Bút ký dự thi 2026
Huế xưa mình thương nhớ
10:06 | 27/04/2026

NGUYỄN HỮU TẤN

Nằm trong đêm sơn cước Hưng Châu, nghe tiếng sương móc nặng trĩu rơi lộp độp trên tàn cây xuống hiên nhà và nhìn hơi lửa rỉ rả ngấu dần những hòn than trong bếp tôi mới hiểu được tại sao người miền núi ở đây lại có cách làm nhà dựng cửa độc đáo đến thế.

Huế xưa mình thương nhớ
Một góc núi Ngọc Trản - Điện Hòn Chén - Ảnh: tư liệu SH

Nhà của người Cách Ba nơi đây thật lạ lùng, nhìn thì luông tuồng trống trải, không vuông vức lắm nhưng vững chãi lạ thường. Trước tiên, họ kè đá núi lại với nhau, bằng một kinh nghiệm hay ký ức nào đó, họ không đo đất cắm mốc như những nơi khác mà họ dùng bước chân mà định vị bề ngang bề dọc của ngôi nhà, thành ra có nhà gần như hình vuông, có nhà gần như hình chữ nhật, tất cả không đều nhau. Kế đó, người ta lại trộn một loại bùn đất sét đặc có màu vàng nâu sáng đã qua sàng đãi và ủ kỹ rồi trát kín lên bức tường đá. Đợi vài tháng cho khô khan theo nắng gió núi rừng, họ mới quét thêm một lớp áo bằng bùn đất sét loãng hơn có pha với một thứ cát chỉ có ở trong các hốc núi sâu và cao hơn tại đây. Đợi thêm ít lâu nữa, họ mới chất củi rơm, lau sậy để đốt cái phần vách nhà đó cho đến mức nước không thể thấm được mới thôi. Sau cùng, họ làm lễ cúng mái nhà để gọi linh hồn tổ tiên về xin cho ngôi nhà được bảo vệ khỏi các vong ma xấu xa và các vong thần dịch bệnh trong niềm tin tộc người của họ.

Tới Hưng Châu được ít ngày, tôi đã được thấy quang cảnh lễ cúng mái nhà như vậy trong cái gió bạt ngàn và mây âm u trùm xuống cái làng sơn dã này. Trời ơi là thẫn thờ! Thẫn thờ chỉ vì thấy có gì đó quen thuộc nên cứ dây dưa trong tâm khảm, tựa như gặp lại một người còn tường tận mặt mà lại nhạt nhòa tên. Đang lúc ray rứt lòng như vậy lại nhớ ra được rằng, té ra, lễ cất mái nhà của người Cách Ba có nét giống với tục cúng lễ thượng lương nhà mới ở Huế mình.

Cuối cùng thì xuôi ngược hải giác thiên nhai nào đi nữa, gặp tộc người nào đi nữa, Huế vẫn là một mực thước riêng của tôi để tôi hướng về nguyên quán và để tôi nhìn ra mà chiêm nghiệm bên ngoài.

Nhìn hai lá bùa vẽ năm con chim quạ năm màu chầu về năm vòng tròn ngũ sắc đồng tâm có những tia lửa được cách điệu hóa để diễn tả mặt trời đang phấp phới bay trên hai đầu nóc nhà, tôi như nhìn thấy được cả linh hồn xưa cũ của tộc người này đang trở về cùng hằng hà tiếng nói thầm thĩ từ bên kia đỉnh núi vọng xuống. Trong phút giây như xuất thần đó, tôi chợt nhớ tới ba tôi:

- Bây chừ có ba ở đây chắc là ba thấy nhiều lắm hí!

Chỉ tiếc là nơi đèo hoang núi lạnh này, phố xá xa xôi, ngoại trừ bốn chuyến xe về thành phố Lãng Hải mỗi ngày thì không còn cách chi tìm thấy chút hơi hám phồn hoa, mà liên lạc cũng khó khăn. Huống hồ chi, Huế - kinh thành cổ xưa của tôi cách xa muôn trùng mây trắng.

Thôn nhỏ ở Hưng Châu cũng giống Kyoto, không lúc nào vắng bóng quạ, không lúc nào ngừng rền rã tiếng quạ gọi nhau. Chính con quạ dẫn đường cho họ chạy trốn khỏi kẻ thù triều Hán trong ký ức tộc người Cách Ba, mà quê hương bản quán của họ là một vùng đất cát trắng phủ dài khắp chín ngọn núi và chín dòng sông. Chắc vì vậy mà họ đã vẽ con quạ lên lá bùa cúng nhà mới.

Câu chuyện này đã đưa tôi về sân nhà ngoại trong một sớm ngày xuân ấu thơ ố vàng màu mưa bụi. Lần đầu tiên tôi được mệ ngoại chỉ cho coi con quạ chơ vơ đậu trên cành sầu đâu gầy trơ xương bên nhà mệ Xiêm bán bánh lọc. Mệ ngoại thủng thẳng thắp hương trước cươi xong, quay qua với tay thằng cháu ngoại rồi kể cho nghe chuyện con quạ đời xưa. Con quạ trong truyện đời xưa của ngoại không phải là con quạ tham ăn, mà là con quạ đã vẽ tỉ mẩn cho bạn mình bộ lông tuyệt đẹp nhưng con chim bạn đã lười nhác vẽ lại cho quạ một màu đen tuyền, vậy mà quạ không hề oán trách. Con quạ mà ngoại kể là con quạ có hiếu, biết đem mồi về nuôi cha dưỡng mẹ khi cha già mẹ yếu. Cho nên với người thôn quê Huế xưa, con quạ là loài chim có hiếu nhất trong các loài vật. Lâu rồi, khi về làng Thành Trung đưa tang mệ cố ngoại, có bầy quạ kêu rền cả khoảng trời chiều tôi mới biết người nhà quê tin rằng quạ cũng cảm thương mà khóc theo người mất đi cha mẹ, còn linh hồn người quá cố sẽ theo tiếng kêu của quạ mà thanh thản về trời nhanh hơn. Mệ ngoại cũng kể thêm, vào cái “lối xưa tê thời của mệ” nhiều làng còn có lối tục cho quạ ăn, bởi rứa người ta mới truyền đời cái câu ngộ nghĩnh như vầy: “Con quạ hắn đậu chuồng heo/ Hắn kêu: ơi mụ Sói bánh bèo chín chưa?”. Con quạ xin ăn dạn dĩ như rứa ắt hẳn đã quen với việc được cho ăn rất nhiều lần rồi. Người Huế xưa phải thân thiện với loài quạ lắm mới đem nó vào trong thế giới tình cảm của mình bằng câu hò giã gạo tình tứ để chòng ghẹo nhau thật dạn dĩ: “Thân anh như con quạ trời sinh/ Đậu trên trái mít đã thỏa tấm tình em chưa?”

Có đi đó đi đây rồi nhìn về Huế mới thấy Huế mình thật sự là một kho báu đang nằm sâu trong quên lãng và lòng mình cồn cào nhiều nỗi cảm thương xen lẫn mất mát khó nói cho ai tường. Nhưng cũng may, vẫn còn có một người cùng sẻ chia một chút niềm hoài cựu này. Người là bóng nắng hanh hao như lụa là từ ký ức, còn tôi là nhành mai cô lẻ in bóng trên bức tường loang lổ của một ngôi nhà Huế xưa.

Cũng nhờ người mà những ký ức Huế xưa nền nã và phôi phai đó luôn hiện diện thật rõ ràng trong niềm mơ tưởng của riêng tôi. Có nhiều lúc quá vô vọng với cuộc sống này, một thân một mình xoay xở với dòng đời trăm cay ngàn đắng mà trên đôi vai theo năm tháng vơi đầy chỉ bạc trắng lớp bụi hư vô. Những lúc đó, nước mắt không rơi được, không đau đớn, không buồn thương mình mà cũng không oán trách ai, chỉ cần một chút hơi ấm luyến thương với quê nhà bản quán để níu lại sự sống đang rã rời trong châu thân, tôi lại đọc những ký ức thơ dại ấm áp và thơm tho mùi trầu quế về mệ ngoại của người, một bà già Huế phương phi còn đọng từng chút một hơi hướm Huế đã mờ phai. Ừ, cũng nhờ mệ ngoại Huế xưa của người mà tôi cũng nhớ ra thêm một điều khác rất thú vị về lối tục trong mua bán ở Huế thời trước. Mệ kể rằng, thời trước, đi chợ mua ớt mua gừng thì được tự mình thoải mái lựa chọn vì người xưa cho rằng: đừng để cay đắng cho nhau, cay đắng thì tự chịu tự biết. Khi nhớ ra điều này, tôi có hỏi mệ ngoại tôi ngày hai mệ cháu về làng ngoại để chạp họ khi tôi về Huế hai năm trước, nhưng ngoại tôi lại giảng giải kiểu khác. Gần trăm tuổi trời, giọng nói của ngoại chừ không còn thanh thao như thuở còn kể chuyện con quạ đời xưa cho cháu nghe nữa rồi:

- Con không nghe cái câu “ăn mật trả gừng” à. Nhận lấy của người ta cái ngọt ngào mà trả lại cho người ta cái cay đắng. Rứa là tội trời!

Thiệt lâu lắm mới nghe lại tiếng “tội trời” của những mệ già Huế xưa, chỉ nghe hai từ này với cái hơi xuýt xoa thốt ra từ miệng của mấy mệ mới cảm nhận được sự nồng hậu trong lề lối đối đãi giữa người với người thời trước. Thương Huế là thương từ từng chút cũ càng đó thương đi. Chúng tôi là những đứa nhỏ còn giữ mãi cảm giác nhung nhớ của trẻ thơ trong nếp nhà được nuôi dưỡng từ từng hơi thở của những mệ nội mệ ngoại Huế ròng Huế rặt ấy.

Có thể nói rằng để sống được qua bao nhiêu đắng cay, là nhờ hằng hà sa số ký ức từ Huế dấu yêu đã tiếp thêm hơi thở cho tôi. Tôi đã mở đầu bài luận để được tuyển chọn cho dự án nghiên cứu nhân học văn hóa của đại học viện Kyoto bằng tập tục mua gừng ở Huế xưa. Thật ra, tôi viết trong sự không mong chờ gì cả, là chỉ tự viết cho mình đọc: “tôi mong ước được trở thành một nhà nghiên cứu nổi tiếng, để có thể cất lên tiếng nói của mình cho người khác hiểu thêm và hiểu đúng về xứ Huế của tôi”. Chỉ như rứa mà thôi. Và cuối cùng tôi gặp được một người Nhật đã nghiên cứu Việt Nam, nghiên cứu Huế suốt ba mươi năm, người đã cổ vũ và nâng đỡ cho tôi rất nhiều trong chuỗi ngày dài im lặng tìm sống.

Bước chân đi về như mây khói giữa một miền mù sương, cuối cùng mùa xuân lại đến. Đã đến rồi, ngay từ trên dãy núi Lạt Sa bạt ngàn mây mờ đang thấp thoáng ở phía bắc xa kia mà tôi vẫn hay nhìn ra vào mỗi ban mai tỉnh giấc nhớ nhà. Từ đây đó trong thôn làng, nơi nhà nọ nhà kia đã nghe văng vẳng lại tiếng trống con giòn giã, tiếng đàn cổ nhạn réo rắt, tiếng thanh la huyên náo và thi thoảng lại có từng chuỗi lanh canh tiếng chuông quay tay nghe rờn rợn chói cả màng nhĩ. Lễ hội khai niên của người thiểu số Hưng Châu đã thời sắp sửa. Lịch pháp cổ truyền của Cách Ba gọi tiết này là “xẳm hấu”, cũng giống như Tết Nguyên đán của người Việt và người Hoa. Nhưng lịch của họ khác với nông lịch của người Việt và người Hoa nên Tết “xẳm hấu” của họ cũng không trùng với Tết mình. Tết của họ đúng vào lúc mùa đông thịnh nhất, gió và rét trùng trùng, còn sương muối thì giữa ngọ vẫn bao phủ khắp nơi một màu trắng đục. Sau đợt sương giá này, tuyết ùa về, cũng là Tết “xẳm hấu” rộn ràng bắt đầu từ lễ hội khai niên mà người già Cách Ba gọi là “tảm pun”, một nghi lễ mà cái tình của họ ngoài dâng lên lời khẩn cầu các vị thần bộ tộc giáng xuống để trừ đi tai ách dịch họa cho thôn làng, còn cầu bình an cho muông thú.

“Tảm pun” trong tiếng Cách Ba cổ xưa có nghĩa là “gọi linh hồn của gấu”, nên trong nghi lễ này sẽ có người hóa trang thành một con gấu mang tính tượng trưng. Tiếc là lần lưu lại sơn thôn này không được dài cho tới ngày Tết của họ nên tôi vẫn chưa thể nhìn tận mắt lễ hội “tảm pun” chính thức. Nhưng qua những miêu tả từ sách vở đã đọc và lời kể của dân làng, cũng như xem họ diễn tập thôi mà tôi đã nghe lòng rộn rạo như ao ước đi coi múa lân đêm trung thu thuở nhỏ. Nhất là khi mấy tấm mặt nạ đang ngủ yên dưới mấy lớp lụa đỏ trong chiếc hộp luôn được cất trên ban thờ nhà tư tế đã được hạ xuống ngay trước mắt mình. Trời ơi, từng nét chạm khắc, từng mảng màu sơn, từng thớ vân gỗ tuy đã lên nước thời gian nhưng tôi nghe sống động dưới mỗi một tấm mặt nạ gỗ đó là li ti những mạch máu đang phập phồng thở và nó đang từ từ mở mắt sau giấc ngủ dài. Trong tiếng Cách Ba, từ “Xổng mua chia” có thể hiểu là Trưởng lão tư tế - người chủ trì các cuộc tế thần, lại cũng có thể hiểu là Người tiễn ma. Đeo mặt nạ gấu bốn mắt ánh vàng, mặc chiếc quây đen, khoác áo thụng đỏ, thắt lưng trắng với dải lục lạc đồng, tay trái cầm khiên, tay phải múa giáo, “Xổng mua chia” diễn tả sự cuồng nộ của thần lực đang chiến đấu kịch liệt với ôn dịch và vong ma.

Tự nhiên tôi lại thấy mình đang đứng sau bức bình phong một am hầu đồng theo lề lối Huế xưa nơi xóm nhỏ thơ dại. Cái cảm giác mình bỗng trong suốt ra như có một luồng ánh sáng từ trên cao cùng với muôn vàn tiếng hầu văn sáo nhị đi xuyên qua châu thân từ thuở đó cũng sống dậy trong tâm não tôi phút giây này. Nhất là màu nắng vàng rực từ đâu đó của mơ tưởng xa xôi cứ như đoá hoa cúc nở trên ban thờ tiên tổ chợt làm sống lại mùi hương hoa nhang trầm thanh thao của xứ Huế cũ kỹ mãi thơm tho niềm tin kính thiêng liêng.

Nhà nghề thợ mã ở Huế xưa có một lớp từ ngữ rất độc đáo trong việc diễn tả những trạng thái tâm linh, những dấu mốc quan trọng trong nghi lễ vòng đời con người, cũng như những nghi thức cúng tế mà có lẽ không vùng miền nào có thể sánh được. Như lễ khẳm tháng thì giới thợ mã Huế xưa gọi là “cúng Lốt”, còn lễ thôi nôi gọi là “đổi Lốt”. Không phải muốn gọi thế nào là gọi, nhà nghề thợ mã có một niềm tin riêng biệt và sâu xa về tâm linh đối với các sự kiện nghi thức của vòng đời. “Lốt” là cái vỏ bọc, cái kén bọc gợi lại vết tích ý niệm motif sinh nở thần kỳ trong thần thoại cổ đại của cư dân tiền Việt - Mường. Nhưng cái thú vị là ở góc nhìn nhân học ngôn ngữ, “Lốt” trong tiếng Huế cũng dùng để gọi một cách né tránh gần như kỵ húy các loài rắn theo niềm tin của người Huế và xung quanh vùng Huế xưa. Trong trí nhớ của anh em tôi, tự muôn vàn câu chuyện u linh mà mệ nội kể lại, hấp dẫn nhất ngoài chuyện kể ông Hổ là chuyện về các ông Lốt: ông Lốt có mào; nhất là ông Lốt Dài, ông Lốt Cụt; ông Lốt ba đầu… Ở chỗ khác, dân vạn đò sông nước, dân làm nghề đánh cá trên sông quanh Huế có nơi gọi xuồng, ghe, đò, bè cũng là “Lốt”. Tôi biết được điều này là từ nhà ông mệ Chu ở xóm ngoài, mà theo như lời ông Chu kể thì “nhà tui làm nghề câu cá mấy đời”. Ông Chu tuy là người cầm câu tầm thường thôi, nhưng câu chuyện hãnh diện nhất đời mà ông luôn kể đi kể lại với bà con lối xóm và bọn trẻ nít ham nghe kể chuyện đời xưa tụi tôi là bà mẹ góa của ông được nhận bạc của “tiều đình” vì ông sinh cùng giờ với thái tử Bảo Long nên được “ăn lây”. Bác Minh là con đầu của ông Chu, sống trên cái nhà chồ ngay mé lưng nhà tôi khi còn ở trên xóm Lò Vôi, làm nghề câu trên đoạn sông đào thông vào hồ Ngự Hà từ cống Lương Y. Con đầu của bác Minh được đặt tên là Lốt, tức là xuồng, ghe, đò, bè vì hồi khốn khó đó sắm được chiếc ghe sinh nhai cũng là việc khó khăn trọng đại nên ước mơ nho nhỏ của bác được gởi gắm vào tên đứa con này. Thuở nớ, sông ngòi Huế tôm cá còn nhiều, trong hồ Ngự Hà ngay đoạn cống Lương Y mỗi khi nước về, ba tôi đi rớ cá vẫn còn bắt được thứ cá gần giống cá diếc, nhưng vảy cá và vây lưng có ánh xanh mướt, thịt lại dày hơn, mà mệ nội tôi kể rằng đây là loại cá xưa vua nuôi cho dân. Từ những chứng tích đó, dường như, trong sinh tử quan của người cổ sơ ở vùng Huế và lân cận, có quan niệm huyền bí về rắn tạo ra sự sống như cô gái không chồng mà đẻ ra hai con rắn trong truyện Ông Lốt Dài và ông Lốt Cụt, hay rắn cai quản miền sông nước như truyện Lốt đầu mào, và rắn có cả chức năng là thuyền bè đưa tiễn linh hồn về nơi chín sông trong truyện Lốt ba đầu. Cho nên, theo cách nói của nhà nghề nghiên cứu, việc người ta kết “bằng” hành hương lên điện Hòn Chén tự bản thân nó đã là một biểu tượng: chiếc “bằng” là tượng trưng của con Lốt ba đầu, còn điện Hòn Chén lại là biểu trưng cho Sự sống Thánh linh. Con Lốt ba đầu làm chiếc bè để đưa con người về với sự sống linh thiêng thanh khiết đó để được cứu rỗi và nhận thêm ân phước Ơn trên.

Ngày xưa nhỏ dại, nghe những câu chuyện u mị huyễn hồ này ham thích đến độ cứ nằn nì mệ nội kể đi kể lại cho bằng được, phải nhớ ra nhiều mà kể. Không ngờ nhiều năm sau, chân bước vào nghiên cứu nhân học nghi lễ - tín ngưỡng, mới thấy đó là căn duyên trong đời để có thể có cơ hội mang đôi hài bảy dặm đi ra bên ngoài, mà kỳ diệu thay càng đi lại càng thấy rõ hơn nguyên quán của mình.

Mà nhà nghề thợ mã, biết đâu trong xã hội hòa huyết giữa cổ Việt - Mường và Chiêm Thành cũng có vai trò tương tự như “Xổng mua chia” ở văn hóa tế tự của người Cách Ba?

Chưa hết, nhà nghề thợ mã đời trước kiêng cữ những tiếng bị cho là “vô pháp vô thiên” như “hồn ma” hay “người cõi âm”, mà họ gọi một cách cẩn trọng là “vong vị”, họ cũng không gọi thần này thánh nọ như ở xứ Bắc mà các đấng bề trên được gọi bằng một tiếng đầy sắc thái thâm nghiêm là “Ngài” hoặc “Ơn trên”… Bởi vậy, ở Huế xưa, những ai được cho là khác thường hay tính cách có phần đồng bóng cũng thường được gọi là “Ngài”. Ví dụ như ông Thàng làm nghề bán chai bao ở dưới chân thượng thành Kẻ Trài vốn là “bạn hàng” thân thiết một thuở của cả cái xóm nghèo rớt mùng tơi của tôi, trước ngày tôi xa Huế, khắp làng trên xóm dưới vẫn còn gọi ông là “Ngài Thàng” vì ông hay nói chuyện lầm rầm như nói chuyện với ai đó bằng thứ tiếng lạ lùng mà họ tin rằng là:

- Ông Thàng bán chai bao nớ nói chuyện được với âm binh!

Thành ra, những ngành nghề liên quan đến tang tế ở Huế như thợ mã, thợ hòm, cai đưa linh, thầy bói… đều được xưng là “nghề Ơn trên”. Từ ngữ của nhà nghề thợ mã xưa đã lan ra mọi ngõ ngách trong dân gian, nên đối với người đời trước, “Ơn trên” đã thành một thứ mực thước của lòng người khi cần thể hiện tấm lòng chí tình chí thành, sự cung kính, sự khiêm nhường trong cung cách đối xử với chúng sinh, với đất trời. “Nói có Ơn trên”, “Lạy Ơn trên…” đã từng là câu cửa miệng của lớp người Huế coi trọng sự thành tâm, đề cao sự trong sạch, biết giữ mình với thần minh tiên tổ. Ngày xưa nông nổi, cứ mỗi lần nghe mấy câu thề này từ cửa miệng người lớn cứ thấy sao mà mê tín quá trời rứa không biết. Nhưng rồi đi qua bồng bột, bước giữa cuộc đời một bước mà như lùi một bước, công danh chìm nổi, cõi lòng chợt lạnh giá theo nỗi bất an như lạc trong rừng gươm biển giáo. Có buổi sáng nọ tỉnh giấc, nhìn ra bầu trời bàng bạc hơi sương thấy mình bất quá cũng chỉ là một nhúm lửa leo lét vậy mà cứ cố gắng cháy hết mình. Rứa mới thấy “Ơn trên” nơi cửa miệng của người xưa tuy không ảnh hình để chiêm bái, nhưng lại có thể bám víu vào để mò mẫm đi trong chuỗi ngày im lìm mà cay đắng đó. Có chịu trắc trở, long đong mới hiểu được tấc lòng thành kính của người xưa cố gắng gìn giữ mà truyền lại cho con cháu là bài học đầy thâm ý, mà tiếc rằng, đầu xanh tuổi trẻ luôn tự cho mình là khôn ngoan, chỉ đến khi gần như tuyệt vọng mới ăn năn nhớ lại bài học cũ càng. Nhưng nhiều khi nhận ra cũng đã muộn mằn rồi! Cái câu “ngũ thập tri thiên mệnh” dường như là một cảnh tỉnh như vậy trong tinh thần thiên về ý hội của tư tưởng phương Đông.

Còn về nghi lễ hầu giá Huế, nhà nghề thợ mã cũng có một lớp từ vựng rất riêng biệt. Hầu đồng trong cách nghĩ của nghề mã, của người phụng thờ Thánh Mẫu là một tiếng có sắc thái mỉa mai. Lớn lên giữa tiếng hầu văn, đàn ca sáo nhị, từng bồi hình nộm, làm long thuyền, làm sơn động, đại thọ cho các am cảnh lớn nhỏ ở Huế, tôi biết người trong giới này không bao giờ dùng hai tiếng đó. Họ chỉ gọi một cách vắn tắt là “hầu”, nói nghiêm trang hơn sẽ là “chầu hầu các Thánh Bà” dù rằng, theo kinh nghiệm truyền đời, các vị này không bao giờ giá lâm, chủ yếu là chầu hầu Lục vị Tôn ông, các Cô các Cậu là chính. Các vị Thánh Bà không giáng lâm vì các vị này theo niềm tin nhà nghề như ba tôi kể lại:

- Các Thánh Bà ni lâu đời lâu kiếp hung rồi, toàn là đi tu theo chân Phật, chuyện cứu độ trần gian đã giao lại các Tôn thần, các Cậu các Cô. Còn các Bà chỉ chứng độ cho ai có căn cao mạng dày thôi! Cho nên, cúng đồ cho mấy Bà phải là áo ngũ phụng màu lam, các Cô còn trẻ nên áo xiêm, nữ trang phải rực rỡ. Cúng cho các Tôn ông phải là hia áo mặt rồng, ngai lọng mũ mão phải rôm rả, có đãy đựng trầu có quạt lọng to vì họ chức lớn nên cần uy nghiêm. Cúng các Cậu thì hia nón áo chữ thọ vì tước còn nhỏ, với lại cần có đao, thương, cung, kiếm tùy theo người vì họ trẻ tuổi hay thể hiện cái khí khái.

Đối với người Huế ròng chuyên phụng thờ hương khói các am cảnh điện miếu, cái từ “con nhang đệ tử” cũng là từ xúc phạm không kém. Có thể bây giờ có ít nhiều bớt đi, nhưng cách đây mười năm, tôi tận mắt thấy người quen bị mất lòng vì cái tiếng “đại phạm thượng” này khi một nhà nghiên cứu xứ Bắc tới xin phỏng vấn đã dùng nó để hỏi chuyện. Rứa thì người nhận lộc của các Ngài tự họ gọi bằng gì? Nhà nghề thợ mã cùng các hạng đệ tử tự gọi họ là “chưn hương” hay “chưn hầu” chứ không phải thanh đồng hay cốt đồng. Không biết thời vua Đồng Khánh, người nhận mình là em của Thánh Mẫu là Đệ thất Tôn ông, thì những người bái thờ này được gọi là chi, nhưng mệ Hàn, mệ Diệu là hai “chưn hầu” có tiếng khắp Huế xưa, chỗ quen biết lâu năm từ thời sinh tiền ôn mệ nội tôi, thì gọi như vậy.

Từ góc nhìn nghiên cứu nhân học văn hóa, những điều trên thật sự lý thú. Điều thứ nhất ở chi tiết các Thánh Bà cũng theo chân Phật đi tu, chứng tỏ rằng Phật giáo ở vùng Huế không chỉ là tôn giáo của kinh điển, mà thật sự đã được nội hóa thành tình cảm, cách nghĩ, nền nếp đối đãi với nhân sinh của mọi giai tầng. Điều thứ hai, các đệ tử của Thiên Tiên Thánh Giáo tự gọi mình là “chưn hương” thể hiện một sự cung kính rất thực tế kiểu Việt, cũng là một dạng thức suy niệm về sự sống và cõi sống rất thật tâm. Điều thứ ba, từ cách cúng trang y cho các vị này rõ ràng cho thấy tâm lý tinh tế và kỹ càng của người Huế thời trước. Việc chú ý đến tính cách các Ngài cũng khiến thần linh mang đậm cái tình của con người.

Chính vì vậy, khác với hầu đồng xứ khác, linh hồn của hầu chầu xứ Huế là ở ông thủ am. Ông thủ am phải là một ông thợ mã, và phải là thợ chính. Thợ chính, theo “mực thước” nhà nghề là khoảng lên ba lên bốn tuổi, phải đánh hồ được bằng ngón tay giữa trong lần đầu tiên, dấu hiệu của người được chọn để thấy được người cõi trên. Ông thủ am quan trọng, vì ông là người “môi giới” để các Quan, các Cô, các Cậu, các Tôn ông chịu xuống với “chưn hầu”. Ông phải nắm được tánh nết từng vị mà dâng lễ cúng cho đúng để thỉnh các Ngài về. Cho nên, con nộm trong hầu lễ phải là nộm do thủ am làm, dựa trên hiểu biết của ông về tánh nết các Ngài. Đối với con nít xóm tôi lối trước, đốt vàng mã không chi thích bằng được tiễn mấy con nộm lên trời. Hồi đó, coi Bao Công tới phần có mấy con nộm giấy đấu với ông Rùa tiên, bọn nhỏ càng mê con nộm hơn nữa.

Người xưa nói rứa mà đúng, đời người chỉ sớm chỉ chiều, lấy bản thân làm một nén hương dâng lên cho Ơn trên cũng là cho sự sống của mình có chỗ mà trường cửu, cho thân phận có chỗ mà nương nhờ. Hiểu được điều này, mới hiểu được cái kết của cô Hạnh trong truyện ngắn Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai thật hay, đậm đà tâm tình của Huế, của hồn Việt ban sơ.

Hồi nhỏ, đam mê những câu chuyện ngập tràn không khí thần thoại liêu trai của mệ nội nên tôi rất thích xông xáo vô mấy am hầu đồng để xin làm một “chưn” đốt vàng mã trong những canh hầu. Năm trước về Huế vào đúng ngày hiệp kỵ mấy Bà, đợi đến hương tàn, hai cha con tôi, cha thì tưới rượu, nắm từng nắm hột nổ xanh đỏ tím vàng vãi khắp bốn phía rồi “phất cháo” chia cho các vong vị, tôi thì ngồi đốt từng thoi vàng, từng món y trang. Nếu mệ nội còn, răng rồi cũng nghe tiếng mệ dặn với thằng cháu đích tôn, vì người già xưa ở Huế cúng bái rất bài bản nên tỉ mẩn vô cùng:

- Khi mô con đốt giấy, lửa đương cháy con đừng có rưới nước vô nghe, họ không có đường về, họ đi vất vưởng tội lắm con. Đã đốt là đốt cho hết, kẻo đướihọ không nhận được.

Chỉ một lời dặn rứa thôi, nghe qua thì tưởng chừng là bày vẽ vô lối, nhưng tự trong sâu xa lại chất chứa niềm thương êm đềm như tơ sương với vạn vật chúng sinh. Vong vị nào cũng là một sự sống cả, dù thấy hay không thấy đều bình đẳng như nhau. Vạn pháp nhất như trong kinh điển Phật giáo uyên thâm đến mấy thì cũng như mệ già cũ kỹ xứ Huế này truyền lại cho con cháu niềm tin chất phác mà ý vị ấy.

Chắc vì cũng là thợ chính nghề mã được chọn, nên hồi nhỏ đi coi hầu tôi không thấy sợ, lại thấy có chi đó sáng láng trong tâm tưởng. Khi xem “Xổng mua chia” diễn đoạn vung đao sát quỷ trong nhà tư tế của người Cách Ba, cô gái trong đoàn khẽ lén ra ngoài vì “em thấy không khí rợn quá em không chịu được”, còn tôi thì như cáo quay đầu về non ngàn cố tri. Không biết bao nhiêu người coi hầu ngày đó thấy không, nhưng tới đoạn mấy Cậu về nhập vô o Ly, thằng nhỏ thấy trong mắt o Ly có một chớp đỏ lóe lên rồi o Ly thành ai khác hoàn toàn. Tiếng nói the thé đi, sắc nhọn như tiếng thủy tinh vỡ đâm vào tai, còn tiếng cười đanh giòn như tiếng lục lạc đồng gióng giả. Trông đợi nhất của buổi hầu là khi được ban lộc, o Ly nắm nắm bạc rồi tung bốn phía, truyền cho muôn vàn đệ tử với chất giọng đầy mã thượng:

- Đây, Cậu ban cho cái lộc, nhận đi nghe không!

Giọng o Ly đã không còn như thường, nửa như giọng Nam lại nửa như giọng Bắc, sắc lẻm như lưỡi thép ánh lên trong đêm. Oai như là ông Tướng. Các đệ tử đang đợi hầu giá lẫn người đi xem thì vái lấy vái để, luôn miệng xấm xít khấn vái:

- Dạ lạy Cậu trăm lạy, Cậu phù hộ cho con.

Số phận của Huế là vùng đất được lựa chọn bởi lời tiên tri của cơ trời. Cho nên trên dặm dài non nước này, không có thứ chi không có linh hồn, không có thứ chi lại không được người ta thành kính cảm nhận bằng tất cả sự sống của mình. Từ thân cây cổ thụ đến hòn đá ven sông đều có hồn phách để người ta tin kính mà hương khói van vái gởi gắm mong mỏi của mình.

Trên bức bình phong Huế xưa, cho tới bây chừ vẫn còn rất nhiều bức xứng gọi là kiệt tác di sản văn hóa, bộ tam tự Phúc - Lộc - Thọ được độc tôn chứ không có chữ gì liên quan đến ước vọng kim tiền cả. Nhất là chữ Lộc đã trở thành biểu tượng trong quan niệm của người Huế, vì Lộc là cái căn cơ của sự sống. Cho nên, lá non, nhánh nõn trên cây cối người Huế cũng gọi là lộc.

Tôi nhận ra một điều, người Nhật mến yêu hoa anh đào cũng giống như người Huế nâng niu hoàng mai. Cũng là chơi hoa đó thôi, nhưng người Huế và người Nhật rất khác nhau. Người Nhật đặc biệt mê mẩn sắc anh đào đã đến độ mãn khai, một trời mây hoa trắng hồng, chỉ cơn gió thoáng qua là thành cơn mưa hoa tan tác, đẹp đến nao lòng. Qua thời mãn khai, hoa tả tơi rụng, lá bắt đầu lên xanh, thì đối với người Nhật, anh đào đã là ảo ảnh tàn phai. Nên trong tâm lý văn hóa Nhật Bản, hoa anh đào là loài hoa vô thường. Nhưng người Huế lại đón đợi hoa mai bằng một tâm thế khác. Cái đáng được trông đợi, ngắm nghía là những mầm lộc non tơ nõn nà đã thức dậy hay chưa giữa mùa đông xứ Huế khắc nghiệt. Một cây hoa mai đẹp đúng ý tứ của người Huế là phải có năm cánh hoa vàng chói ngời như nắng trời ẩn hiện e ấp sau tán lá xanh màu lục ngọc mướt mắt. Hái những bao lì xì đỏ trên cây mai ngày Tết gọi là hái lộc, tức là một hình thức mượn lấy sự sống của hoa mai để có sức mạnh vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Cả khi lìa cành về cội, màu hoàng hoa của mai không gợi lên nỗi buồn tàn phai, mà lại cho con người biết chiêm nghiệm về vẻ đẹp của tận cùng sự sống. Khí tiết của hoa mai là ở cái sức sống thủy chung như vậy.

Nghiệm ra điều này rồi tôi mới hiểu, cái lộc mà người ta được ban trong buổi hầu giá, luôn cất bên mình, ấy là sự sống cho muôn vạn chúng sinh đã được siêu hình hóa lên để cố kết lòng người và an ủi cho những tâm hồn cùng quẫn ngoi lên khỏi bí bách của trần gian mà sống tiếp.

Vua Đồng Khánh, sử chép là tin tưởng vào Thánh Mẫu vì được tiên đoán làm vua trong ba năm, lại hé ra được nét nội tâm tin tưởng vào số mệnh cơ trời rất Huế của một ông hoàng đợi thời. Nhưng đọc sâu hơn những trang sử chép về vị vua này, chúng ta cũng biết thêm khía cạnh khác mang tính lịch sử của ông trong thời buổi đó: sự rạn vỡ của lòng người và ý thức cần phải hàn gắn tinh thần cộng đồng khi nền chính trị Nho giáo chính thống đã suy yếu. Tức có nghĩa, tín ngưỡng dưới nhãn quan của vua Đồng Khánh và sẽ tiếp nối dưới triều Khải Định về sau, đã trở thành nỗ lực cuối cùng để kết cấu lại sức sống cội nguồn Việt trước vũ lực phương Tây. Ảnh hình của muôn sắc trang y hầu giá cứ chập chờn trong mi mắt đã khép chặt của tôi, bên tai tôi vẫn còn nghe thấy tiếng lục lạc đồng gióng giã rung lên giữa canh dài núi rừng Hưng Châu đêm này. Nhà thợ mã Huế bây chừ vẫn đang vào mùa thức trắng đêm để kịp làm cho người ta sửa soạn cúng các lễ đầu năm. Chòng chành giêng hai, tựa như con gái mới lớn vừa biết ngọt ngào vừa biết chua ngoa để lòng trai nhớ nhớ thương thương đến ray rứt cả lòng dạ.            

Trong cảm giác mê man phiếu diễu, tôi thấy lại bóng dáng của ôn mệ nội đang vừa hơ tay trên trách than vừa tỉ mẩn đan vót khung tre để làm cây đại thọ, ba tôi thì đang thủng thẳng phả từng hơi khói thuốc khê nồng vừa lên yên cương cho con ngựa đỏ. Dưới cơn mưa bụi lay ray ẩm ướt, mẹ tôi ra đứng ở bến sông trước sân đình dưới tán cây đa cành lá rậm rì phủ kín một khoảng sông tuổi nhỏ. Giọt nước mắt tự nhiên ứa ra nghe nóng hổi hai bên đuôi mắt, thằng nhỏ ngày xưa vùng chạy theo bóng mẹ trong cơn mơ.

Hưng Châu, Kyoto, 3/2026
N.H.T
(TCSH446/04-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Ngọn lửa Pa Hy (20/04/2026)