Bút ký dự thi 2026
Hẹn với Bình Điền
08:50 | 31/03/2026

NGUYỄN KHOA DIỆU HÀ

1.
Bình Điền, hai tiếng ấy thôi, cách đây 50 năm, với nhiều người là lạ lẫm, là nơi rừng thiêng nước độc.

Hẹn với Bình Điền

Bây giờ mà nói điều ấy, mọi người sẽ trố mắt ngạc nhiên, sao cách trung tâm thành phố 20km mà lại nghĩ Bình Điền là vùng rừng núi? Nhưng quả thật đã có một thời như vậy. Những năm sau ngày đất nước thống nhất, các bác lớn tuổi ở xóm tôi, trong câu chuyện bên bàn nước về di dân, về khoai, sắn, nhà cửa, vườn tược, thì Bình Điền luôn gắn liền với cụm từ “kinh tế mới Bình Điền”. Hình ảnh những sắn, than, củi, bột lọc, mây, tre, chổi đót xuất xứ từ Bình Điền hồi ấy đã định hình trong nhiều người, rằng Bình Điền là vùng rừng núi xa lơ xa lắc.

Huế, trong trí nhớ của thế hệ 6x đời cuối như tôi, những năm 1975 - 1976, dân cư thưa thớt và nhịp sống cũng còn chậm nên Bình Điền hẳn là nơi xa lắm. Những người lớn kể rằng, muốn đi Bình Điền, một là đi đường thủy, theo sông Hương ngược lên hướng ngã ba Tuần, rồi ngược lên nữa. Càng đi về phía thượng nguồn, dòng sông càng nhỏ và hẹp lại với nhiều ghềnh đá; hai là đi bằng đường bộ, đường đất đá, đã nhỏ hẹp lại lắm ổ voi ổ gà, xe đò chạy xóc muốn nhảy đựng. Việc đi lại khó khăn nên Bình Điền thành ra xa xôi, cách biệt và nhiều người đã lầm tưởng Bình Điền là nơi núi cao, non sâu.

Bình Điền là vùng gò đồi ở phía Tây Bắc thành phố Huế và là một trong những địa chỉ trong kế hoạch thực hiện di dân đi khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới của tỉnh Bình Trị Thiên đợt đầu tiên vào cuối năm 1975 - đầu năm 1976. Những cái tên A Lưới, Nam Đông, Bình Điền - Khe Điêng; Ồ Ồ - Hòa Mỹ, Huỳnh Trúc, Khe Thai, Trò, Trái, Đồng Chầm, Lương Miêu... quả thật vô cùng xa lạ với dân thành phố cũng như dân ở các huyện Hương Trà, Phong Điền, Quảng Điền, là những địa phương có dân đi xây dựng vùng kinh tế mới đợt 1 ấy. Bình Điền là địa chỉ xây dựng vùng kinh tế mới của cư dân thành phố Huế và huyện Hương Trà.

Năm mươi năm đã trôi qua, bây giờ đoạn đường 20km từ trung tâm thành phố lên Bình Điền là cuộc đi thư thả trên đường quốc lộ 49 trải thảm nhựa. Xe êm ru men theo bờ sông Hương, đi qua những ngôi làng mênh mông bờ bãi, xanh non ruộng vườn. Bình Điền khởi sắc dần theo những cây cầu lần lượt được xây dựng: cầu Tuần, cầu Bình Thành, cầu Bình Điền. Đôi bờ cách trở đã được nối lại gần, tên những cây cầu nở trên môi cười của người dân Bình Điền khi chỉ đường cho ai đó về thăm quê hương mình. Không còn quan ngại xa xôi, chỉ cần 30 phút cho xe ô tô và 50 phút cho xe máy thì Bình Điền đã hiện ra trước mắt.

Bình Điền trong tôi, những lần đi làm phóng sự về cây cao su, cây tràm, cũng có khi là điểm hẹn dừng chân ăn sáng trên đường đi A Lưới. Những xa xôi, là vùng “rừng núi” trong nhận thức của cô bé 9, 10 tuổi năm nào nghe lỏm chuyện của người lớn, trôi đi lúc nào không biết, có lúc tự hỏi và tự cười: “Bình Điền hiền hòa và gần Huế thế này sao ngày xưa mình nghe cứ thấy sợ và đầy nguy hiểm như thế không biết!”. Cái “ngày xưa” của tôi ấy, đến nay cũng đã 50 năm.

Tròn nửa thế kỷ, Huế bây giờ đã là thành phố trực thuộc Trung ương với nhiều đổi thay, phát triển mạnh mẽ toàn diện, Bình Điền - vùng gò đồi ở ngay cạnh trung tâm thành phố - cũng ở trong dòng chảy ấy, đặc biệt là sau những mốc thời gian đáng nhớ: Ngày 15 tháng 11 năm 2011, huyện Hương Trà trở thành thị xã Hương Trà (Bình Điền là xã). Từ ngày 1/7/2025, các xã Hương Bình (tên xã mới, sáp nhập ngày 1/1/2020 từ Bình Điền và Hồng Tiến), Bình Thành và Bình Tiến thực hiện sáp nhập thành xã Bình Điền. Cái tên Bình Điền quen thuộc đã trở lại - ký ức Bình Điền 50 năm và nhiều hơn thế nữa, lại được viết tiếp như dòng sông nước vẫn mãi chảy xuôi về biển khơi xa.  

Bình Điền ngày mới, từ sau ngày 1/7/2025, quy mô rộng hơn rất nhiều so với Bình Điền của những năm trước đó. Tổng diện tích 266,5 km2, dân số 15.200 người, kết cấu 22 thôn (trong đó có 6 thôn là người đồng bào dân tộc thiểu số).

Hai chuyến tham gia trại sáng tác văn học nghệ thuật ở Bình Điền năm 2024 và 2025 đã cho tôi hiểu nhiều hơn về những gian khó, mồ hôi và nước mắt đã thấm vào đất và người Bình Điền. Năm mươi năm, đâu dễ phôi phai. Đất này không quên và người càng không thể nào quên những ngày đầu đi xây dựng quê hương mới ở Bình Điền.

2.

Trong lòng người, Bình Điền là bài ca nhớ thương một thời gian khổ của buổi đầu đi xây dựng vùng kinh tế mới. “Tới đây xứ sở lạ lùng/ Con chim kêu em cũng sợ, con cá vẫy vùng em cũng kinh” (Ca dao). Đất Bình Điền không “dữ” như đất khẩn hoang phương Nam nhưng chính sự xa xôi, “lạnh lùng” chiến sự của những địa danh Suối Máu, Khe Điêng, Động Tranh làm lòng người vừa nhớ quê cũ, vừa hoang mang, lo lắng, mà điều lo lắng nhất là đói. Nhà nước hỗ trợ sáu tháng lương thực, ăn hết mà chưa tới mùa thu hoạch sắn, khoai thì biết làm sao?

Người anh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thế, đã đến Bình Điền trong những ngày đầu xây dựng kinh tế mới Bình Điền với vai trò là thành viên “Ban khai hoang và xây dựng kinh tế mới huyện Hương Điền”, kể rằng, lúc ấy, nơi đây là vùng đất hoang hóa, bạt ngàn cỏ tranh, cây bụi, dây leo chằng chịt. Có hai đợt di dân lên vùng kinh tế mới Bình Điền, đợt 1 là cuối năm 1975 với gần 200 hộ dân ở hai xã Hương Phong, Hương Vinh lên vùng Khe Điêng. Đợt 2 là vào năm 1976 với 970 hộ ở thành phố Huế lên tụ cư ở Lương Miêu và Bình Điền. Hàng ngàn ha đất đã được rà phá bom mìn và khai hoang phát, đốt cây bụi, rồi chia đất theo từng lô, phân cho bà con. “Có gia đình tháo dỡ nhà cửa ở quê mang đến dựng lại ở vùng đất mới và nhanh chóng ổn định được nơi ăn chốn ở, nhưng phần lớn bà con chỉ mang theo các vật dụng cần thiết phục vụ cho đời sống, nhà cửa phải làm mới. Các địa phương đã điều động lao động đi theo để hỗ trợ việc xây dựng nhà cửa cho bà con nơi vùng quê mới. Họ đã cùng với chủ nhà vào rừng khai thác gỗ, nứa, tranh, mây… để dựng nhà, cố gắng hoàn thiện cơ bản khung nhà và mái lợp để che được mưa nắng rồi sau đó mới làm dần tấm vách bằng phên tre, cửa nẻo. Nguồn nước ăn, tắm giặt ban đầu chủ yếu lấy từ khe suối, sau đó mới đào giếng. Giếng phải đào nơi thấp hoặc ven suối mới có nước. Đến vùng đất lạ, xung quanh là đồi hoang, rừng núi, ban đêm nằm nghe tiếng “chim kêu vượn hú” và tiếng rả rích của côn trùng, lòng người không ngăn được nỗi nhớ quê cũ, nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình”1.

Tóc xanh đã bạc màu theo thời gian, nhà thơ Nguyên Quân cũng đã nhiều lần trở lại Bình Điền, tìm và nhớ về những năm tháng tràn đầy nhiệt huyết của tuổi hai mươi tình nguyện đi bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần. Trai hùng thời bình, mà Bình Điền chưa thỏa chí, anh lại xung phong đi tiếp xây dựng kinh tế mới ở Lâm Đồng. Trong ký ức của nhà thơ Nguyên Quân, Bình Điền là “tình yêu” đầu tiên, âm ỉ như viên than đỏ dưới lớp tro dày. Bình Điền như một lời gọi thì thầm mà day dứt nỗi nhớ nên anh đi tìm lại chính mình. Anh tìm gia đình chị Nghị, tìm cái bến đò thời khai hoang, ngắm từ xa lô đất ngày ấy anh được phân cùng 12 hộ trên một ngọn đồi (nay ở đúng vị trí ấy là một ngôi nhà gọn gàng, xinh xắn), gặp lại cô bé ngày ấy 7 tuổi, bây giờ là người phụ nữ chạy xe tay ga, dẫn đường đưa anh đi thăm lại Bình Điền. Sự tìm về ấy, vừa là nhớ thương một thời, vừa là muốn tận mắt ngắm nhìn lại vùng đất anh từng gắn bó và trở thành một phần trong anh (cũng là cả cuộc đời của rất nhiều người). Nơi ấy đã cất giữ giùm anh một thời tuổi trẻ chân thật, sống có lý tưởng, có chút xốc nổi, có chút lãng mạn, phong trần; cất giữ tiếng cuốc mệt nhọc va vào đá sỏi trên ngọn đồi khô cằn, những giọt mồ hôi âm thầm thấm ướt áo “cực như đi củi” và cả một tình yêu mới chớm, trong veo. Nguồn cảm xúc dồn vào đầu ngọn bút để hình thành bút ký “Ngọn đồi mười ba hộ độc thân” đăng trên Tạp chí Sông Hương. Bình Điền cũng đón nhà thơ Nguyên Quân trở lại với dự án làm trang trại nhưng “chất” văn nghệ sỹ, tâm hồn thơ ca trong anh không qua nổi bài học kinh tế cần sự tính toán cẩn trọng. Day dứt “lui tới” với Bình Điền như vậy, vì sao, có lẽ đơn giản nhất vì anh đã sống trọn vẹn những năm tháng tuổi trẻ đẹp đẽ ở Bình Điền.

Bình Điền đã là một phần đời của nhà nghiên cứu Nguyễn Thế, của nhà thơ Nguyên Quân và dài hơn là cả một đời của rất nhiều người. Bình Điền đã trở thành máu thịt, là quê hương bởi sự bén rễ của những cựu dân Bình Điền thời đi xây dựng vùng kinh tế mới đến bây giờ đã là thế hệ thứ tư.

3.

Tháng mười hai, những ngày cuối năm 2025, rừng keo lá tràm ở đầu cửa ngõ vào Bình Điền đón chào người bằng những chùm bông vàng mới chớm nở đầu ngọn cây. Trong gió mưa lạnh, những bông tràm vàng khoe vẻ kiên cường, dẻo dai, nhẹ nhõm của loài cây thích hợp với chất đất gò đồi phong hóa dăm đá. Ba, bốn tháng nữa, Bình Điền sẽ đón người trong sắc vàng rực rỡ nhất của mùa hoa này. Bình Điền giàu về cây. Một màu xanh nhấp nhô uốn lượn theo những gò đồi, màu xanh chữa lành những vết thương chiến tranh, màu xanh làm sống dậy những ngọn đồi trọc hoang vu năm nào. Cây xanh cho Bình Điền sức sống và cũng cho... tiền. Cây là đời sống, là thu nhập của người dân và tràm hoa vàng là một trong số đó.

Qua khỏi cầu Bình Điền, chợ Bình Điền hiện lên như một điểm kết nối, đánh dấu vị trí trung tâm của Bình Điền. Từ ngôi chợ này, hàng hóa ngược xuôi Bình Điền - Huế, Huế - Bình Điền. Chưa hẳn là sầm uất nhưng khu vực này dân cư, nhà cửa đã mang dấu ấn của phố thị. Bình Điền đó, tượng hình phố trong sắc xanh của cây lá, một phố thị vùng gò đồi mộc mạc, chân chất, hiền hòa như một bài ca dao.

Bình Điền ngày đông chí, mây trời xuống thấp thật gần. Vượt con dốc từ cầu Bình Điền đi về phía chợ cứ ngỡ như đưa tay ra là với được mây. Gió se se lạnh vừa đủ để kéo chiếc áo len mỏng che kín cổ, bỗng nhớ hai món đặc sản mang “thương hiệu” Bình Điền có trong mùa này mà người ở dưới phố Huế mê mẩn, đó là sắn và nấm tràm.

Thời sinh viên của tôi, sắn Bình Điền là ngon số 1. Ngay sát cổng Trường Đại học Sư phạm, quán sắn ở dãy nhà đối diện bến thuyền Tòa Khâm bây giờ, là điểm hẹn của chúng tôi những khi mới nhận học bổng. Sắn được lột vỏ trắng bóc, cắt khúc, hấp trong cái nồi lớn, luôn luôn đỏ lửa. Mỗi lần chị chủ quán mở nắp xoong là một làn hương thơm lừng bay ra, mùi sắn, mùi lá dứa ngọt ngào, ngây ngất những cái bụng đói. Hôm nào có sắn Bình Điền là chị chủ quán thông báo ngay, cả bọn vừa ăn vừa khen lấy khen để, nào là sắn bở mà chắc, mềm, ngọt và thơm. Trời mưa lạnh, ăn miếng sắn ngon lúc đói bụng, đúng là nhớ cả đời.

Nấm tràm thì thật sự ai đã “chịu” được vị đắng nhẫn nhẫn của nấm thì mê luôn. Mà cũng lạ, có người còn mê gọt nấm tràm nữa. Với bà con ở Bình Điền, những rừng tràm ngoài cho gỗ còn cho nấm, đó là món lộc trời ban. Năm ngoái chúng tôi đến Bồ Hòn, thôn tái định cư của đồng bào Cơ Tu ở xã Bình Thành, bà con cho biết một ngày đi hái nấm cũng bán được từ bốn trăm đến năm trăm ngàn đồng. Cuộc đi hái lộc trời ấy, mỗi năm chỉ diễn ra hai lần vào tháng tư và tháng bảy, một lần chừng mười ngày, nửa tháng. Bà con gọi là đi soi nấm vì phải đi vào rừng từ lúc 12 giờ khuya, 1 giờ sáng, trên đầu đội chiếc đèn pin. Những chiếc nấm tràm, trên đầu mũ mang màu của đất ấy là món quà của đất và cây rừng, cũng là một sự “chắt lọc” âm thầm của mẹ thiên nhiên mới tạo thành. Phải là những ngày nắng thật gắt, đất đai như được hun nóng, rồi sau đó là những cơn mưa rào, cũng là thứ mưa có giọt lớn, nước chảy mạnh thì những cây nấm mới ra đời. Tặng một món quà cho con người, thiên nhiên cũng cho đi một phần tinh chất và sức lực của mình như thế đó. Năm nay, mưa lụt dữ quá nên mất mùa nấm tràm.

Mùa đông nên phố đi ngủ sớm, 9 giờ tối đã vắng xe trên đường. Rời rạc vài chuyến xe cuối, âm thanh đến gần rồi xa dần. Ngày đông chí nên mưa suốt đêm, tiếng mưa có khi nhẹ hạt, như thầm thì, có khi rào rào trên mái hiên motel Bình Điền mới mở vài tháng.

4.

Một ngày ở Bình Điền bắt đầu từ lúc 4, 5 giờ sáng với những chuyến xe tải đi đến vườn chở gỗ keo, gỗ tràm; xe máy chở hàng từ Huế lên chợ Bình Điền. Ai cũng có một cuộc đời của mình để mà lo lắng, để mà yêu thương nên con người chăm chỉ làm ăn. Bà con ở Bình Điền dậy sớm nên các quán hàng ăn, quán cà phê mở cửa bán hàng từ 4 giờ sáng. Khách ăn sáng, uống cà phê khi trời còn tối đen, để 5, 6 giờ là tất cả tản ra đi vào rừng keo, rừng tràm, rừng cao su làm việc. Những chiếc xe máy nhuộm bùn đất đỏ, tiếng nổ bành bạch, làm ồn ã chút không gian buổi sáng sớm, mang theo những người đàn ông, thanh niên với dụng cụ làm vườn khuất dần trên đường, rồi phố lại trở về yên tĩnh.

Muốn hiểu về một vùng đất phải hỏi con người. Muốn biết vùng đất ấy có là quê hương của con người không, thì phải nhìn vào mắt họ. Tôi đến Bình Điền lần này, lòng thầm mong gặp được những cựu dân đi kinh tế mới đợt đầu tiên. Được cầm tay, cùng nghe giọng nói, cùng tâm tình trò chuyện và nhìn sâu vào mắt người để thấy Bình Điền in trong đó.

Trong màn mưa bụi của buổi sáng ấy, sau khi đi lướt một vòng chợ Bình Điền, tôi gặp chị. Chị là thế hệ thứ hai của những người đi xây dựng vùng kinh tế mới Bình Điền đợt đầu tiên. Chị trẻ so với tuổi 64 của mình và chị đẹp, một vẻ đẹp mạnh khỏe với làn da căng, hồng hào và đôi mắt sáng: “Năm 1975, ba chị đi cải tạo chưa về, bác chị đưa mạ chị và 8 người con của em trai mình đi kinh tế mới Bình Điền. Lúc ấy chị đầu của chị 23 tuổi và người em út 9 tuổi. Chị sinh năm 1962, mười ba tuổi, chị đến với Bình Điền.”

Sau khi thu xếp, ổn định chỗ ở, nhà cửa cho gia đình em trai gồm 9 người, dặn dò các cháu xong xuôi, bác chị quay trở về quê ở Quảng Bình để chăm lo cho gia đình.  

Bình Điền ngày ấy, trong mắt cô bé tuổi mười ba của chị, là làm việc cùng cả nhà, là trồng sắn, đi củi bán kiếm thêm tiền mua gạo. Đi đâu cũng đi bộ, từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác. Cuộc sống thiếu thốn nhiều thứ lắm, làm việc mệt nhọc nhưng cả nhà quây quần bên nhau nên đầm ấm. Cũng chưa đến tuổi biết buồn nên chị thấy vui. Bình Điền hồi ấy là một vùng lau lách, ngôi nhà của chị bây giờ, trước đây ở trên đồi cao, mà nhà của ai cũng vậy, đều ở trên đồi, trên dốc, chênh vênh và mọi người san dần độ cao mỗi khi làm nhà mới, bạt đồi thành bằng phẳng và tạo ra diện mạo phố thị như bây giờ. Chị mới học hết lớp 7 nhưng nhờ làm tính giỏi, nhanh nhẹn và viết chữ đẹp, mấy năm sau, chị xin vào làm việc ở Hợp tác xã mua bán Bình Điền.

Cũng chính tại Bình Điền, chị nên duyên vợ chồng cùng anh. Gia đình anh cũng là dân đi kinh tế mới Bình Điền đợt đầu tiên. Sáu anh em của anh cũng đi củi, trồng sắn, làm đủ thứ việc. Năm 1983 anh tham gia du kích xã, rồi từ đó làm việc tại xã Bình Điền, chức vụ cao nhất trước khi anh nghỉ hưu là Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bình Điền. Bây giờ anh là Bí thư thôn Thuận Lợi. Hôm tôi gặp chị, anh đang theo đoàn của trường Cao đẳng Công nghiệp Huế đi tổ chức lễ bế giảng 2 lớp dạy nghề cho 50 học viên là con em đồng bào dân tộc thiểu số theo chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới ở A Lưới. Các em được học về du lịch cộng đồng và cơ khí gò hàn.

Bây giờ Bình Điền đã là quê hương của gia đình chị với thế hệ thứ tư là các cháu nội đang học tiểu học và trung học phổ thông. Hai con trai của chị, một đang làm việc ở công ty thủy lợi Bình Điền và một lái xe taxi. Năm 2001 ba chị qua đời vì bệnh. Đất Bình Điền không là nơi chôn nhau cắt rốn nhưng là đất ôm ấp ba chị trong giấc ngủ sau cùng và mãi mãi. Mạ chị bây giờ vẫn khỏe ở tuổi 91. Câu chuyện chị kể ngắn gọn mà nghe đầy đủ cả một đời người. Tôi nhìn vào mắt chị, thấy một sự bình yên mang tên Bình Điền, không còn là dân đi kinh tế mới nữa mà đã là dân gốc Bình Điền.

“Lên đây em cứ hỏi chị Loan Quyết là ai cũng biết”. Dễ tìm thôi mà. Nhà chị Võ Thị Phi Loan và anh Lê Quyết, trước nhà có quán bán bánh kẹo, trái cây ở ngay mặt tiền đường quốc lộ 49.

Bình Điền, 50 năm, đã có những người thế hệ đi kinh tế mới đầu tiên trở thành người kể chuyện Bình Điền. Một bảo tàng ký ức đang hình thành và vẫn “động cựa” mỗi khi có ai nhắc đến, mà rõ ràng nhất là chuyện những bến đò. Khi những cây cầu được xây dựng thì những bến đò cũng trở thành hoài niệm, ông lái đò xưa đành gác mái.

Nguyễn Đình Vũ Hạ - Chủ tịch Hội Nông dân Bình Điền - chở tôi về thăm người chạy đò cuối cùng ở Bình Điền, đó là ông Hoàng Văn Thuận. Hồi trước, ở Bình Điền có 3 bến đò: bến đò Bình Điền 1, bến đò Bình Điền 2 và bến đò Vông. Ông Hoàng Văn Thuận là người chạy đò ở bến Vông. Bến nằm cách cầu Bình Điền chừng vài trăm mét, đường đi xuống bến nay cỏ mọc um tùm, che khuất lối. Không chỉ mình ông Thuận mà cả bác gái (vợ ông) cũng ngồi kể lại chuyện “ngày xưa chạy đò Bình Điền”. Đó là những chuyến đò chở sắn, bột lọc, “than, củi, chổi, lá vằng” từ Bình Điền về cập bến Đông Ba - Gia Hội; chuyến về chở gạo, mắm muối, dầu đèn, cá khô, các vật dụng cơ bản nhất. Dòng sông hẹp, lại nhiều ghềnh đá, người đi không rành, thuyền đụng đá, lật như chơi, ông Thuận rành rẽ trong nghề cũng vấp hai lần. “Con nhìn đi, mắt chú bây giờ yếu là vì ngày trước chạy đò, chú luôn phải căng mắt nhìn”. Sinh năm 1951, bây giờ đã bước sang tuổi 75, ông Thuận mang vẻ rắn chắc, khỏe mạnh của một người siêng việc. Tôi nhìn thấy trong dáng đi của ông, nghề nghiệp cũng để lại một dấu ấn, đó là bước đi rất vững, như là thế đứng tấn trong võ. Bình Điền hiện lên trong lời kể của vợ chồng ông Thuận là sự nương tựa vào nhau, đùm bọc nhau mà sống của những con người cùng chung hoàn cảnh. Hồi ấy, nhà nước cấp 6 tháng lương thực, ăn hết 6 tháng rồi mà sắn, khoai vẫn thất bại. Không phải vì bà con nhác làm mà vì buổi đầu chưa quen, không ai có kinh nghiệm trồng trọt, đất cứng lại thiếu nước. Nhà nước cấp thêm 3 tháng lương thực nữa. Cực quá, có người bỏ về, rồi đi vào Nam. Làm nghề đưa đò dọc nghèo lắm nhưng ông cũng giúp được bà con trong khả năng của mình, đó là những chuyến đò buồn thương, ông Thuận chở không lấy tiền: có người sốt rét nặng đưa từ trong rừng ra chở về bệnh viện gấp, có người mất ở Bình Điền phải đi đò về đến bến Đông Ba rồi từ đó người nhà thuê ghe đưa về quê mai táng, cũng có người bị tai nạn bom mìn.

Hòa bình rồi nhưng Bình Điền vẫn có người chết vì bom đạn. Chiến tranh đã lùi xa nhưng thỉnh thoảng vẫn vang lên những âm thanh chát chúa. Vũ Hạ kể thêm, chú ruột của Vũ Hạ bị nổ lựu đạn khi tìm kiếm phế liệu cũng nhờ ông Thuận chạy đò đưa đi bệnh viện, cuối cùng cũng không qua khỏi. Hồi ấy nhiều người dân Bình Điền đã lấy việc tìm phế liệu chiến tranh như là một kế sinh nhai. Và cũng đã xảy ra nhiều tai nạn buồn.

“Cực lắm con ơi, kể không hết nhưng chừ cũng qua rồi”, ông Thuận cười nụ cười của người từng trải. Những người trụ lại được với Bình Điền ngày nay đều có cuộc sống ổn định, có nhà cửa, có vườn cây rộng 1, 2 hoặc vài hecta, con cháu học hành tới nơi tới chốn. Mười người con của ông Thuận cũng học hành tử tế, có công ăn việc làm đàng hoàng, sáu người đã lập gia đình, cũng ở tại Bình Điền. Chỉ những thanh gỗ keo, tràm đã xẻ ra sẵn để chuẩn bị lên tầng hai, ông Thuận bảo: “Xây nhà để đứa mô ưng về ở thì về chứ đứa mô cũng có nhà có cửa hết cả rồi”.

Không chạy đò, ông Thuận nuôi heo nái, trồng cao su, trồng cây ăn trái. Ông quan niệm, cây gì cũng trồng để mất cây này thì còn cây khác. Tôi nhìn ngôi nhà xây chắc chắn, rộng rãi, đang để sắt chờ để lên tầng, hiểu rằng nhà cửa, đất đai, vườn tược này có được là mồ hôi, nước mắt, là nỗ lực kiên trì của cả gia đình. Con người “không có nỗi cơ cực nào là chưa nếm trải” như ông, đã nói với tôi về lẽ sống trong đời thật giản dị: “Con người mình, sống được thì phải biết giúp người”.

“Người lái đò cuối cùng ở Bình Điền” bây giờ còn có niềm vui mới, ông được Trường Đại học Nông lâm Huế mời nói chuyện về nuôi heo nái. Đâu ai nghĩ một người lái đò có thể đàng hoàng trao đổi với các giảng viên, sinh viên một trường đại học về chăn nuôi, thế mà ông Thuận được mời. Bình Điền đã cho gia đình ông nhiều niềm vui sau bao gian nan, cực khổ. Đúng là đất không phụ lòng người cần mẫn, chung tình với đất.

5.

Con người ta là những bàn chân đi. Tôi nghĩ, có những miền đất thật lạ, mới gặp lần đầu mà như đã da diết tự lâu lắm rồi, như là đã quen thuộc từng ngôi nhà, từng ngõ nhỏ. Bình Điền cho tôi cảm xúc gần gũi như thế vì ở Bình Điền tôi gặp một “bản sao” của Huế. Những ngôi nhà vườn với hàng rào bằng cây chè tàu cắt tỉa cẩn thận, những hàng cau thẳng tắp trước sân, những ngôi nhà ba gian với gian giữa thờ Phật, cửa chính mở rộng nhìn thấy cả bông ba hoa quả và ánh hào quang đèn điện tỏa ra trên bàn thờ Phật. Con người khi rời xa quê hương thường mang theo tất cả những gì thuộc về văn hóa, nếp sống, kiến trúc đến vùng đất mới. Thế nên mới có những tên Thuận Lộc, Vĩnh Ninh, Thuận Hòa ở Bình Điền. Và trời ơi, Huế quá trời Huế khi trong làn gió sớm tôi “nghe” rõ ràng mùi bún bò từ những quán đang đỏ lửa ven đường. Cả một đoạn đường dài dậy hương với mùi thơm đặc trưng của bún Huế. Cái mùi ruốc, mùi sả ấy đánh thức tất cả những khứu giác, vị giác và cả cái... dạ dày của tôi. Trước đây, mỗi lần đi làm việc ngang qua Bình Điền, chúng tôi thường “để dành” bụng lên Bình Điền ăn bún. Sự lựa chọn ấy không cần giải thích thêm về độ ngon và đúng chuẩn bún bò Huế nấu ở Bình Điền, bởi các mẹ, các chị đã đem tinh hoa nghề bún từ Huế lên vùng quê mới. Hương vị không thay đổi đã đành mà nhiều khi nguyên liệu thịt heo, thịt bò ở Bình Điền còn được đánh giá là mềm hơn, ngọt hơn ở Huế.

Tôi cũng thấy “Huế” trên đường khi bắt gặp bảng hiệu “Bún chay” - một chiếc bảng hiệu thôi cũng cho thấy cả ngôi chùa. Bà con mình đã mang từ quê nhà lên đây tiếng chuông chùa, những ngày ăn chay rằm, mồng một tháng âm lịch. Tôi ghé chợ Bình Điền nhằm đúng ngày mồng một tháng mười âm lịch, nghe được câu trả lời “Hôm ni mồng một ăn chay”, tự nhiên thấy thân thuộc, như là lời mạ tôi hay nói. Bình Điền có tiếng chuông chùa và chuông nhà thờ. Bình Điền có những ngôi trường rộn rã giờ tan học với tiếng cười của học sinh, có bệnh viện chữa bệnh cho người dân. Cuộc sống khởi sắc với nhiều niềm vui và hy vọng, khác xa với Bình Điền của 50 năm về trước, nói như bác gái vợ ông Thuận: “Khác một trời một vực con ơi”. Có Bình Điền với nụ cười hôm nay, người dân Bình Điền không thể nào quên Bình Điền của hai mươi năm đầu xây dựng vùng kinh tế mới.

Đó là hành trình “chật vật” để người và đất hiểu nhau. Phải hiểu nhau mới tương thân tương ái được. Đất cũng là người.

Bình Điền - tôi hỏi thầy mình hai chữ ấy nghĩa là gì, thầy đáp có nghĩa là “ruộng bằng phẳng” và tên gọi ấy thầy tôi không thấy trong các sách cổ chữ Hán mà thầy tôi đọc. Bình Điền là vùng gò đồi, đặc trưng đất phong hóa, có đất sét pha đá dăm, độ dinh dưỡng thấp, phù hợp với trồng cây công nghiệp. Thuở đầu thời kỳ xây dựng vùng kinh tế mới, Bình Điền đã trồng cả trăm ngàn cây mít, khi mít lên xanh thì lại chuyển sang trồng tiêu. Tám mươi ngàn cây mít bị chặt ngọn để làm cọc cho cây tiêu leo. Trồng khoai lang thì chỉ cho lá và rễ. Trồng mía cũng thất bại. Phải mất rất nhiều năm tìm tòi và lắng nghe tiếng nói từ đất, Bình Điền đã tìm được loại cây “chân ái” hợp với thổ nhưỡng vùng đất này, đó là cây công nghiệp. Cây đầu tiên có mặt ở Bình Điền là cao su, rồi đến tràm và keo. Những rừng cao su, tràm, keo đã mở ra trang đời mới cho người dân Bình Điền, có việc làm, có thu nhập, no đủ. Không còn đói ăn thì người dân không phá rừng. Hôm ghé thăm Trạm phối hợp liên ngành lòng hồ thủy điện Bình Điền, tôi mừng thầm vì các anh “thất nghiệp” khi anh Nguyễn Đào Nguyên, Phó chỉ huy Trưởng trạm cho biết rằng năm 2025 có 1 vụ vi phạm, các năm trước thì vài vụ. Số vụ vi phạm phá rừng, khai thác rừng trái phép giảm dần. “Bây giờ công làm rừng keo, rừng cao su cũng 400.000/ngày, người dân đi làm rừng thôi. Nghèo quá, không có việc làm, bất đắc dĩ họ mới vào rừng khai thác trái phép, vừa lo sợ bị bắt mà đời sống lại bấp bênh. Dân mà no đủ thì rừng cũng được yên”, anh Nguyễn Văn Nhật Phương - lực lượng tuần tra của trạm - chia sẻ với tôi đầy thấu hiểu.

Chuyến đi thăm lòng hồ thủy điện Bình Điền hôm ấy, tôi gặp Lê Xuân Cao, sinh năm 1994, thế hệ thứ ba kinh tế mới Bình Điền. Em là người lái thuyền và tự nguyện làm hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu những khe suối đẹp ở Bình Điền và mời chúng tôi lên chơi. Một thế hệ trẻ Bình Điền đã bắt đầu tự hào về quê hương mới của mình và rất năng động trong làm kinh tế. Bỗng nhớ dự án nuôi gà đồi, dự án thử nghiệm trồng chuối Nam Mỹ ở Bình Điền mà Nguyễn Đình Vũ Hạ, Chủ tịch Hội Nông dân Bình Điền, kể hôm ở nhà ông Thuận, đó là một quy trình sản xuất khép kín, vừa xanh, vừa sạch, cây chuối sau thu hoạch không bỏ bất cứ cái gì: lá thì làm phân, thân cây thì làm sợi. Nghe tuổi trẻ Bình Điền khao khát làm kinh tế, tự nhiên tôi nghĩ đến niềm vui lấp lánh trong mắt ông bà, cha mẹ họ, bởi các thế hệ đầu tiên đã đổ bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, chịu cực khổ cả đời để con cháu có ngày hôm nay.

Đất và người đã hiểu nhau nên tuổi trẻ Bình Điền bắt tay vào làm trang trại chăn nuôi, trồng cây, lập nghiệp trên mảnh đất quê hương bằng sức vóc trai trẻ và kiến thức được học hành. Đã xuất hiện mô hình làm kinh tế xanh, bảo vệ môi trường, thuận theo thời tiết, địa lý của Bình Điền. Qua những ngày đông, mùa xuân đến, vườn cam, quýt chất lượng OCOP của anh Nguyễn Bá Lộc ở thôn Quang Lộc sẽ đưa cái tên Bình Điền đi xa, gắn liền với sản phẩm nông nghiệp xanh, sạch, hữu cơ - sản phẩm chất lượng theo tiêu chuẩn của thế giới. Đã có một sự chuyển biến trong tư duy sản xuất và tư duy làm giàu của những người trẻ Bình Điền, nhìn họ trong tôi dậy lên niềm tin tưởng, hy vọng, tin con đường phía trước của Bình Điền đã mở cánh cửa rộng và sáng láng.

6.

Mới hai giờ chiều mà màu trời như đã là bốn, năm giờ vậy. Tôi ngược đường quốc lộ 49 hướng lên thôn 2, Hồng Tiến, cũng là hướng lên A Lưới, bỗng nhớ bài thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“Mùa xuân này anh trở lại A Sao
Trong nỗi nhớ cánh rừng đã chết
Trong kỷ niệm hăng nồng mùi hóa chất
Chim phượng hoàng từ ấy đã bay xa
Lòng bồi hồi như trong giấc mơ
Anh đứng giữa cây rừng sống lại...”
                       
(Mùa xuân này anh trở lại)

Vùng đồi núi phía tây thành phố Huế là vùng đất của một thời đạn bom, chiến tranh ác liệt. Nơi tôi đứng bây giờ nhìn lên A Lưới, cách suối Mín 5km, chỉ thấy tuyền một màu xanh. Những cánh rừng đã chết bây giờ “cây đã sống lại”. Mỗi lần lên đây, tôi thường gửi vào trong gió, trong cây lời nguyện cầu đến ông chú - em trai của ông nội tôi - đã hy sinh ở chiến khu C K Trò khi tuổi vừa tròn hai mươi. Bức ảnh thờ ông tôi ở nhà là một khuôn mặt thanh niên còn rất trẻ với đôi mắt đầy nghị lực và chí khí.

Lang thang cùng Bình Điền, tôi thấy hậu quả những cơn lũ lớn cuối tháng 11 năm 2025 để lại trên đất này, những lau lách xơ xác, tan hoang những điểm du lịch cạnh khe suối. Đá như cũng muốn khóc vì dòng nước lũ chảy quá mạnh. Đá cũng buồn vì đứng chơ vơ giữa ngổn ngang hoang hoải sau lụt, lòng bỗng lo khi nghĩ đến những doanh nghiệp du lịch sẽ phải bắt tay làm lại từ đầu. Chiều xuống chậm và tiếng cười của đám con nít chơi đẩy xe ở thôn 5, thôn tái định cư thủy điện ở Bình Tiến cùng hình ảnh người phụ nữ mang chiếc váy thổ cẩm màu mận chín của người Vân Kiều đứng trước cửa nhà mình, làm lòng tôi dịu lại.

Tôi bước trên con đường dốc, miên man nghĩ về một ngày Bình Điền sẽ trở thành một Đà Lạt, đô thị sinh thái, đô thị vệ tinh của Huế. Đó sẽ là chặng đường 50 năm tiếp theo của Bình Điền sau chặng đường 50 năm đầu tiên của khai hoang, xây dựng và đi tìm bản sắc, lợi thế của mình. Tôi nghĩ về những con đường uốn quanh những ngọn đồi xanh, những váy áo nhiều màu sắc của bà con các dân tộc Pa Hy, Bru - Vân Kiều, Cơ tu, Tà ôi ở Bình Điền thấp thoáng trên đường hay duyên dáng trong những ngày lễ hội truyền thống của đồng bào. Còn nữa, những món ăn đậm hương vị núi đồi, đậm màu sắc bản địa, nghĩ đến thôi đã nghe như trong không gian vang lên những thanh âm rộn rã của cồng chiêng, của khèn, của sáo, của đàn; nghe mùi thơm của rượu đoác, rượu Tà vạc, rượu Tà đin, rượu sắn của bà con người dân tộc ủ trên tay. Tôi nghĩ về điểm du lịch làng Cù Lần, Đêm văn hóa Cồng Chiêng của đồng bào dân tộc K’Ho ở Đà Lạt và hình dung trong không gian này, Bình Điền sẽ có những điểm du lịch sinh thái - văn hóa như vậy.

Hành trình 50 năm tiếp theo của Bình Điền, tôi biết không hề dễ, bởi làm văn hóa khó gấp nhiều lần làm kinh tế. Nhưng thế giới đã cho thấy, văn hóa sẽ giúp phát triển kinh tế bền vững. Văn hóa đi trước và kinh tế tự khắc tìm đến. Bình Điền đang có một “tấm vải” nguyên vẹn, chưa cắt may, cần một người thợ thật giỏi tay nghề để cắt những đường kéo đầu tiên định hình cho tấm áo. Một Bình Điền đô thị sinh thái cũng vậy, cần một quy hoạch với tầm nhìn trăm năm và hơn thế nữa, một tổng kiến trúc sư tài hoa không chỉ về đường nét mà còn về màu sắc, âm thanh, phải là một đô thị sinh thái Bình Điền với lợi thế và bản sắc riêng. Vài mươi năm là xây dựng được một thành phố giàu có nhưng một thành phố văn hóa phải xây dựng, lắng đọng hàng mấy trăm năm; thầy tôi luôn nhắc nhở như vậy.

“Mời chị tết ni lên Bình Điền chơi, em đưa chị đi ngắm cảnh mấy khe suối ở đây, đẹp lắm chị ơi!” Tôi nhớ đôi mắt biết cười của Lê Xuân Cao, em lái thuyền đưa tôi đi thăm lòng hồ thủy điện Bình Điền. Tôi đã chụp những bức ảnh đời thường của Bình Điền khoe với bạn bè, ngay lập tức những tin nhắn dồn dập gửi đến, đó là hai chị bạn của tôi đã từng có những năm tháng đi dạy học ở Bình Điền. Cô giáo Tôn Nữ Thùy Trang xúc động: “Đó là một thời thanh xuân của chị. Nhìn ảnh nhớ vô cùng. Nhớ học trò Bình Điền nghèo mà chăm học, rất lễ phép. Trên vai vác bó củi mà gặp cô giáo là khoanh tay, cúi đầu chào”.

Bình Điền đã ở trong tim của rất nhiều người như thế. Bình Điền sẽ là những cuộc trở về. Bình Điền của ký ức, của hiện tại và cũng là hy vọng của tương lai.

Những bông keo lá tràm đầu mùa đung đưa trong gió như những bàn tay nhỏ vẫy chào. Tôi đã có lời hẹn trở lại Bình Điền rồi, mùa xuân này và nhiều mùa khác nữa.

N.K.D.H
(TCSH445/03-2026)

--------------------
1 “Hương Trà, một vùng đồi mãi xanh” - Nguyễn Thế.