện. Những mưu mô kinh hoàng nơi hậu cung không chỉ tác động tới thân phận bao con người trong đó mà còn có thể làm chao đảo triều chính, dập vùi bao đại thần trung chính, tài năng; thậm chí có thể quyết định vận mệnh của muôn dân, của cả giang san, đất nước”3. Năm 2020, tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu được trao giải thưởng sách hay ở hạng mục sách Văn học.

3. Bức tranh về tôn giáo, tín ngưỡng của người Huế nhìn từ tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu

3.1. Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức, có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng cũng như trên nhiều phương diện ở Việt Nam. Nho giáo lấy con người làm trung tâm, chỉ dạy con người sống phải biết đối nhân xử thế, biết tu thân và luôn trau dồi đạo đức. Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người, giáo dục và khiến con người biết điều chỉnh mọi hành vi, từ ác thành thiện. Chính vì thế, Nho giáo quan niệm tính thiện của con người gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín hay còn gọi là Ngũ thường. Có thể thấy, đạo làm người theo quan niệm Nho học là đạo làm người trong xã hội phong kiến nhưng những quan niệm đạo đức đó đã giúp xã hội phong kiến phát triển, cùng với những mặt tích cực của nó, Nho giáo đã ảnh hưởng rộng khắp đến các nước Châu Á và tiếp tục ảnh hưởng cho đến ngày nay. Ngay từ khi ra đời, Nho giáo đã có nhiều điểm khác biệt căn bản với tư tưởng của các tôn giáo khác, nhất là vấn đề con người4. Có thể nói, với các nguyên tắc “tam cương”, “ngũ thường”, đường lối nhân chính và lý tưởng xây dựng có kỷ cương và hòa mục nên Nho giáo được coi là học thuyết duy nhất có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của chế độ phong kiến trung ương tập quyền trên một lãnh thổ quốc gia thống nhất, chính điều này đã khiến nhà Nguyễn dành cho Nho giáo vị trí độc tôn5.

Vốn sinh ra và lớn lên ở Huế, hơn ai hết, Trần Thùy Mai hiểu rất rõ những tư tưởng của Nho giáo ảnh hưởng một cách mạnh mẽ lên con người nơi đây, từ tư tưởng, cách suy nghĩ, cho đến cách ăn, mặc. Vì thế, trong quá trình viết tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu, Trần Thùy Mai đã đưa vào những biểu hiện, sự ảnh hưởng của Nho giáo không chỉ với việc điều hành đất nước của các vị vua Nguyễn, mọi nghi lễ mà còn những phẩm chất được rèn giũa trong môi trường Nho giáo. Điều này được thể hiện rất rõ nét trong lễ tế Giao được coi là một nghi lễ quan trọng thuộc hàng Đại tự của triều đình, nhằm khẳng định tính chính danh của một vị hoàng đế đang cai trị một đất nước. Trong chương 52, lễ tế Giao được Trần Thùy Mai kể như sau: “Ngày mai là lễ tế Trời, hôm nay hoàng thượng ngự lên Trai cung bên cạnh đàn Nam Giao, để ăn chay nằm đất, thể hiện lòng chí thành”6. Với tư cách là “Thiên tử” (con Trời), việc nhà vua đứng ra tế Trời không chỉ thể hiện sự tôn trọng đối với thần linh mà còn khẳng định ý chí độc lập và tự tôn dân tộc mạnh mẽ của triều Nguyễn. Bởi lẽ, việc triều Nguyễn tổ chức lễ tế Giao với vị thế “Thiên tử” - nghi lễ mà theo quan niệm của Nho giáo Trung Quốc là không dành cho vua của nước chư hầu7.

Cũng vì là “Thiên tử” nên nhà vua còn đứng cả trên các vị thần linh, do đó, nhà vua còn có quyền ban sắc phong cho các vị thần linh. Trong chương 19, quyền uy này được thể hiện như sau: “Các thần thánh được dân gian thờ cúng trong các đền điện miếu vũ, chỉ được chính thức xem là thần thì phải có hoàng đế thay mặt Trời ban sắc chỉ thừa nhận”8. Và hiển nhiên việc vị thần linh nào đó được nhà vua ban tặng sắc phong thần cũng đã khẳng định sự oai linh, hiển linh của các vị thần linh đối với niềm tin tâm linh không chỉ triều đình mà còn đối với dân chúng.

Triều Nguyễn xem Nho giáo là hệ tư tưởng dùng để cai trị đất nước, bởi lẽ hoàng đế muốn tập trung quyền lực vào tay mình, muốn mọi thần dân phải “trung quân ái quốc”, thần phục mình. Khi bàn về đạo trị nước với Phạm Đăng Hưng, vua Minh Mạng đã khẳng định rằng: “Ta là người cai trị, ta phải giữ vững nền chuyên chế. Ta khuyến khích sự thật, giữ gìn công lý, ban thưởng cho đạo đức, nhưng sự thật, công lý hay đạo đức đều phải dưới chân ta”9. Một trong những giá trị và ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo đối với con người Huế là tư tưởng trung và hiếu được đặt lên hàng đầu, có tôn ti trật tự. Từ hình mẫu gia đình ở chốn cung đình, soi rọi ở ngoài dân gian thì vẫn theo một truyền thống gia đình Huế khi mà nhiều thế hệ con cháu cùng chung sống trong một gia đình với nhau mà người ta thường gọi là “tứ đại đồng đường” hay “ngũ đại đồng đường” (4 đến 5 đời cùng sống dưới một ngôi nhà). Trong tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu, chi tiết này được thể hiện qua đoạn hội thoại Thái hậu Trần Thị Đang bàn với vua Thiệu Trị về việc vợ của Hồng Bảo sinh con: “Nếu là trai, thì thật là một chuyện trọng đại lắm đó! Bà muốn nhân dịp này, làm một cái lễ Ngũ đại đồng đường thật rỡ ràng, cho trong ngoài đều biết đến cái phước lớn của dòng họ nhà ta”10.

Đối với người phụ nữ, phẩm chất “công, dung, ngôn, hạnh” là một ảnh hưởng rõ nét từ Nho giáo, họ được uốn nắn, dạy dỗ, từ cách đi đứng, ăn nói, làm việc đều phải có nền nếp gia phong. Những phẩm chất này đều thể hiện rõ nét qua nhân vật Phạm Thị Hằng ngay từ khi bước chân vào cung, bà đã được Thái hậu Trần Thị Đang chỉ bảo một cách cụ thể, nghiêm khắc, mọi cử chỉ, hành động là phải có ý tứ, khuôn phép. “Dáng đi quan trọng lắm. Người đàn bà mà vừa đi vừa lắc mông, ấy là tướng đi của loài rắn, không phải là người đoan chính.”11. Còn trong ăn uống thì phải “lấy tay áo che nửa mặt, bởi cảm thấy nước bọt đang tiết ra, nhưng thường nhật được dạy phải ăn uống nhỏ nhẻ”12.

3.2. Phật giáo

Phật giáo là một trong những tôn giáo đóng vai trò quan trọng đối với đời sống tinh thần người dân Huế. Bởi lẽ “Trải qua mấy trăm năm các chúa Nguyễn cai trị, đạo Phật được truyền bá, đã thấm sâu trong lòng bá tánh ở Đàng Trong. Cái đó rất có lợi cho phong tục, bởi đạo Phật dạy từ bi, hỷ xả, làm giảm bớt cái đau đớn của chiến tranh tàn khốc”13. Trong chương 15 - Tiếng khóc của vương phi, nhà văn cũng lý giải thêm rằng: “Ngày xưa quốc chúa Nguyễn Phúc Chu lấy đạo Phật làm quốc giáo, xây chùa, đúc tượng, mời thiền sư Thích Đại Sán từ bên Tàu sang… cũng là bởi muốn đoạn tuyệt với vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, tự mình lập một nước riêng ở phương Nam. Chúa Trịnh lấy lá bài tôn quân, giả danh phò vua Lê để đánh chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn muốn vô hiệu hóa lá bài tôn quân đó thì phải có một chỗ dựa tinh thần khác, vì thế mới đem Phật giáo ra làm thuyết giáo hóa con dân”14.

Dõi theo hành động các nhân vật, người đọc đã phát hiện ra được những tư tưởng nhân văn, giá trị đạo đức, lòng từ bi, hỷ xả, tu tâm, hành thiện,… của Phật giáo trải dàn trong suốt hai cuốn của bộ tiểu thuyết. Chính những giá trị nhân văn và đạo đức của Phật giáo đã giúp con người xóa bỏ mọi hận thù, hướng con người luôn có tình yêu thương, sự từ bi, đức độ. Để hóa giải mọi hận thù giữa nhà Nguyễn với nhà Tây Sơn, nhà văn Trần Thùy Mai đã xây dựng nhân vật như Hạnh Thảo vốn xuất thân là dòng dõi của triều Tây Sơn. Ông nội cô là Trung thư Phụng chính Trần Văn Kỷ là bề tôi thân cận của vua Quang Trung. Khi vua Quang Trung băng hà, con trai là Quang Toản nối ngôi không có thực tài nên triều thần tranh giành tàn sát lẫn nhau, cuối cùng bị Nguyễn Ánh tiêu diệt. Ông nội cô không theo vua mới đã gieo mình xuống dòng sông tuẫn tiết. Vì cái tội đó mà cả dòng họ Trần bị tru diệt, chỉ trong một ngày 52 người đều bị chết. Hạnh Thảo lúc đó còn bé được một người quen đưa đi giấu rồi nhận làm con, lớn lên nàng học nghề nấu ăn nên được sung vào bếp, an phận nô tỳ phục vụ, hầu hạ ở cung cấm. Khi Công chúa Ngọc Tú hỏi mục đích vào cung nấu ăn có phải để trả thù thì Hạnh Thảo trả lời rằng: “Nếu con ôm lòng thù hận thì một mạng nô tỳ này là cái giá quá rẻ để đổi một mạng vua… Ai ra tay làm ác sẽ chịu báo ứng trước Trời Phật, con nguyện không lấy cái ác để dấp trả với cái ác! Nếu con giết hoàng đế thì gia đình con cũng không sống lại được! Bao nhiêu người đã bị giết trong chiến tranh, có bao giờ đội mồ sống lại được nữa?”15. Khi nghe câu trả lời của Hạnh Thảo, Công chúa Ngọc Tú đã vô cùng xúc động, nước mắt chảy dài, bà tự nghĩ “Bao năm nay ta tu hành, lúc nào cũng niệm một chữ từ bi, mà sao lúc nãy trong lòng bỗng chốc còn dấy lên cảm giác sân hận. Câu nói của cô gái này, một phút đã khiến ta thấy tâm Phật tỏa sáng trong lòng mình! Ta đau vì mất chồng, mất cha, mất anh em, cô gái này mất cha mẹ, họ hàng, có khác gì nhau đâu”16. Qua những nhận thức suy nghĩ của Hạnh Thảo và Công chúa Ngọc Tú, độc giả thấy xót xa, bùi ngùi với những số phận phải chịu hậu quả bị chiến tranh tàn phá mất hết họ hàng, thân thuộc, ở họ sẽ khó mà dễ dàng tha thứ cho kẻ đã gây ra. Tuy nhiên, họ đã buông bỏ tất cả, mỉm cười và không hề trách móc, than vãn, càng không thù hằn với bất cứ ai, bởi ở họ đã thấm nhuần tư tưởng từ bi, hỷ xả của nhà Phật.

Ảnh hưởng của Phật giáo còn được thể hiện qua sinh hoạt tâm linh trong các hoạt động thờ cúng người thân đã mất của mình, mà điển hình nhất là nghi lễ trai đàn, cầu siêu. Cũng trong chương 15, nhà văn Trần Thùy Mai đã mô tả mục đích và lịch sử của nghi lễ này thông qua việc Công chúa Ngọc Tú đã xin Thái hậu Trần Thị Đang (mẹ vua Minh Mạng) làm lễ trai đàn theo nghi thức nhà Phật để cầu siêu cho vua Gia Long: “Trước đây khi mẹ mất, tiên đế đã lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ để cầu siêu cho mẹ. Nay tiên đế qua đời, thiếp cũng muốn lập một đàn chay như vậy để cầu siêu thoát cho ngài”17. Còn về lịch sử của lễ trai đàn ở Huế, Trần Thùy Mai cũng đã lý giải rằng: “Về việc lập đàn chay cầu siêu thì đấy cũng là phong tục lâu đời ở Phú Xuân, từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu đến nay. Khi Hiếu Khang hoàng thái hậu mất, chính tiên đế cũng đã lập đàn”18. Bên cạnh đó, trong các lễ trai đàn hoặc trong các dịp cúng tế của người Huế luôn có lễ thả đèn hoa đăng trên sông Hương, vì “mỗi chiếc đèn thả xuống là để soi cho một linh hồn hướng về cõi sáng đó”19. Để thả hoa đăng thì người dân với “vài chục thuyền được chèo ra sông. Một lát sau thì suốt một dải Hương giang lấp lánh những chấm hoa đăng, cứ như một trời sao lênh đênh trên mặt nước”20.

3.3. Đạo giáo

Cùng với Phật giáo và hệ tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo cũng có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống của người Việt ở Huế, “nhất là những biện pháp cầu cúng của tôn giáo này lại phổ biến khắp dân gian Huế”21. Vào dịp Tết đến xuân về, người Huế thường tổ chức lễ nhương sao giải hạn để cầu bình an, may mắn và sức khỏe. Và nghi lễ này Trần Thùy Mai đã rất khéo léo chỉ ra trong chi tiết vua Minh Mạng bị bệnh, để giúp nhà vua sớm được khỏe mạnh, trong cung đã tổ chức lễ này như sau: “Tết năm ấy, nhà vua không khỏe nên thoạt đầu Nhị phi ra lệnh không treo đèn kết hoa và bỏ hết các trò vui. Sau các quan bên Khâm Thiên giám dâng lời, cho là nên tổ chức nghênh xuân linh đình để lấy dương khí của trời đất mà đẩy lùi vận hạn, hòng mong sức khỏe của nhà vua nhờ đó mà vượng lên. Quả nhiên, bệnh vua có thuyên giảm, mồng ba Tết đã vịn vai Trung Tín bước ra thềm xem các hoàng tử, hoàng tôn nơi đầu hồ trước sân Nhật Nguyệt”22. Một chi tiết khác mà trong Quyển thượng của bộ tiểu thuyết có đề cập đến là vợ Phạm Đăng Hưng bị bệnh lâu ngày mà không khỏi và cách chữa là: “Cái bệnh tả lị này là do ôn thần dịch sai âm binh đi bắt người đó, ngày xưa ông bà chữa bằng cách dùng roi dâu quất quanh nhà, dọa như vậy âm binh mới sợ mà tránh xa”23. Còn “Hằng ngồi đốt giấy và vàng mã một bên, những mong hối lộ quỷ thần, xin tha mạng cho cha mẹ”24.

3.4. Tín ngưỡng thờ Mẫu

Huế là một trong những trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu ở dải đất miền Trung, gắn liền với tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na và ngôi đền thờ trên núi Ngọc Trản, mang tên là Huệ Nam Điện. Không quá xa lạ khi trên vùng đất Huế, đi khắp nơi đều xuất hiện bóng dáng của ngôi điện, am thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na và hoạt động thực hành đức tin thông qua nghi lễ lên đồng. Trong tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu, tác giả đã giới thiệu đến độc giả về sự linh ứng của Thánh Mẫu Thiên Y A Na cũng như những khả năng đặc biệt của những người có “căn”, lên đồng thông qua câu trả lời của cô đồng Tuệ Linh khi được Thái hậu Trần Thị Đang hỏi về tài năng của mình: “Tất cả những chuyện quá khứ vị lai, điềm lành điềm dữ con nói ra đều là do Thánh mách bảo cả mà thôi! Con chỉ là tiếng nói mà Thánh dùng để thể hiện ý cao siêu của ngài”25. Ở chương sự linh ứng của Thánh Mẫu Thiên Y A Na được thể hiện qua việc Phạm phu nhân muốn cầu xin cho Trương Đăng Quế đỗ đạt trong kỳ thi Hương: “Phạm phu nhân thì tờ mờ sáng cũng đã ngược thuyền lên tận điện Hòa Nam, dâng lễ lên nữ thần Thiên Y A Na để cầu xin một quẻ xăm cho biết ý trời”26. Chi tiết khác nằm ở chương 63: Cô đồng điện Huệ Nam với việc cô đồng Tuệ Linh nhập vai hoàng đế Gia Long để răn dạy Thái hậu Trần Thị Đang vào ngày húy nhật của nhà vua: “Cô đồng trùm một tấm vải đỏ kín mặt, đang lâm râm cầu khấn, dần dần đầu rung lắc liên tục. Chợt đang quay tít, cô đồng vụt ngẩng đầu cao lên, tay hất tung vải đỏ. Đôi mắt cô lúc đờ đẫn, lúc lại vụt sáng quắc lên. Chợt cô đổi dáng điệu, chân xuống tấn, tay đặt ngang hông, cử chỉ ngạo nghễ hiên ngang, trông như một võ tướng. Thái hoàng thái hậu tỏ vẻ xúc động: Có thật là tiên đế đó không, xin người hãy nói đi. Cô đồng ứng lời Gia Long hoàng đế: Ta đây, ta muốn nói cho một mình thái hậu nghe thôi… Cô đồng cười lên một tràng dài: Ngươi đem cái chết đến cho bao nhiêu người rồi, mà lại sợ nói đến cái chết của mình ư? Xưa nay vẫn thế, những kẻ ác nhất lại là những kẻ nhát gan nhất!... Cô đồng hét lớn: Ngươi đang đào ba cái huyệt, một cái cho ngươi, một cái cho cháu ngươi, một cái cho chắt ngươi”27. Đúng như lời phán truyền của cô đồng Tuệ Linh, trong triều đình lần lượt có ba cái chết ứng với ba người là Thái hậu Trần Thị Đang, vua Thiệu Trị và hoàng tử Hồng Bảo.

3.5. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Theo quan niệm của người Huế, những món ăn ưa thích khi còn sống thì sau khi người thân trong gia đình qua đời sẽ được dâng cúng. Và thật tài tình, khéo léo, nhà văn Trần Thùy Mai đã đưa vào trong tác phẩm của mình như sau: “Cái gì lúc sinh thời hoàng hậu ưa thích, từ cái ăn cái mặc, người hầu kẻ hạ, nay phải dâng cúng như vậy”28. Đối với người Huế, việc thờ cúng tổ tiên được đặt lên hàng đầu trong mỗi gia đình, từ chốn cung đình cho đến dân gian đều thiết đặt bàn thờ một cách trang nghiêm và lễ vật dâng cúng một cách trân trọng. Một hình ảnh bình dị nhưng rất quen thuộc trong tâm thức của người Huế, mà theo tôi khá đắt giá, được Trần Thùy Mai khai thác để khắc họa nét đặc trưng trong văn hóa tâm linh của người Huế là “bình hoa phượng vàng, nải chuối mật và khay cau trầu rượu”29. Trước đây, trong mỗi khu vườn của người Huế, đều có những cây phượng, cây chuối, cây cau và những hoa quả thu được sẽ trở thành những lễ vật dâng cúng ông bà tổ tiên trong ngày kỵ giỗ hay dịp lễ tết.

Sự kính trọng tổ tiên không chỉ được thực hiện trong ngày lễ tết, ngày kỵ giỗ mà thậm chí những ngày vui, trọng đại của con cháu đều thiết lễ cúng, mà lễ cưới là biểu hiện rõ nét nhất trong văn hóa cưới hỏi của người Huế. Đối với lễ cưới: “Trước giờ vu quy, cô dâu phải lạy bàn thờ ông bà, cha mẹ (nếu mất). Ở nhà dân thường chú rể phải đến đón dâu, nhưng hoàng tử nạp phi thì cô dâu phải một mình bái gia tiên để ra đi”30. Còn đối với nghi tức tang lễ, để làm tròn hiếu đạo, bày tỏ sự tiếc thương sâu sắc của con cái đối với đấng sinh thành thì người con trai phải “đội mũ rơm, chống gậy đi sau quan tài”31. Khi “quan tài được đưa ra cửa. Trong nhà, theo tục lệ, một người cầm cái bình gốm ném xuống đất”32. Còn vào các dịp lễ tết, con cháu thường sẽ tề tụ trong gia đình để làm các món ăn ngon, trước dâng cúng ông bà tổ tiên sau cùng quây quần thưởng thức, chia sẻ những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống, tiêu biểu là Tết Đoan Ngọ (người Huế thường gọi là Tết mùng 5). Được tổ chức vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm, các gia đình ở Huế thường dâng “các món ăn quý làm từ thịt vịt và hạt kê, ngoài ra còn có các món bánh Huế làm với tôm chấy thơm ngon”33 lên ông bà, tổ tiên để thể hiện tấm lòng hiếu thảo. Những món ăn đặc trưng của người Huế như thịt vịt chấm nước mắm gừng và chè hạt kê, bánh bèo tôm chấy cũng chính là những món đặc trưng, không thể thiếu trong mâm cỗ dâng cúng ông bà tổ tiên.

4. Kết luận

Từ Dụ thái hậu không chỉ là một tác phẩm viết về chủ đề văn học, lịch sử mà còn bao hàm cả văn hóa Huế. Hiếm có một tác phẩm văn học nào truyền tải được những sắc thái đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Huế như cuốn tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu của nhà văn Trần Thùy Mai. Đọc qua 69 chương của tiểu thuyết, người đọc dường như có cơ hội được chiêm nghiệm, được cảm nhận, được thấy những loại hình tôn giáo tín ngưỡng đã tồn tại và ảnh hưởng trong đức tin của người Việt sống trên vùng đất Huế. Qua lăng kính của nhà văn, những sắc thái biểu hiện của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, các loại hình tín ngưỡng dân gian như tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Huế được hiện rõ trước mắt người đọc. Chính điều này đã đưa người đọc như đang tham gia tour du lịch tâm linh ở vùng đất Huế, đi qua những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của xứ Huế như chùa Thiên Mụ, điện Huệ Nam, sông Hương.

N.H.P
(TCSH443/01-2026)

---------------

1 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, tr. 5.
2 Hằng Hương (2019), Từ Dụ thái hậu, tiểu thuyết “cung đấu” hấp dẫn của văn học đương đại, truy cập tại địa chỉ: https://baotintuc.vn/van-hoa/tu-du-thai-hau-tieu-thuyet-cung-dau-hap-dan-cua-van-hoc-duongdai-201905100936 41812.htm, ngày 12/10/2025.
3 Nguyễn Thị Việt Nga (2020), Về tiểu thuyết “Từ Dụ thái hậu” của Trần Thùy Mai, truy cập tại địa chỉ: https://vanvn.vn/ve-tieu-thuyet-tu-du-thai-hau-cua-tran-thuy-mai/, ngày 13/10/2025.
4 Nguyễn Thị Thanh Vân (2016), “Nho giáo và sự ảnh hưởng của Nho giáo đến giáo dục ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 129, tr. 35.
5 Vũ Thị Phương Hậu (2014), Chính sách văn hóa triều Nguyễn (1802 - 1884), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 47.
6 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, tr. 153.
7 Huỳnh Thị Anh Vân (2016), Các đàn miếu đại tự triều Nguyễn ở Huế (1802 - 1945): Sự hình thành và nghi lễ tế tự, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, Huế, tr. 99.
8 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 178.
9 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 342.
10 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Sđd, tr. 288.
11 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 365.
12 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Sđd, tr. 38.
13 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 146.
14 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 146.
15 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 299.
16 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 299.
17 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 143.
18 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 145.
19 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 157.
20 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 156.
21 Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần văn hóa, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 504-505.
22 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 141.
23 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 176.
24 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 176.
25 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Sđd, tr. 354.
26 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 118.
27 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 356-357.
28 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 65.
29 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Sđd, tr. 30.
30 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Sđd, tr. 308.
31 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Sđd, tr. 64.
32 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Sđd, tr. 64.
33 Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Sđd, tr. 38.

 

___________

Tài liệu tham khảo:

1. Vũ Thị Phương Hậu (2014), Chính sách văn hóa triều Nguyễn (1802 - 1884), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Hằng Hương (2019), Từ Dụ thái hậu, tiểu thuyết “cung đấu” hấp dẫn của văn học đương đại, truy cập tại địa chỉ: https://baotintuc.vn/van-hoa/tu-du-thai-hau-tieu-thuyetcung-dau-hap-dan-cua-van-hoc-duong-dai-20190510093641812.htm, ngày 12/10/2025.
3. Nguyễn Thị Việt Nga (2020), Về tiểu thuyết “Từ Dụ thái hậu” của Trần Thùy Mai, truy cập tại địa chỉ: https://vanvn.vn/ve-tieu-thuyet-tu-du-thai-hau-cua-tran-thuy-mai/, ngày 13/10/2025.
4. Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển thượng, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.
5. Trần Thùy Mai (2019), Từ Dụ thái hậu, Quyển hạ, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.
6. Nguyễn Thị Thanh Vân (2016), “Nho giáo và sự ảnh hưởng của Nho giáo đến giáo dục ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 129, trang 35-37.
7. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần văn hóa, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
8. Huỳnh Thị Anh Vân (2016), Các đàn miếu đại tự triều Nguyễn ở Huế (1802 - 1945): Sự hình thành và nghi lễ tế tự, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, Huế.

 

Các bài đã đăng