Tác giả-tác phẩm
Khi người đàn bà làm chủ nỗi đau chính mình
10:08 | 31/03/2026

HOÀNG THỤY ANH

Thuở chân ướt chân ráo chuyển từ trường trung học về Tạp chí Nhật Lệ, giữa bao bỡ ngỡ nghề nghiệp, Nguyễn Hương Duyên là một trong những người luôn nhiệt thành dìu dắt tôi.

Khi người đàn bà làm chủ nỗi đau chính mình

Chị tỉ mỉ chỉ bảo từng chi tiết nhỏ, từ kỹ năng đọc morat đến những thao tác biên tập đòi hỏi sự cẩn trọng, nhẫn nại. Mối thâm tình đồng nghiệp cứ thế bồi đắp, trở nên khăng khít và tin cậy, nhất là những khoảnh khắc cùng đắm đuối trong các cuộc luận bàn văn chương. Vốn tính ít nói, sống kín đáo, chị hiếm khi phô diễn bản thân. Chị lựa chọn vị trí người quan sát điềm tĩnh, chậm rãi ghi chép và nâng niu từng rung động khẽ khàng của nhân vật, cảnh ngộ. Lối sống hướng nội này đã đúc kết thế giới nghệ thuật cô nén, đầy ắp suy tư. Chữ nghĩa của chị nhờ vậy có độ sâu, ám ảnh và đi xa trong lòng độc giả.

Ngay từ truyện ngắn đầu tay Bến đợi nhọc nhằn (2006), sáng tác khi mới ngoài hai mươi tuổi, Nguyễn Hương Duyên đã xuất hiện với giọng văn mềm mại, tinh tế, thiên về khai thác những chuyển động giằng xé trong đời sống nội tâm. Ngòi bút của chị hướng vào thế giới những chịu đựng sầu muộn cùng nỗi day dứt khó gọi tên của người phụ nữ trước các ngã rẽ thân phận. Bốn tập truyện Bến đợi nhọc nhằn (2006), Ở giữa những người đàn ông (2015), Hai chị em (2020), Viết tặng anh từ căn bếp này (2020) có thể xem như bốn lát cắt liên tiếp dò tìm những uẩn khúc trong tình yêu lẫn đời sống gia đình. Những câu chuyện chị viết rất chân thực, người đọc có cảm giác đã từng bắt gặp đâu đó quanh mình. Chị hướng điểm nhìn vào kẽ hở hoài nghi cùng sự đổi thay của cảm xúc, khước từ việc giải quyết xung đột bề nổi, nhằm phát tín hiệu về sự mong manh của những giá trị vốn được mặc định là vĩnh cửu.

Tập truyện Lập lòe kính lúp (Nxb. Hội Nhà văn, quý IV/2025) có thể xem là dấu mốc quan trọng, xác lập sự đổi khác rất bản lĩnh trong cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Hương Duyên. Vẫn trung thành với trục đề tài về đời sống riêng tư, hôn nhân và những đứt gãy tình cảm, tuy nhiên các nhân vật ở tập truyện này đã thoát khỏi phạm vi bi kịch cá nhân để nhập vào dòng chảy thời đại đầy nhiễu động.

1. Sức hấp dụ của tập Lập lòe kính lúp nằm ở khả năng giải phẫu tâm lý phụ nữ sau những đổ vỡ sắc lạnh mà đong đầy thấu cảm. Chị không xây dựng hình tượng phụ nữ như những nạn nhân thụ động hay đành lòng cam chịu số phận. Người phụ nữ dù đối mặt với sự phản bội hay nghịch cảnh tréo ngoe vẫn luôn giữ vững sự kiêu hãnh và lòng tự trọng. Họ dám đối diện trực tiếp với nỗi đau, dám lựa chọn sự chia ly để giải thoát chứ nhất quyết không ôm ấp thứ hạnh phúc đèm đẹp giả tạo. Như một sự xác quyết về quyền tự quyết, chị viết: “Đàn bà, một khi lòng tự trọng đã bị tổn thương, một khi biết mình không được coi trọng như mình hằng nghĩ, thì họ nguội lạnh nhanh lắm, lạnh như những cơn gió mùa đông bắc thổi tràn qua biển, buốt và hững hờ.” (Đàn bà thiết tha). Tác phẩm của chị do đó tránh được lối mòn của dòng văn chương nạn nhân, của lối viết nước mắt ủy mị. Chính sức mạnh nội tại và quyền tự quyết của nhân vật đã kiến lập căn cước, giá trị nhân bản cho các truyện của chị.

Ngân trong truyện Lập lòe kính lúp là kiểu nhân vật hiện thân cho sức mạnh của sự nhẫn nại và lòng tự trọng. Đối diện với cơn bão nghi ngờ và sự chiếm hữu cực đoan của Vũ, Ngân không chất vấn tranh cãi ồn ào cũng không lụy tình, mềm yếu, nhu nhược như chúng ta thường thấy ở một số nhân vật nữ. Ngân làm chủ nỗi đau bằng thái độ điềm tĩnh, bằng sự im lặng đầy quyền uy, bằng trạng thái “lạnh băng và trống rỗng” khiến Vũ phải tự soi xét lại sự nhỏ nhen, ích kỷ và giả dối của chính mình.

Bước ra từ nỗi đau góa bụa khi tuổi xuân chưa chạm ngưỡng ba mươi, chị Ni trong Đàn bà thiết tha đã gây dựng xưởng bánh và quán nhỏ, dùng sức lao động làm điểm tựa để bảo vệ tổ ấm trước những lời gạ gẫm hay thái độ khiếm nhã của khách. Sự kiêu hãnh của Ni nằm ở chỗ chị không cho phép mình trượt dài trong sự thương hại hay mong chờ sự bù đắp. Chị tự đứng vững, tự đặt ranh giới cho cuộc sống của mình, tự trở thành bến đỗ cho chính mình. Khi không còn mong cầu sự cứu rỗi từ phía bên kia của những lời hứa hẹn, con người ta bỗng thấy mình vững chãi. Chị nhận ra, bến đỗ bình yên nhất không phải là một bờ vai, mà là cảm giác được làm chủ chính nỗi buồn của mình. Can đảm đối diện với tổn thương cũng là con đường dẫn đến sự tự do tuyệt đối. Lòng thiết tha với cuộc đời giúp chị vượt qua nỗi trống vắng, rũ bỏ mọi u sầu trong chờ đợi hay hy vọng vào sự cứu rỗi từ bên ngoài.

Lối viết sắc sảo của Nguyễn Hương Duyên còn thể hiện ở việc đặt nhân vật vào những tình huống đạo đức khó né tránh, buộc họ đối diện với phần mong manh nhất trong tâm hồn. Ở Lập lòe kính lúp, truyện ngắn cùng tên với nhan đề tập truyện, Hà là người bước vào mối quan hệ với vị thế “người thứ ba”. Hà xuất hiện đã làm lệch trục mô típ đối đầu quen thuộc giữa chính thất và tình địch. Hà nhắn tin, hẹn gặp Ngân, bước thẳng vào cuộc đối thoại vốn thường bị né tránh. Những lời Hà nói ra không vòng vo, không biện minh. Hà ý thức về tổn thương mình đã gây nên và nỗ lực giữ lại phần lương thiện cuối cùng trong mối quan hệ tay ba. Hà cho Ngân thấy những lung lay, đứt đoạn trong đời sống hôn nhân và sự hy sinh của Vũ nơi biên cương. Bởi vậy, cuộc gặp giữa hai người không trượt về phía đối đầu thù địch mà dừng lại ở sự lắng nghe, thấu cảm. Họ cùng nhau nhìn thẳng vào đổ vỡ, tự chữa lành bằng lòng bao dung, vị tha. Giữa hai người đàn bà đau khổ, ranh giới thù địch bỗng trở nên vô nghĩa trước nỗi đau chung về sự hữu hạn của lòng tin. Câu chuyện khép lại trong nước mắt, thứ nước mắt làm dịu nỗi căng thẳng, có khoảng trống đủ tĩnh cho sự tự vấn và chiêm nghiệm.

Nguyễn Hương Duyên còn tiếp cận đa diện về hậu chiến dưới góc nhìn đời tư và nữ giới. Chị đi sâu vào những dư chấn, những nỗi đau ly tán kéo dài nửa thế kỷ và cả những sự thật từng bị thời gian che lấp. Chim bay về tổ kể câu chuyện chiến tranh thông qua thân phận thất lạc của những đứa con và cuộc đoàn tụ muộn màng nhờ xét nghiệm ADN. Văn phong truyện mộc mạc, có khí chất người miền Trung. Chị thắt nút xung đột trong sự im lặng kéo dài, rồi tháo gỡ bằng thái độ điềm đạm, khoan dung. Nhân vật ông Hưng hiện lên với những nét tính cách đời thường, có ghen tuông vụn vặt, có tổn thương âm ỉ, nhưng đằng sau là sự cảm thông của một người lính từng đi qua lằn ranh sinh tử. Chi tiết con lai được xử lý chừng mực, gắn với mảnh vỡ lịch sử, tránh cảm giác khiên cưỡng. Truyện đặt ra thông điệp, hòa bình chỉ thực sự trọn vẹn khi con người đủ can đảm đối diện vết sẹo của chính mình và biết thông cảm với nỗi đau của người khác.

2. Nguyễn Hương Duyên có cách thiết lập không gian và kiến tạo hệ thống hình ảnh như những tín hiệu biểu đạt tâm lý phức tạp. Mọi biến động nội tâm đều tìm thấy sự đồng điệu trong ánh sáng, gió núi và những vật dụng quen thuộc. Chiếc điện thoại, căn nhà gỗ miền biên viễn hay một bếp lửa âm ỉ,… như mang vác nỗi buồn, thay nhân vật nói lên điều khó giãi bày. Nhờ vậy, thế giới nội tâm của nhân vật thêm phần kín đáo, có độ sâu, gợi nỗi niềm u uất nhưng giữ được sự chừng mực, không có cảm giác bi lụy hay than vãn.

Biểu tượng kính lúp đỏ nhấp nháy từ thông báo Zalo trong Lập lòe kính lúp đóng vai trò là ngòi nổ cho chuỗi hành vi và phản ứng tâm lý của nhân vật. Có âm báo Zalo nhưng nội dung bị che khuất. Khoảng trống thông tin ấy lập tức bị Vũ lấp đầy bằng nỗi nghi ngờ. Chiếc kính lúp đỏ đã làm hiện hình vết rạn đã tồn tại và kéo dài trong đời sống của hai vợ chồng bấy lâu nay. Phản ứng hoảng loạn của Vũ trước “cuộc trò chuyện bí mật” của Ngân thực chất phản chiếu ngược những trải nghiệm che giấu mà anh từng thực hiện với Hà. Chiếc kính lúp lúc này không còn chức năng hé lộ bí mật của người vợ mà trở thành vật phóng đại nỗi bất an, sự tự nghi hoặc và tâm thế phòng vệ của người chồng. Vũ tự đẩy mình trượt vào vòng xoáy ngờ vực và phản ứng trả đũa sai lầm, làm khoảng cách giữa hai người ngày một cách xa.

Thiên nhiên trong thế giới của Nguyễn Hương Duyên đồng hiện cùng nhân vật như một thực thể có tâm hồn. Từ cái lạnh “biên giới ra giêng” đến tiếng gió “lào khào vỡ vụn” thốc vào vách gỗ, tất cả đều mang hơi thở của một cuộc tình đứng bên bờ vực thẳm. Nhưng cũng chính thiên nhiên dự báo về sự hàn gắn qua hình ảnh “hoa rừng hớn hở trải thảm” dưới nắng mai. Vạn vật chuyển mình nhịp nhàng theo từng bước đi của cảm xúc, đưa không gian miền biên viễn hòa vào hành trình quay lại của những tâm hồn sau bao ngày lạc nhau.

Hình ảnh bếp lửa lặp lại trong truyện của Nguyễn Hương Duyên chứa đựng biểu tượng hàn gắn, nâng đỡ đời sống tinh thần nhân vật. Đó là điểm kết nối của hơi ấm, của sự quây quần và của nhu cầu tự giữ mình trước những thời khắc con người chạm đến tột cùng chịu đựng. Ngọn lửa “le lói bám vào thanh củi khô” trong Chuông gió lanh canh hay bếp lửa đỏ lừ giữa mưa xuân đêm giao thừa trong Tí tách mưa xuân gợi không gian ấm áp, tươi vui. Chi tiết già Đinh Hiêng khẽ khàng chêm củi cho lửa bùng lên cuối truyện Lập lòe kính lúp là hành động mang tính nghi lễ, đánh dấu sự hồi sinh của lòng tin và lòng trắc ẩn. Thiên nhiên và những đồ vật đời thường đã tham dự vào văn bản như những chủ thể hỗ trợ người phụ nữ trên con đường tìm lại sự cân bằng. Trước ngọn lửa ấm áp, những ẩn ức dần lùi xuống, nỗi đau được sưởi ấm để nhân vật tự chữa lành và tiến về phía lòng từ. 

Nguyễn Hương Duyên thường đi đến tận cùng nỗi buồn để con người nhận diện những giới hạn chịu đựng của bản thân. Ở điểm chót của nỗi đau, khả năng chấp nhận và bao dung mới nảy sinh. Trong Đàn bà thiết tha, mưa tạt vào mái hiên quán nhỏ, hơi nước li ti và mùi bánh bốc lên từ nồi hấp sôi “lục sục” làm đặc quánh nỗi cô đơn và sự nhẫn nại của người đàn bà góa giữa những buổi chiều buồn. Sang Kể chuyện Y May, nắng chiều “vàng úa”, đọt ngô “héo rũ”, con suối “cạn trơ đáy” như cụ thể sự bế tắc và tuyệt vọng của người mẹ trẻ liên tục mất con giữa miền núi khô hạn. Ở đây, chị đã tương quan hóa số phận con người với chuyển động của đất trời để tạo lối viết giàu tính hiện thực và thấm đẫm suy tư về sự tồn tại. Nhân vật hòa mình vào nắng mưa, nếm trải mọi vị mặn chát của cuộc đời để rồi từ những tổn thương đó, họ tìm thấy sức mạnh tự đứng dậy và tiến về phía trước.

Lập lòe kính lúp cho thấy độ chín trong cách nhìn đời sống của Nguyễn Hương Duyên, nhất là đời sống tinh thần con người trước nhiễu động của xã hội và dư chấn chưa khép lại của chiến tranh. Đặt trọng tâm vào tâm lý, sự im lặng và các khoảng trống cảm xúc, chị nhận diện, gọi tên được thương tổn đang tồn tại trong mỗi phận số. Điểm đáng ghi nhận trong tập truyện là khả năng kết nối câu chuyện riêng tư vào mạch văn hóa bằng lối kể tiết chế để nhân vật hiện lên với sự phức tạp rất đời. Văn xuôi chị tinh tường trong phân tích tâm lý, điềm tĩnh trong giọng kể nhưng vẫn giữ được độ ấm nóng của lòng trắc ẩn. Tập truyện đã góp thêm một tiếng nói cho văn xuôi Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong giai đoạn mạch truyện viết về đời sống quân nhân và hậu chiến đang cần những cách tiếp cận đa chiều, thấu thị hơn.

H.T.A
(TCSH445/03-2026)

 

 

Các bài đã đăng