LÊ HÀ
1.
Cơn mưa chiều cứ dai dẳng không dứt, như có ý níu bước chân tôi nán lại bên bếp lửa ấm của già Conh Tu Vên Pa Hy Cao, ở bản A La, tên gọi cũ của thôn 2, xã Bình Điền.
Chiều ở núi trôi chậm và yên ắng. Bản làng như đã thiếp đi trong màn mưa mỏng, chỉ còn hơi ấm bếp lửa và mùi khói gỗ quyện vào không gian.
Ngồi trong Su (nhà sàn của người Pa Hy), tôi nghe rõ tiếng chim rừng len qua từng liếp tre, âm thanh khi gần, khi xa, chìm nổi trong tiếng mưa đều đều. Tiếng chim khắc khoải, như một lời gọi mơ hồ vọng về từ rừng sâu. Không biết con chim đang gọi bạn, gọi rừng, hay gọi lại những gì đang dần khuất lấp trong ký ức bản làng quê hương.
Trời về chiều, cái lạnh như thấm sâu hơn vào thịt da. Hơi ấm từ bếp lửa không đủ xua đi hơi lạnh đang tràn xuống từ núi xa. Hay bởi trong đôi mắt người già làng đã đi qua hơn chín mươi mùa nương rẫy, chứng kiến rừng thay lá, suối đổi dòng, đang lắng lại một nỗi buồn âm ỉ. Nỗi buồn của kẻ đứng giữa lằn ranh mong manh giữa mất và còn, khi văn hóa của tổ tiên không còn được tiếp nối một cách tự nhiên như thuở trước.
“Phải giữ lấy ngọn lửa. Lửa tắt rồi, lòng lạnh lắm”. Già Cao nói khẽ, như nói với bếp, nhưng cũng như nói với chính mình. Người già giữ hơi ấm bếp lửa, như giữ lại một phần ký ức của bản làng.
Đưa tay đẩy thanh củi cháy dở sâu vào lòng bếp, già Conh Tu Vên Pa Hy Cao hồi ức. Ngày trước, người Pa Hy không sống rải rác như bây giờ. Họ quây quần quanh Đùng, ngôi nhà chung của bản làng. Đùng chính là nơi trú ngụ của hồn vía Pa Hy. Ở đó có tiếng chiêng, tiếng trống, có lễ A Per gieo hạt, lễ Chấp Pơrô cầu mưa, lễ Nhom đưa hồn lúa về nhà. Ở đó, người Pa Hy sống cùng rừng, nói chuyện với đất, gửi gắm đời mình vào núi đồi.
Quanh Đùng là những Su dựng sát bên nhau, nơi sinh hoạt của dân bản. Đêm xuống, ánh lửa hồng hắt ra từ các mái lá, nối liền thành một vòng sáng ấm áp giữa rừng sâu. Trẻ con lớn lên trong tiếng đàn, tiếng hát; người già đi về phía núi trong tiếng chiêng trầm lắng.
Rồi chiến tranh lan đến bản làng Pa Hy.
Già Cao nhớ rất rõ những ngày giặc kéo về bản. Đùng bị đốt, Su cũng cháy rụi. Dân làng chỉ kịp mang theo tấm ảnh Bác Hồ chạy vào rừng sâu, để lại sau lưng là khói lửa và những mái nhà cháy dở.
“Lửa khi ấy nóng lắm… có thể thiêu rụi những trái tim người Pa Hy”, giọng già Cao trầm lại.
Hòa bình đến, bản làng được dựng lại, nhưng Đùng của người Pa Hy đã biến mất, Su cũng dần không còn. Người Pa Hy sống trong những căn nhà mới, vững chãi hơn, nhưng ký ức thì rơi rụng dần như lá cuối mùa trên non.
Đi quanh bản làng của người Pa Hy bây giờ, hiếm hoi lắm mới nhìn thấy bóng dáng Su như của già Conh Tu Vên Pa Hy Cao, được dựng lên ngay bên cạnh căn nhà gỗ chính. Già đã giữ lại ký ức của tổ tiên, theo cách của riêng mình.
Có những đêm mưa dầm dề như buổi chiều nay, nằm trong Su, già Cao lại nghe thấy tiếng chiêng vọng về từ núi xa. Tiếng trống như bước chân của thời gian đi ngược, đưa già trở về những mùa lễ hội xưa.
Già Cao trầm ngâm rất lâu, rồi chậm rãi kể. Như thể mỗi lời nói ra đều phải đi ngược dòng ký ức. Già bảo, thuở trước, đời sống người Pa Hy đi theo nhịp thở của đất trời. Mỗi mùa rẫy, mỗi hạt lúa đều có tiếng gọi của lễ hội, có bóng dáng của thần linh và bàn tay con người hòa vào nhau.
Đó là mỗi dịp tháng tư về, nắng vừa đủ ấm, người Pa Hy bước vào lễ A Per. Lễ hội gieo hạt. Già nhớ buổi sáng cả bản tụ họp trước Đùng, khói bếp bay lên mỏng nhẹ, mùi nếp mới thơm quyện trong gió núi. Nhớ tiếng chiêng vang lên chậm rãi, tiếng trống theo nhịp chân người già, người trẻ. Hạt lúa được đưa xuống từ chái bếp, đặt vào lòng đất như đặt vào tay mẹ. Người Pa Hy luôn tin, chỉ cần lòng người ngay thẳng, đất trời sẽ không phụ.
Già nói, thuở ấy, chưa bao giờ người Pa Hy của già gieo hạt mà không cúi đầu.
Rồi những năm hạn kéo dài. Núi khát nước, suối cạn dòng, nương lúa đứng lặng trong gió nóng. Khi đó, cả bản lại thổi tù và, đánh chiêng, gọi mưa. Già nhớ những đêm lễ hội cầu mưa, trai gái quây quần bên bếp lửa, tiếng hát vang lên giữa rừng sâu, như gửi lời khấn vào bóng tối. Người Pa Hy tin rằng, đất trời nghe được tiếng lòng con người, mưa sẽ về.
Già Cao thở dài: “Bây giờ, có khi cả mùa khô đi qua, cũng chẳng còn ai nhớ đến việc gọi mưa nữa”.
Mùa gặt đến. Khi lúa trên nương đã cúi đầu, hạt chắc đầy tay, người Pa Hy làm lễ đưa hồn lúa về nhà. Trong ký ức của già, lễ Nhom diễn ra không lớn. Chỉ là mâm cúng nhỏ, lời khấn vừa đủ nghe, nhưng lòng người thì đủ đầy. Già nhớ từng ngôi nhà cúng gà, cúng cá, có nhà thêm con heo, con dê. Không ai khoe giàu nghèo. Chỉ lo thần linh buồn vì lòng người vô tâm.
Giờ thì…, già im lặng.
Bây giờ người Pa Hy không còn trồng lúa nương nữa. Lúa nước mọc đều, thẳng hàng, thẳng lối, không cần gọi mưa, cũng chẳng cần lễ đưa hồn lúa về nhà. Lúa lớn lên nhờ kênh mương trải dài, nhờ phân bón. Còn lễ hội thì lùi dần vào ký ức.
“Lễ hội mất trước”, già nói khẽ, “rồi đến tiếng chiêng. Sau đó là tiếng nói. Cuối cùng là con người, quên luôn cội nguồn mình”.
Tiếng thở dài của người già, chìm vào thinh lặng, nghe buốt lòng.
Ngoài kia, mưa rừng vẫn rơi đều trên mái lá. Già Conh Tu Vên Pa Hy Cao nhìn vào bếp lửa đã thấp dần. Ánh than hồng đỏ ối như con mắt của rừng thẳm. Già bảo, không phải người Pa Hy quên lễ hội. Mà là lễ hội không còn chỗ đứng trong đời sống mới.
Nói rồi, già lại lặng im rất lâu. Như thể, trong khoảng lặng ấy, những mùa lễ xưa vẫn còn đang tìm đường trở về, nhưng lối cũ đã mờ, mà người dẫn đường thì đã ở lưng chừng dốc núi.
Sau những câu chuyện về mùa lễ đã lùi xa, gian nhà Su chợt lặng đi. Bếp lửa chỉ còn tiếng than hồng rạn nhẹ. Rồi từ đâu đó, giữa buổi chiều yên ắng, tiếng đàn ngân lên.
Âm thanh mảnh và dài, theo làn gió núi lan xa, khẽ lay động những tán rừng già đang cúi mình trong mưa. Có lúc tiếng đàn vút cao, như chạm đến đỉnh trời. Có khi chùng xuống, trầm sâu, như lắng vào một miền ký ức xa xăm của người Pa Hy. Ở nơi ấy, những nương lúa chín vàng dường như vẫn còn ngậm hạt sương mai. Bên bếp lửa nhà Su, chén rượu nếp nương thơm nồng chuyền tay nhau, để những câu chuyện cũ lại được đánh thức trong những đêm dài.
Già Conh Tu Vên Pa Hy Cao khẽ nghiêng tai lắng nghe rồi nói nhỏ, như sợ làm vỡ tiếng đàn:
“Tiếng đàn tâm prảy của già Bầu đó”.
Trong cộng đồng người Pa Hy hôm nay, già Conh Poong Pa Hy Bầu là một trong số ít người còn giữ được bí quyết chế tác đàn tâm prảy. Già chọn gỗ như chọn người, phơi theo nắng gió như gửi thân đàn cho đất trời thử thách. Mỗi nhát khoét, mỗi sợi dây căng lên đều được tính bằng kinh nghiệm của cả đời người.
Già Cao cũng là người hiểu biết sâu về dân ca dân nhạc, già có thể chơi thành thục nhiều loại nhạc cụ của người Pa Hy. Già bộc bạch, “Người Pa Hy làm ra cây đàn, không phải chỉ để gảy lên âm thanh. Đàn phải “sống”, phải mang được hơi thở của núi rừng thì tiếng mới ở lại lâu trong lòng người”.
2.
Tôi theo chân già Conh Âm Poong Pa Hy Đài men theo tiếng đàn, khi ánh chiều đã tắt lịm sau dãy núi. Gian nhà gỗ nhỏ của già Conh Poong Pa Hy Bầu (71 tuổi, cũng ở thôn 2) hiện ra trong ánh đèn điện leo lét. Bóng tối và hơi núi quyện vào nhau, lặng lẽ. Già Bầu ôm chiếc đàn tâm prảy trên tay, khẽ gảy lên một khúc hẹn hò. Điệu êl ngân nga, chậm rãi, như dẫn lối người nghe bước vào thế giới riêng của đại ngàn xanh thẳm.
Già Bầu nói rằng, người con trai Pa Hy ngày trước, hầu như ai cũng biết gảy và chế tác đàn tâm prảy. Họ lớn lên bên tiếng đàn của cha, của ông. Nhìn cha ông chặt cây lấy gỗ đẽo đàn mà học theo. Nghe cha ông mình gảy từng phím dây mà nhớ.
Thuở xa xưa, đàn tâm prảy của người Pa Hy có ba dây. Theo thời gian, được ông cha cải tiến lại, chỉ còn hai dây như bây giờ. Nhưng khi đàn lên vẫn đủ nốt bổng nốt trầm, ngân nga dìu dặt.
Đàn tâm prảy thường được làm từ gỗ mít, thứ gỗ xốp, nhẹ, cho âm thanh trong và vang. Thân đàn có thể tròn, vuông, hay bầu dục, được đục rỗng từ khối gỗ nguyên, trên mặt ốp một tấm gỗ mỏng có khoét lỗ nhỏ để âm thanh thoát ra. Phía cuối cần đàn có khảm bốn thanh tre mỏng làm nốt bấm, phía trên gắn thêm hai thanh tre để giữ và tăng dây đàn. Già Bầu nói rằng, đàn tâm prảy tuy mộc mạc, nhưng lại được chế tác đầy dụng công từ đôi bàn tay khéo léo của người Pa Hy xưa.
Già Bầu nói với tôi, trước đây người Pa Hy xem cây đàn, cây sáo như vật gắn bó khăng khít với cả đời người. Trai Pa Hy lên nương, lên rẫy đều mang theo bên mình đàn tâm prảy, sáo tirel, sáo areng, như mang theo linh hồn của sông suối, núi rừng. Qua suối thì thổi sáo gọi nước. Vượt đồi thì gảy đàn gọi mây. Dưới bóng rừng già, khi dừng chân nghỉ mệt, tiếng đàn tiếng sáo lại cất lên, để núi rừng biết rằng con người vẫn đang ở đó.
Tiếng đàn, tiếng sáo mang theo hơi thở của cây lá, chim muông; mang theo tiếng suối chảy giữa đại ngàn. Thanh âm theo gió núi lan xa, cô gái Pa Hy nghe thấy, rồi vì thương, vì yêu mà bước chân tìm đến. Tiếng đàn, tiếng hát như sợi chỉ hồng, se duyên lứa đôi.
Ngày đó, trai gái Pa Hy đến tuổi dựng vợ gả chồng, sẽ cùng nhau vào rừng lấy gỗ, lên núi lấy lá mây, cùng về bản dựng lên một gian nhà sàn nhỏ làm nơi hẹn hò. Chiều xuống, sau một ngày trên nương rẫy, họ thay bộ đồ đẹp nhất rồi đi Sim (cách trai gái đi hẹn hò, tìm hiểu nhau trước khi kết hôn). Các cô gái ngồi trong Sim của bản mình, chờ tiếng đàn quen. Dưới chân cầu thang gỗ, chàng trai gảy khúc đàn, gửi lời ngỏ bằng thanh âm dìu dặt. Nếu cô gái ưng bụng, cửa nhà sàn sẽ mở. Nếu không, dẫu chàng trai đàn đến trăng lặn sao thưa, cánh cửa vẫn im lìm khép kín.
A ăm (bố) và A y (mẹ) của già Bầu, cũng đến với nhau từ những buổi hẹn hò như thế. Tiếng đàn tâm prảy, câu hát êl đã theo họ suốt cả đời người. Những năm làm dân công hỏa tuyến, giữa bom đạn và gian khó, họ vẫn mang theo cây đàn tâm prảy bên mình. Để trong những đêm trăng rừng, khi tiếng bom tạm lắng, tiếng đàn lại cất lên, xoa dịu mất mát, giữ cho lòng người vững tin vào ngày mai.
Già Conh Tu Vên Pa Hy Cao, già Hồ Xuân Đế, già Conh Âm Poong Pa Hy Đài, già Conh Poong Pa Hy Bầu và bao người già Pa Hy khác đều đã lớn lên bên bếp lửa nhà sàn như thế. Tuổi thơ họ đi qua trong tiếng chiêng, tiếng trống mỗi mùa hội làng; trong tiếng đàn, tiếng hát, lời ru của a pây (bà), a y (mẹ) theo làn gió len vào từng giấc ngủ. Văn hóa của cha ông đã thấm dần vào người họ, âm thầm nuôi lớn qua từng mùa nương rẫy.
Tôi hỏi già Bầu, những người trẻ bây giờ còn ai chế tác được đàn tâm prảy? Già nhăn trán suy nghĩ rất lâu, rồi lắc đầu. “Không phải không còn ai. Chắc phải còn chứ? Nhưng đã quá lâu rồi, không còn ai tìm đến đây học cách làm đàn nữa rồi”.
3.
Tôi nhớ già Cao đã nói rằng, người Pa Hy bây giờ ngoài lo cái ăn, cái mặc, còn lo cho cái hồn của bản làng. Bởi mất đi tiếng chiêng, mất đi lễ hội, là mất luôn nguồn cội.
Nỗi lo ấy không chỉ nằm trong lòng những người già Pa Hy. Có lần ngồi bên bếp lửa nhà Su cùng bà con trong bản, ông Nguyễn Xuân Chinh, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Điền, cũng trầm ngâm nói rằng, văn hóa của người Pa Hy đang đứng trước nhiều đổi thay. Cuộc sống mới mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng khiến những lễ hội xưa, phong tục cũ dần thưa vắng trong đời sống của lớp trẻ. Nhưng ông Chinh tin rằng, khi bản làng còn người nhớ, còn người tha thiết với tiếng chiêng, tiếng trống của cha ông, thì văn hóa Pa Hy vẫn chưa rời bỏ bản làng. Vì thế, chính quyền và bà con vẫn đang cùng nhau tìm cách khơi lại những gì đã từng gắn bó với đời sống của người Pa Hy qua bao đời nay.
Vài năm trở lại đây, những nhạc cụ truyền thống của người Pa Hy đã quay trở về với các bản làng vùng cao Bình Điền. Từ những nhịp chiêng, nhịp trống vang lên trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, nhiều điệu múa, bài hát cổ của người Pa Hy dần được khơi dậy. Tiếng cồng, tiếng chiêng trong lễ hội mừng lúa mới, mừng được mùa xưa cũng bắt đầu vang trở lại, như muốn đánh thức những mùa lễ hội từng lùi xa trong ký ức.
Rồi những buổi truyền dạy dân ca, dân vũ, dân nhạc Pa Hy cũng được nhóm lên giữa cộng đồng. Các già làng, nghệ nhân như già Conh Tu Vên Pa Hy Cao, già Hồ Xuân Đế, già Conh Âm Poong Pa Hy Đài, già Conh Poong Pa Hy Bầu, già Hoàng Thị Uối, già Hoàng Thị Kên… lại ngồi bên những người trẻ, chậm rãi chỉ từng nhịp chiêng, từng bước chân nhảy múa.
Tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng đàn Tập ray, tiếng sáo Tirel, sáo Areng lại được đánh thức, khi bàn tay người trẻ chạm vào. Những điệu Tàr lơi, Bà bối từng tưởng chỉ còn vang vọng trong ký ức người già, nay lại được cất lên bằng giọng ca của nhiều thế hệ, ngân dài giữa bản làng.
Trong đôi mắt già Cao, già Đế, già Bầu… vẫn còn vương nét buồn của người đã đi qua quá nhiều đổi thay. Nhưng giờ đã ánh lên một niềm hy vọng. Từ những buổi truyền dạy bên tiếng chiêng, tiếng trống, ngày càng có nhiều người trẻ tìm đến, kiên nhẫn học lại từng điệu múa, từng lời ru xưa.
Già Cao nhắc nhiều cái tên như Tuấn, Chuyên, Cải, Hồng, Hiệu, Muồng, Vân, Lễ… và nhiều cái tên khác nữa đủ để người già tin rằng, văn hóa Pa Hy chưa lạc mất giữa đại ngàn.
Ông Nguyễn Xuân Chinh, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Điền, kể rằng mấy năm gần đây, địa phương đang tìm cách khơi lại những giá trị văn hóa cũ của người Pa Hy. Từ những nỗ lực ấy, một câu lạc bộ dân ca truyền thống của người Pa Hy hình thành. Một không gian sinh hoạt mới ra đời giữa bản làng, nơi những điệu hát, điệu múa, tiếng chiêng tiếng trống quen thuộc được cất lên. Trong không gian ấy, người già chậm rãi truyền lại cho người trẻ từng giai điệu xưa, như trao lại một phần hồn vía của bản làng.
Lê Nguyễn Kim Xuyến, Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ dân ca truyền thống Pa Hy, một trong những người trẻ rất nặng lòng với văn hóa của bản làng. Xuyến kể, ngày câu lạc bộ mới hình thành, có chừng hai mươi lăm người tham gia, người trẻ nhất mới mười bảy tuổi, người lớn tuổi nhất đã ngoài tám mươi. Những con người thuộc nhiều thế hệ ấy ngồi lại bên nhau, chung một mong ước cùng giữ gìn tiếng chiêng, tiếng trống, điệu hát của cha ông mình.
Mỗi tháng đôi ba lần, họ lại tụ họp giữa bản làng. Khi tiếng chiêng cất lên, những điệu hát, điệu múa Pa Hy lại ngân dài bên ánh lửa, để văn hóa của bản làng không còn nằm mãi trong ký ức, mà được sống trọn vẹn trong đời sống hôm nay.
Xuyến chính là người dẫn đường trong lần tôi tìm về nhà già Cao. Bên bếp lửa giữa nhà hôm ấy, Xuyến cũng lặng im ngồi nghe già kể về những mùa lễ hội đã đi qua đời mình.
Lễ hội của người Pa Hy đã vắng bóng quá lâu, đến nỗi những người trẻ như Xuyến chưa một lần được sống trong không khí ấy. Nhưng trong ánh mắt của Xuyến, tôi vẫn thấy một niềm háo hức rất thật. Không phải mỗi người già nhớ lễ hội; Xuyến và nhiều người trẻ Pa Hy khác cũng mong một ngày được hòa mình vào không gian rộn ràng của bản làng xưa.
Chị Nguyễn Thị Ngành (chuyên viên phòng Văn hóa - Xã hội xã Bình Điền), người đã nhiều lần lặn lội vào các bản làng người Pa Hy để sưu tầm lại những lễ hội cũ, kể rằng Bình Điền đang ấp ủ phục dựng một vài lễ hội truyền thống như lễ mừng lúa mới, lễ mừng được mùa. Có lẽ không lâu nữa, những người trẻ Pa Hy sẽ được sống lại bầu không khí sôi động của lễ hội, để niềm vui của những mùa rẫy cũ một lần nữa tìm được đường quay về.
Trong số những người trẻ Pa Hy mà tôi gặp trong những lần trở đi trở lại Bình Điền, Ngành để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất. Ở cô gái ấy luôn có một tình yêu rất đầy với bản làng và với văn hóa của dân tộc mình.
Không đứng lớp truyền dạy như các già Cao, già Đế, nhưng hơn chục năm qua, Ngành vẫn lặng lẽ góp sức giữ gìn những điệu múa Pa Hy. Trong những buổi văn nghệ của bản làng, phần lớn các điệu múa đều do cô dàn dựng, kiên nhẫn tập dượt cho bà con và đám trẻ trong bản.
Đam mê với những điệu múa của dân tộc mình, Ngành đã rong ruổi qua nhiều bản làng Pa Hy để tìm hiểu, sưu tầm từ những người lớn tuổi. “Các bà nhớ thế nào thì kể lại như thế ấy. Mình cứ học theo, rồi có khi biến tấu, sáng tạo thêm”, Ngành cười hồn hậu.
Không chỉ say mê với những điệu múa cũ, Ngành còn là một trong những người trẻ Pa Hy ở Bình Điền sớm thử sức với con đường làm du lịch. Những ngày đầu, khi câu chuyện du lịch cộng đồng còn khá mới với bà con trong bản, nhiều người vẫn còn dè dặt. Nhưng Ngành đã mạnh dạn đi trước, thử mở một hướng sinh kế mới cho bản làng.
Ngành nói với tôi rằng, du lịch cộng đồng của người Pa Hy ở thôn 2 mới chỉ bắt đầu, nhưng bản làng này vẫn có nhiều điều khiến người ta muốn quay lại. Du khách tìm về có thể thả mình trong làn nước mát lành của suối Khe Tranh, ngắm nhìn núi non trùng điệp ôm lấy bản làng, thong thả dạo bước giữa những nếp nhà gỗ, và chậm rãi cảm nhận nhịp sống hiền hòa của miền sơn cước, rồi cùng hòa vào sinh hoạt bình dị của người Pa Hy.
Già trẻ trong bản nhóm bếp lửa đón khách, đánh tiếng chiêng, nấu cơm lam, gói thịt trong lá rừng. Du khách ngồi bên mâm cơm, nghe già làng kể chuyện xưa, nghe tiếng đàn tâm prảy ngân lên giữa đêm núi. Trong những đêm như thế, văn hóa Pa Hy dường như lại trở về với bà con dân bản.
Ông Nguyễn Xuân Chinh hồ hởi nói rằng, văn hóa Pa Hy giờ đây không còn nằm trong ký ức của những người già. Từ tiếng chiêng, tiếng trống, điệu múa, lời ca, đến những đêm lửa hồng đón khách, tất cả đang dần trở lại với đời sống bản làng. Người trong bản giữ lấy văn hóa của mình, như giữ lấy một phần cội nguồn, cũng là cách để tìm một sinh kế mới.
Bình Điền vẫn đang từng bước tìm hướng để những sinh hoạt văn hóa của người Pa Hy có chỗ đứng bền lâu trong đời sống hôm nay. Để những giá trị truyền thống của cha ông xưa sẽ được tiếp tục truyền lại cho lớp người sau.
Và trong hành trình ấy, vai trò của những người già Pa Hy như già Cao, già Đế, già Đài, già Bầu… sẽ luôn đứng phía sau, vững chắc. Họ là người đã đi qua quá nhiều mùa rẫy, mang trong mình những ký ức xưa của bản làng. Chính họ đang kiên nhẫn giữ lấy ngọn lửa, để văn hóa Pa Hy không lạc mất.
Bếp giữa gian nhà Su vẫn còn đỏ lửa. Ngoài kia, núi rừng đã dần chìm vào màn đêm. Những người già Pa Hy vẫn say sưa kể về những mùa lễ hội trong ký ức. Những người trẻ ngồi bên, yên lặng lắng nghe. Và đâu đó giữa bản làng, tiếng chiêng lại ngân lên, lan xa giữa đêm đại ngàn sâu thẳm.
L.H
(TCSH60SDB/03-2026)