NGUYỄN HỒNG NHUNG
Thế giới hiện ra trong ngôn ngữ riêng
“Tôi hình dung, mỗi ngôn ngữ là một thế giới, trong đó, từng thứ trong vạn vật và muôn loài hiện ra với những dạng thể không hề giống chính nó tại thế - giới - ngôn - ngữ khác.” Đó chính là chia sẻ của nhà thơ Lê Anh Hoài khi mở đầu tập thơ đa ngữ Mảnh/ mảnh/ mảnh. Vách ngăn của những âm điệu và cách thể hiện mang tới cho thi ca một vẻ đẹp riêng khác trong hành trình gửi đi thông điệp thẩm mỹ từ thế giới của “tôi” sang thế giới của người đọc. Tập thơ được xuất bản năm 2012, người viết tiểu luận biết về nó cũng tới một thập niên. Nhưng, rào cản về sự hiểu biết hạn hẹp ngôn ngữ của những tộc người thiểu số được trình - diễn trong tập khiến tôi nhiều lần mở đọc rồi nhiều lần khép lại mà không ngồi xuống, dùng cách thức gõ chữ trên bàn phím máy tính diễn đạt những gì mình tiếp nhận được. Sau một thập niên đắn đo và bối rối, tôi cũng hiểu rằng mình nói tiếng Kinh, vậy thì mình cứ đọc phần tiếng mẹ đẻ của mình trong tập sách đó và dùng chính ngôn ngữ thân thuộc nhất, hiểu biết nhất mà diễn đạt nó ra. Và như thế, tôi đã thu nhận được những vẻ đẹp lấp lánh mà khi bị làm rối trong tân hình thức, tôi còn băn khoăn.
Bấp bênh/ sống/ thoát/ đối diện (Người bị ném đá). Cảm giác trĩu nặng đè lên tầng cảm xúc với tính, động từ đơn dồn dập chính là cách thức Lê Anh Hoài diễn tả thành công chiếc “bẫy” mà con người tự đặt mình vào trong phức cảm của đời sống. Bấp bênh sống và cách khôn ngoan nhất là đối diện chứ không giả tảng không biết tới nó. Cuộc vượt thoát sinh tử để đạt tới trạng huống tự do nhất: “khát khao/ bước/ ngoài giới hạn/ ngoảnh lại nhìn/ đám đông ném đá”. Người nghệ sĩ sống với những khao khát sáng tạo, cái anh ta cần là nỗ lực vượt qua chính mình, vượt qua những giới hạn mà vì lý do này, khác mình tự đặt ra cho chính mình rồi loanh quanh với nó. Nhịp thơ ngắn như những hòn đá ném đi. Lê Anh Hoài đã thực sự thành công khi diễn tả màn trình diễn có thể hình dung được rất cụ thể và những ẩn ý đằng sau nó. Đám đông và những giới hạn chính là khoảng rơi của những hòn đá bị ném tới trong hành trình vật lộn bước ra ngoài giới hạn để đạt tới trạng huống an nhiên: “ngoảnh lại nhìn/ đám đông ném đá”. Lời khẳng định và xác lập vị thế của chính mình đã được cất lên như thế ở thi phẩm mở đầu tập sách. Nó, có thể khác lạ với hình ảnh của một nhà báo luôn chọn cách hài hước hóa mọi vấn đề thu nhận được từ đời sống xã hội trên trang cá nhân. Thi ca, tự nó khơi lộ phần nội tâm đằm sâu. Nếu nói Mảnh/ mảnh/ mảnh là cuộc đại sắp đặt ngôn ngữ thì những động từ đơn tượng hình tạo ra sự vận động mạnh mẽ trong hình dung của người đọc. Đá ném đi, người bị ném đá không ào chạy mà “bấp bênh/ sống/ thoát/ đối diện…”. Những hòn đá hữu hình hay vô hình đã sinh ra cảm giác nghẹt thở có thật trong cảm nhận của độc giả?
Nhận xét về những đối lập này, tác giả Trần Nghi Hoàng trong một bài viết đăng trên Tạp chí Sông Hương đã chia sẻ: “.. Chơi vui dường như là bản chất nghệ thuật của Lê Anh Hoài. … Hoài không “gồng mình” để “chơi lạ”, “chơi nổi”, mà là “chơi vui”. Tất cả những cuộc “chơi vui” nghệ thuật của Hoài đều hết sức nghiêm túc như tôi đã nói, vì tôi có thể cảm nhận được nó đã khởi đi và thành tựu từ những trầm tư, suy nghiệm, tìm tòi vào nghệ thuật của cá nhân anh….”
Đọc Mảnh/ mảnh/ mảnh, người đọc có cơ hội nhập cuộc vào những chơi vui rồi mở ra cách tiếp nhận khác nhau. Vượt thoát đám đông, lắng nghe chính mình, nhận ra giọng điệu, tiếng nói của mình chính là hành vi thường trực của người nghệ sĩ. “ khuya/ thơ tôi như ý nghĩ của người điên/ những con chim đêm bay qua/ không tiếng/ những ánh trăng suông tỏa không tiếng/ những ký ức em không tiếng… tôi bật đèn hòng xóa đêm/ chợt nghe những gì vỡ khẽ” (Không tiếng). Ý thức về sự hiện diện của vạn vật được ném lên bức tranh với mảng nền là bóng đêm tĩnh lặng. Không có một âm thanh nào được làm rõ trong khuya. Cả thiên nhiên, cả em, cả chính mình sắp biến mất trong bức tranh đêm khuya không thanh âm đó thì một chuyển động thật khẽ đã bừng thức cảm xúc: chợt nghe những gì vỡ khẽ. Vụn vỡ của ký ức, của sự vượt thoát trượt từ không gian ồn ào, vô nghĩa của đám đông sang thế giới nội tâm tĩnh lặng. Cuộc vượt thoát đó tưởng chừng không gây ra một vang động nào nhưng những “vỡ khẽ” dằng dai và còn thường trực đã lưu bám trong cảm nhận của độc giả. Ý thức được điều này không sinh ra ở đám đông, nó thuộc về những cá nhân có chiều sâu nội tâm phong phú. Bức tranh ngôn từ được trình diễn nhiều ẩn nghĩa dẫn người đọc đi từ trực cảm này sang vận động tế vi khác. Người đọc lạc trong không gian nghệ thuật ngôn từ và lần theo những vách ngăn của cảm xúc cùng hòa nhịp với sự tri nhận chính mình. “Chợt nghe những gì vỡ khẽ” cũng được hiểu như một câu hỏi tu từ mà người viết đặt ra cho chính nội tâm của mình. Những vỡ khẽ không dễ nhận diện trong ồn ào ngày, càng dễ bị khuất chìm bởi những tạp âm khác. Câu hỏi tôi là ai? Tôi tới từ đâu? Tôi đến đâu? Nhờ thế mà được sinh ra và tìm thấy những đồng điệu.
Thi nhân, với tâm hồn mẫn cảm hơn ai hết cảm nhận được sự qua đi rỗng không của ngày cùng những nhàn tản hay những rối rắm vô nghĩa. Đôi khi, con người tự huyễn với chính mình. Nhưng, tự huyễn rồi tiếng nói thì thầm của đời sống tinh thần cũng buộc anh ta phải tri nhận lại: “Những gì ta sống hôm nay chẳng phải của ngày mai, chẳng giống ngày hôm qua, những cảm giác dập dồn ảo ảnh, không đọng lại dù chỉ một đường viền, chẳng ai cần nữa” (Tôi của ngày hôm nay chết). Tôi của ngày hôm nay chết, cái chết của sự rỗng không mà không còn ai cần tới hay quan tâm tới nữa. Qua hai thi phẩm được trình diễn bởi ngôn từ cô đọng, súc tích, tác giả ném dòng cảm xúc vào những câu chữ dài. Hành trình vật lộn, vượt thoát với chính mình trở nên dễ hình dung hơn. Đã dứt khoát, đã tưởng thoát qua khỏi những loay hoay bấp bênh thì những ảo ảnh lại đẩy cảm xúc vào trạng huống loay hoay của những dập dồn ảo ảnh khác. Có cảm giác như thông qua ngôn từ, Lê Anh Hoài đang trình chiếu một thước phim chậm, có cận cảnh, có phóng xa trong hành trình khám phá chính mình. “Tất cả đã lỡ thì/ như một trái cây lạc mùa không có giá trong chợ/ Lời chỉ là những gì sau này chúng ta sẽ nói/ sau khi qua kiếp nạn này” (Lời). Hóa ra sau những vượt thoát, những trả giá, những chiêm nghiệm thì cuối cùng tất cả hành trình đó được gói gọn trong “lời”, trong cách mà một thi nhân biểu đạt tư duy, hình ảnh, ngôn ngữ thơ. Tôi thích cách Lê Anh Hoài tự do, thoải mái biểu đạt những suy nghĩ sâu xa qua việc triển khai hình thức thơ tự do tuyệt đối, không đóng khung trong khuôn mẫu nào. Mở Mảnh/ mảnh/ mảnh, người đọc thực sự lạc vào một cuộc trình diễn thơ mà chính mình dự phần lúc nào không hay biết. Vật lộn nội tâm cựa quậy, lao đao bước và đổ bóng trên vật liệu ngôn từ.
Thước phim đời trình khẽ mà gai đôi
Như đã nhận định, mở Mảnh/ mảnh/ mảnh người đọc bị lôi cuốn vào một triển lãm trình diễn thơ mà mỗi mảng miếng cảm xúc lại mang một sắc thái. Đó là cuộc trình diễn của ngôn từ, là sự tái hiện của cuốn phim tư liệu bắt, ghi lại cảm xúc đa chiều. Có khi, ta gặp một Lê Anh Hoài gai góc, lại có khi là một Lê Anh Hoài đa cảm, mong manh. Ở mảng miếng nào cũng tự do, khoáng đạt và có đôi phần “đùa chơi”. Một Lê Anh Hoài giàu lòng trắc ẩn, cảm thương với những phận người khiến cho xúc cảm của người đọc như chùng lại: “mưa đủ để tôi lang thang/ và đủ để những cô gái bên đường co ro/ những cây xà cừ bắt lấy mưa/ để rồi tự mình làm mưa khi gió/ tôi muốn lòng tôi mưa to cho/ nhẹ bớt/ nhưng ký ức về em đã trả thù/ không cho tôi mưa/ một cô gái co ro dưới cây xà cừ gọi tôi/ nhưng tôi không ngoảnh lại/ có ích gì đâu khi gộp lại những cái/ bẽ bàng” (Mưa đêm). Phác họa của một đoạn phố, của thực tại trong mưa đêm lồng trong phác họa mơ hồ trong ký ức về em. Sự phức tạp của tâm trạng và suy nghĩ được khéo diễn đạt qua hình ảnh so sánh tương phản giữa mong muốn “mưa to” cho “nhẹ bớt” cùng diễn ra trong tâm trạng người nói. Tâm trạng lúc cô đọng, lúc dàn trải theo nhịp trúc trắc của ngôn từ. Đi qua những phận người trong mưa và khoác vẻ thờ ơ. Nhưng, có thực sự thờ ơ được không? Mưa đêm không xóa nhòa hay nhẹ bớt mà nó tăng thêm cảm phức về sự “bẽ bàng”. Thước phim ngắn, chậm về người lữ khách và những cô gái “phong sương” kéo nhòe trong cảm xúc của người đọc về những bẽ bàng, phiền muộn của một phận đời. Đoạn phố nhòe ướt trong cảm nhận của độc giả là sắc thái đa cảm trong thơ Lê Anh Hoài dù đã được ẩn đi sau lớp ngôn từ tả thực, ít biểu cảm nhất. Tới đây, người đọc hẳn sẽ đồng tình với nhận định của Trần Nghi Hoàng rằng: Lê Anh Hoài không so vai vuốt tóc, không nặng nề triết lý trong thơ. Hoài chơi vui như từng chơi vui những cuộc… khác của anh. Nhưng từ sự thông minh và qua những trải nghiệm sống của mình, cùng những suy tư và quan sát xã hội quanh anh, đã cho thơ Lê Anh Hoài hồn nhiên có những “mảnh” ý tưởng sâu sắc về con người và cuộc sống”.
Sự thờ ơ chính là một dạng thức của cái chết. Ở Mảnh/ mảnh/ mảnh chúng ta bắt gặp sự diễn đạt cái chết diễn ra ở nhiều dạng thức. “Chúng mình đã khát khao ánh sáng/ và đã cùng nhau nhảy vọt lên bờ/ nắng thiêu chúng ta thành nước/ ta chảy tan rồi ta chết mất thôi/ làn nước lạnh u buồn/ ta chết chìm trong làn nước tối/ tan chảy lung linh giọt mình nguyên chất” (Cá). Tan chảy cũng là một “cách chết”. Bài thơ kết thúc với cách thức chết chậm của cảm xúc trong sự bất lực của lý trí. Có thể người đọc sẽ tiếp nhận theo hướng này với sự khiên cưỡng của cái chết cảm xúc trong phép thắng lợi của lý trí. Nhưng một câu thơ buộc ta phải đọc lại, tiếp nhận lại: “tan chảy lung linh giọt mình nguyên chất”. Câu thơ không phải khúc ai oán mà là lời hoan ca. Tan chảy không phân rữa, không chết đi mà lung linh phát sáng “giọt mình nguyên chất”. Là dạng thức của cái chết chậm hay tiến trình vượt thoát đi về phía vĩnh hằng khi cá nhân ý thức được sự sống đầy ý nghĩa của chính mình?
Ý thức sự sống chân chính của mình chỉ diễn ra khi cá nhân nhận diện và từ khước những giả dối, vô bổ mà vô tình hay hữu ý anh ta đã dự phần vào. “dàn thánh ca ngây ngất cần sa/ tiếng chuông thất thanh xếp đặt/ … sao không cháy rụi đi/ những cây thông trơ trơ xanh”. (Em trôi trên ngã tư Giáng sinh). Đọc Lê Anh Hoài, người đọc hẳn cùng chung cảm nhận cảm xúc thi ca được sinh ra sau những quan sát, chiêm nghiệm của một con mắt nhà báo bắt nhanh, ghi nhanh nhưng không dễ dãi, tùy tiện. Xâu chuỗi của những lát cắt nhân sinh được bắt nhanh ấy hẳn khiến chúng ta không khỏi thờ ơ. Không có mây gió trăng sao, không có chát chúa than vãn mà vẫn nhiều ngâm ngợi. Nét riêng khác trong màn trình diễn ngôn từ của Lê Anh Hoài nằm ở điểm này.
Được khởi bắt từ góc nhìn của một nhà báo nên bất cứ ai khi đọc nó cũng tìm thấy một mảnh cảm xúc của mình. Có thể cảm sâu hơn lại khác.
Những câu hỏi đa chiều
Mảnh/mảnh/mảnh có khá nhiều câu hỏi đa chiều nằm rải trong mười sáu thi phẩm. Trong thế giới rộng lớn và cuộc sống hữu hạn, tác giả hiểu rằng mình không chiếm một phần quan trọng với ai. Mình là một mảnh trong họ và họ cũng là những mảnh mà mình thu lượm được trên hành trình sống và cảm. “Tôi đã sống?/ Quả thật đã sống hàng chục năm? /... / Những gì trong đầu tôi liệu có phải là thật?” (Mảnh mảnh mảnh). Những mảnh ghép hỗn loạn đang cùng chuyển động. Mảnh/ mảnh/ mảnh giới hạn trong con số 16 mang ẩn nghĩa gì? Chạm vào những câu hỏi trong mười sáu thi phẩm, tới lượt mình, người đọc cũng đặt ra một câu hỏi như thế. Cái hiển thị cụ thể là mười sáu miếng ghép mà đằng sau nó là những góc khuất mang tới cho mỗi người những hình dung, tưởng tượng khác nhau về đời sống đương đại đang tồn tại, vận động... Sự chết ở nhiều dạng thức trong mười sáu mảnh giới hạn mở ra suy nghĩ nghiêm cẩn về sự sống và những giá trị chân chính mà con người phải trả giá, phải vật lộn mà gìn giữ nó. Nghiêm cẩn, đề cao nhưng lại được chuyển tải qua vỏ ngôn từ tưởng như không và mang nhiều sắc thái giễu nhại. Không đặt nặng, không bỏ nhẹ trong hành trình quăng mình vào cuộc sống với tất cả những tạp phẩm, hỗn độn để thấu cảm. Rồi cuộc sống tự thân nó tràn vào trong những khắc họa của ngôn từ mà tạo nên một màn trình diễn thơ đa sắc.
Không lựa chọn trải nghiệm mà quăng mình vào cuộc sống, nhập vào nó với tất cả góc cạnh hỗn tạp. Cảm nhận dịch chuyển của hỉ lộ, tiêu biến và tiếp nối. Ở góc độ này, người đọc cảm thấy ngộn lên bởi sự bừa bộn của không gian thơ. Và người ta không còn, không nên có cách nào hợp lý hơn cách thức tự do trôi dạt trong những hỗn độn, bừa bộn đó mà đạt tới mức độ tự do trong cách cảm. Một cách tự nhiên, người đọc cũng gặp mình đang vận động trong màn trình diễn đa tầng đó. Không gian thơ vì thế mà cũng mở ra theo nhiều chiều kích: “Một sớm sương dày tầm nhìn ba mét/ Một chiều gió chuyển luồn qua lục địa/ Những khuôn mặt người những cười những khóc những ôm ấp những đê mê những lạnh lùng những huỵch toẹt những rãi rớt/ Hay tôi đã chết hồi nào khi tàu điện chạy qua đầu ngõ lúc tôi mặc chiếc áo đỏ mới toanh?/ Những gì tôi ăn uống cầm nắm từ một thế giới khác đến?”. Đời sống hiển thị trong thơ Lê Anh Hoài không chỉ tới từ thực tại. “Một sớm sương dày” làm nhòe cái thực tại lý tính đang hiển thị mà lạc bước qua vách ngăn khác của thế giới siêu hình - thế giới của những sự vật, hiện tượng tồn tại vượt ra ngoài phạm vi thế giới vật chất, không thể cảm nhận bằng các giác quan thông thường, mà gắn liền với yếu tố tâm linh, tinh thần. Hiệu ứng đối lập giữa hiện thực và những giả định khiến cho thơ Lê Anh Hoài mang một sắc thái khác so với thơ ca đương đại. Cuộc trình diễn nằm trong đời sống, thuộc về đời sống vật chất bình thường nhưng được khắc rõ những vận động thoát ra khỏi những hỗn mang của đời sống tinh thần. Nó biểu thị điều gì? Những câu hỏi lúc này trở thành khúc dẫn giúp người đọc băng qua những hỗn độn, bừa bộn mà chạm tới những mảnh lấp lánh ẩn sâu. Nói như nhà thơ Mai Văn Phấn thì: “Giọng điệu trong tập thơ phong phú, lạ lùng, khiến không ít những độc giả đã quen với phong cách thơ du dương, diễm tình dị ứng gay gắt. Những câu thơ tối giản, chính xác bất ngờ xuất hiện trong bài thơ như mở ra không gian không có giới hạn, xâm chiếm mọi giác quan, cảm xúc, có lúc chạm tới cả những vùng húy kị…”.
Thi ca hiển lộ đằng sau góc nhìn của một nhà báo không ngại chạm vào những góc khuất tối mang đầy tính đối thoại nên thơ của Lê Anh Hoài vì thế cũng mang dáng dấp của những cuộc đối thoại nhiều tính giễu nhại. Cách thức này xa khác với những êm ái, du dương của thơ ca thông thường. “Lời ta nói với nhau phục trang sắc màu diêm dúa tiệc đêm/... nấp sau trò chơi/ nấp sau lòng mình/ nấp sau cười cợt thấy mình đang mất” (Trò chơi). Giễu nhại thói quen, quán tính thuộc về đám đông chứ không nhằm đả phá, chỉ trích một cá nhân nào cụ thể. Ranh giới mỏng manh giữa ẩn nghĩa và tả chân tầm thường đã được tác giả vượt qua khéo léo như thế. Không là ai cụ thể nhưng mười sáu thi phẩm buộc người đọc phải tự vấn lại chính bản thân mình. “cây đầy lá/ hồ đầy nước/ người loang loáng đi”/ đức Chúa trà lip ton gục/ đầu trên cây thánh giá khuấy ly/ bằng nhựa/ tòa giáo đường bảng/ menu” (loang loáng). Nhấn vào những hình ảnh loang loáng trôi với chủ đích không định lưu bám ví những chuyển động của sự trượt trôi nhòe nét, nhanh và không rõ ràng. Nói Mảnh/ mảnh/ mảnh là tập thơ ký sự sắc bén với đậm chất giễu nhại thì không hoàn toàn đúng. Vậy, đích tới của Mảnh/ mảnh/ mảnh là gì? “có hàng ngàn người đã gặp tôi, còn lưu lại/ những mảnh của tôi trong ký ức họ?/ Thỉnh thoảng tôi gặp một trong số họ, những người lưu - mảnh - tôi”. Trở lại với thi phẩm được lấy làm tiêu đề chính cho toàn tập, người đọc chạm khẽ được tới câu trả lời. Những vụn vỡ không phân rã mà nó thành những miếng mảnh soi cắt qua lại khiến mình nhận ra mình trong số những người đã gặp và ngược lại. Mảnh miếng đó còn chuyển tải một tâm sự khác: “Tôi ngồi đây nghĩ những chữ viết ra hàng ngày/ như châu chấu như cào cào như chuồn chuồn bay lơ lửng”. Người chuyển động hỗn loạn là người tồn tại trong trạng thái của một người điên. Ngôn ngữ chuyển động hỗn loạn thì nó tồn tại trong trạng thái của sự vô nghĩa. Nhưng, khi cá nhân ý thức được sự vô nghĩa này thì anh ta đã đưa được mình vượt ra khỏi lằn ranh mong manh đó. Thơ Lê Anh Hoài không chỉ dẫn tới thiên đường. Thơ Lê Anh Hoài chỉ ra trực diện những vô nghĩa tầm thường mà con người đang đặt mình vào: “Nhân vật của tôi chiếm chỗ não thùy sống cùng tôi mưu sinh toan tính kết bạn làm tình” (Mảnh mảnh mảnh).
Chuyển động hỗn mang của đời sống chính là một trò chơi mà không có ai là người quản trò. Ai ai cũng ra sức diễn tích trò mà mình cho là thích hợp. “lời ta nói với nhau phục trang sắc màu diêm dúa tiệc đêm /.../ ánh mắt ta nhìn nhau làm xiếc trên dây/ nín thở thót tim đứt dây thần kinh mặt cười bình thản” (Trò chơi). Không có quản trò nhưng có những người chơi nhận ra cuộc chơi vô nghĩa và chỉ mặt, đặt tên nó. Ở góc độ này, thơ Lê Anh Hoài là lời cảnh nhắc về những hỗn mang đang bào mòn đời sống, làm tiêu biến những giá trị mà phải nỗ lực lắm con người mới gìn giữ và làm sáng nó. Những nấp trốn chỉ khiến mình nhận ra rõ hơn những tiêu biến đó: “nấp sau trò chơi/ nấp sau lòng mình/ nấp sau cười cợt thấy mình đang mất” (Trò chơi). Tới đây người đọc rõ ý trong mười sáu khúc mảnh đề cập tới khá nhiều dạng thức của cái chết. Cái chết của thể xác dần phân rữa, lại rõ hơn những động cựa để sống của tinh thần. Giá trị của sự sống đằng sau những hỗn mang phân rữa chính là điểm mà thơ Lê Anh Hoài chinh phục người đọc dù tân hình thức và những giễu nhại trực diện ban đầu có thể gây ra lạ lẫm và thiếu thiện cảm.
Không ngừng xác lập giá trị
Như đã phân tích, đề tài trong thơ Lê Anh Hoài chính là những trải nghiệm, suy ngẫm trong hành trình của một cá nhân quăng mình vào đời sống. Ở đây, người sáng tác không né tránh những va chạm, không nấp trốn sau tháp ngà nghệ thuật hay những ru êm về ảo ảnh của một kiếp khác. Chính bản thân cuộc sống với tất cả sự vận động hỗn mang tràn vào cuộc trình diễn của ngôn từ. Cuộc đại trình diễn với nhiều sắc màu ấy mang trong nó nhu cầu của đời sống tinh thần mà càng về cuối tập nó càng hiển lộ rõ ràng. “một giấc mơ vườn cây giữa sa mạc/ của những con đường nhựa/ một giấc mơ nụ hôn/ giữa tiếng rú gầm của những động cơ? /…/ tôi - em bội thực nhau/ những nhu cầu vẫn đổi thay như kim đồng hồ lắc rắc” (Nhu cầu). Vòng thời gian không ngừng trôi, những nhu cầu liên tục sinh ra và không ngừng thay khác. Không nói ác, không nói thiện, chỉ đơn giản là những vận động thay khác đang diễn ra từng phút giây. “Kim đồng hồ lắc rắc” lại khiến người đọc liên tưởng tới những cơn mưa nhỏ, những cơn mưa vừa đủ để ẩm áo, để mát cây và mang tới những hy vọng mới.
Với Mảnh/ mảnh/ mảnh, tác giả dẫn người đọc tới một cuộc trình diễn ngôn từ mà mỗi xếp đặt ngẫu hứng một cách đầy chủ ý. Ngay sau cơn mưa nhỏ được sinh ra bởi liên tưởng của chính người đọc qua khắc họa “kim đồng hồ lắc rắc” thì trang sách lật giở sang một “ký sự ngày mưa” mà ở đó chứa nhiều tâm trạng. “Ngày mưa/ tôi bị giam cầm trong những hồi ức về em/ em vội vã bỏ về /.../ tôi và em đều muốn say/ rượu không giúp được gì /.../ ngày mưa/ tôi đợi tạnh mưa và lời nguyền được giải/ đó là lúc tôi của ngày hôm nay chết/ em bỏ về trong mưa”. (Ký sự ngày mưa). Là ký sự một ngày mưa nhưng không phải ngày mưa của đời sống vật chất mà là ngày mưa của đời sống tinh thần. Cái ngày mưa mà hai con người nghe tiếng vỡ cô đơn trong mình rồi bỏ về. Cái ngày mà “tôi của ngày hôm nay chết”. Ờ. Thì chết đi! Có sự gì sinh ra đâu mà phải suy nghĩ lại? Người đọc vuột ra câu hỏi đối thoại lại như thế.
Câu thoại được sinh ra nhưng người đọc chưa buông quyển sách xuống mà chuyển sang vách ngăn nơi cảm xúc mong manh trở nên có lý và gửi gắm nhiều tâm sự. “Người đàn ông lạnh lùng/ đang khóc/ người đàn bà cuống quýt/ chăm sóc anh ta bằng tình yêu của/ giống cái /…/ người đàn ông khóc/ vì cuộc đời quá ngắn mà khao khát/ quá dài/ vì đời là những lối mòn/ dẫn đến những mê cung”. (Khóc). Giá trị nào được thiết lập ở đây? Có là tham lam khi cá nhân mong muốn sự hòa hợp giữa đời sống thể xác và tinh thần? Những câu hỏi tạo không gian cho người đọc dự phần, cùng cảm, cùng tự đúc rút. Nó không bắt buộc đóng khung trong cách tiếp nhận nào. Phải chăng đó là cách thức mà một nghệ sĩ trình diễn, sắp đặt hướng tới? Họ ban đầu không chú tâm tới sự ủng hộ hay đồng tình của đám đông. Đơn giản là họ đang bị thôi thúc bởi các ý tưởng nghệ thuật mà ẩn sau nó là đa tầng thông điệp và tùy vào sự thâm nhập mà người đọc có thể bắt được khía cạnh nào?
Vậy là bạn đã tự mình đi qua mười lăm mảng miếng được xếp đặt có chủ đích mà chạm tới vách ngăn thứ mười sáu, nơi ẩn nghĩa của cả tập thơ được đúc rút, thâu tóm lại. “Hỗn loạn/ Khát/ Ước mơ/ Rác/ Đảo điên/ Đen/ Trắng/ Vĩnh hằng, chói lóa/ Tù, ngột ngạt/ Hố/ Cánh bướm bay/ Đồng tiền lạnh/ Họng súng/ Điên/ Tao/ Mày/ Thế kỷ” (Loanh quanh). Quăng mình vào cuộc sống, chuyển động trong mớ hỗn loạn với các trạng huống khác nhau và không ngừng khao khát, không ngừng ước mơ. Đối thoại trước tiên nhắm tới chính mình rồi mới hướng ra ngoài. Từ cái “tao” rồi tới cái “mày” chính là hành trình tri nhận và kiếm tìm giá trị của cuộc sống. Đối thoại tới đây vượt ra khỏi hạn định hạn hẹp của cá nhân với cá nhân mà là lời đối thoại của thế kỷ. Chừng nào con người còn sống thì những đối thoại hòng tri nhận chính mình còn vang lên.
“Những hình ảnh trong tập thơ Mảnh/ mảnh/ mảnh thường chuyển động nhanh, gấp khúc, đôi lúc thoáng qua như cố tình không muốn cho người khác nhìn thấy đường đi và đích đến của nó, gây hoang mang và cả khó chịu cho những ai chỉ quen với quan điểm thẩm mỹ cũ, cách đọc cũ. Tập thơ Mảnh/ mảnh/ mảnh phần lớn viết về sự phân rã, tàn lụi, những cảnh tượng tha hóa, suy đồi phơi ra trước mắt bạn đọc như tự cất tiếng gào gọi, kêu cứu. Nhưng trong những câu thơ như đưa người đọc vào đường hầm tối tăm ấy vẫn bật sáng những hình ảnh lạ lùng, dù chỉ mơ hồ” (Mai Văn Phấn).
Có một liên tưởng khác
Khép lại tập thơ, người viết bài lại thấy cảm nhận của mình neo bám sang một liên tưởng khác. Đó là mười sáu thi phẩm như mười sáu mảnh tạo thành một tập truyện ngắn không có cốt truyện. Sự kết nối có tính liên tục về những cảm nhận và suy tư của nhà thơ về đời sống. Nó tập trung suy tưởng vào tấn bi kịch nằm ngay trong hạnh phúc. Đằng sau lớp mặt nạ của hạnh phúc là bi kịch khi tấm vải liệm được vén lên và những lát cắt của cuộc sống bị phơi bày. Con người trong thơ Lê Anh Hoài dự phần vào cuộc sống, vào những cuộc chơi không có quản trò. Thảm kịch thay khi đích tới của những cuộc vui chơi là các dạng thức của cái chết. Nhưng, cái chết đó sớm bị lãng quên nếu nó không có năng lực nhận ra sự “tan chảy lung linh giọt mình nguyên chất”. Đây cũng chính là giá trị được thiết lập trong Mảnh/ mảnh/ mảnh. “Giọt mình nguyên chất còn lại sau hành trình dấn thân và tan chảy khiến người đọc liên tưởng tới ý nghĩa của câu nói “Chỉ có trẻ thơ mới vào được Nước Trời”. Chỉ vào được Nước Trời những ai có tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn, trong sạch, và có lòng tin tưởng, phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, giống như cách trẻ thơ tin tưởng và dựa vào cha mẹ. Nó nhấn mạnh sự cần thiết phải từ bỏ sự kiêu ngạo, tự phụ của người lớn để trở nên bé nhỏ, không có ảo tưởng về sức mạnh của bản thân. Nhưng, niềm tin vào đấng siêu nhiên lại mang ý giễu nhại trong Mảnh/ mảnh/ mảnh. Vậy, con người có thể tin vào điều gì? Vào nỗ lực tự thân hòng tụ lại “giọt mình nguyên chất” sau những tan chảy. Trong Từ điển Biểu tượng Văn hóa Thế giới, cái chết là biểu tượng cho sự kết thúc tuyệt đối của một điều gì đó tích cực (con người, vật, thời đại), là bước ngoặt, khởi đầu cho sự tái sinh, đồng thời là nguồn gốc của thần thoại, tín ngưỡng về thế giới bên kia, tang lễ và nghi thức xua đuổi hoặc tôn vinh người đã khuất. Nó cũng đại diện cho sự mất mát, sự suy tàn và sự hữu hạn của cuộc sống. Các dạng thức của cái chết trong Mảnh / mảnh / mảnh được chủ diễn đạt theo ý: Cái chết là sự mất đi, là mặt có thể bị hủy hoại của sự sống, gắn liền với hệ tượng trưng về sự suy tàn của xã hội và sự hữu hạn của vật chất. Mảnh/ mảnh/ mảnh vì thế nói nhiều tới các dạng thức của cái chết, của những rạn vỡ nhưng lại gửi đi thông điệp sâu sắc nhất vào niềm tin về sức mạnh của những giá trị chân chính.
Mảnh/ mảnh/ mảnh thực sự xác lập cuộc trình diễn, sắp đặt ngôn từ độc đáo. Nhà thơ Lê Anh Hoài chia sẻ, khi làm tập thơ đa ngữ này, anh nhằm tới một cách đặt vấn đề về thiểu số và đa số, về trung tâm và ngoại vi, về quan niệm thành công hay thất bại và thậm chí cả về thói xu thời và sự bình thản văn hóa. Khái niệm “bình thản văn hóa” được hiểu là sự tự chủ nội tại, không bị cuốn theo những giá trị được cho là văn minh với đại diện là những trung tâm của thế giới. Đây cũng là điều mà tâm thức hậu hiện đại hướng đến. Nó không hướng tới trung tâm, không lệ thuộc thậm chí chối bỏ những giá trị bị gán cho thành Độc Tôn.
Người trẻ trong thời điểm hiện tại đang hướng tới khái niệm công dân toàn cầu với sự hội nhập văn hóa. Tiến trình hội nhập không vì thế mà bỏ đi những giá trị văn hóa của cộng đồng nhỏ hoặc của một vùng đất ít người biết đến. Xét ở góc độ này, thơ ca Lê Anh Hoài trong tổng thể nội dung và nghệ thuật xác lập một dấu ấn thực sự riêng khác.
Tập thơ mở lối đi độc đáo của tư duy nghệ thuật trong bối cảnh đa số người sáng tác luôn mong muốn phổ biến tác phẩm của mình được dịch ra những ngôn ngữ thông dụng của thế giới như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Tây Ban Nha. Cuộc chơi của Lê Anh Hoài đi theo hướng ngược lại. Trong cuộc chơi với những con chữ, tác giả cũng đặt ra câu hỏi: Tại sao lại phải hướng về trung tâm như vậy? Và việc hướng tới cái trung tâm có thực sự giúp tác phẩm trở nên phổ biến không? Việc dùng ngôn ngữ của thiểu số, của các tộc người đặt ra một thách thức buộc bạn đọc phải suy nghĩ: Ngôn ngữ ít người nói có kém ngôn ngữ một tỷ người sử dụng hay không? Câu hỏi mang trong nó câu trả lời khi tác giả hoàn toàn tin vào sự đa dạng và tế vi của ngôn ngữ, vào những lôi cuốn âm thanh nhịp điệu của ngữ âm khi thơ ca của mình được vang lên trong giọng điệu ngôn ngữ của các tộc người khác. Sau những băn khoăn, Mảnh/ mảnh/ mảnh đã vang lên trong sự cởi mở của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số khác. Khó tính và nghiêm cẩn trong nghệ thuật sắp đặt nên các phần các mục trong cuốn sách đều được tác giả cố gắng hướng đến sự bình đẳng của năm ngôn ngữ có mặt trong tập sách. Cuộc chơi hậu hiện đại có tính chất ý niệm thực sự đã chinh phục được người đọc!
N.H.N
(TCSH445/03-2026)