Bút ký dự thi 2026
Tiếng gọi đò trên dòng sông di sản
14:52 | 20/07/2026

BẠCH DIỆP

           Bút ký dự thi

Tiếng gọi đò trên dòng sông di sản
Minh họa: Nguyễn Thiện Đức

Những chiếc dây phơi và lời hẹn 30 năm

“Lần này Kiên về Huế, mình sẽ đi đò, ngắm trăng trên sông Hương, chị nghe! Hôm rồi em đi Ấn Độ, ghé tham quan Mahalaxmi Dhobi Ghat - xưởng giặt ủi lớn nhất hành tinh, nhìn bọn trẻ gầy nhẳng sống trong khu ổ chuột tạm bợ, bên những hồ nước giặt đục ngầu, giữa tiết trời oi ả, em nhớ tụi bạn “vạn đò” đông đúc của Huế mình ngày xưa quá! Hàng trăm chiếc đò chen chúc với mái che bằng phên, bằng tôn tạm bợ; những chiếc dây phơi lưới, phơi áo quần rách, ni lông và mọi thứ có thể treo được. Dòng sông như bị chặn đứng dòng chảy trong sự hỗn loạn của rong rêu, rác thải và màu nước đục nhờ. Bây giờ họ sống ra sao? Em luôn ám ảnh bởi những cái dây phơi đủ màu thời đó.”

Tôi chờ đợi cuộc hẹn này phần vì Kiên là cậu em dễ thương nhất nhà của người bạn, phần vì đó cũng là cuộc hẹn của chúng tôi hơn 30 năm vẫn chưa thực hiện được. Nhưng chỉ một chặng đò thả trên sông làm sao đủ cho những câu chuyện dài bấy nhiêu năm?

Dòng sông, nơi cất giữ ký ức về đời sống theo một cách rất riêng. Thành phố lung linh ánh đèn, những chiếc cầu thắp sáng, bãi cỏ công viên hướng ra mặt nước,… Con đò nhỏ thả trôi về ký ức. Chúng tôi sẽ trở lại chiều hôm ấy nơi bến sông mịt mù mưa trắng. Mưa quăng quật những mái vòm tạm bợ, nước dập dềnh chao lắc như muốn xô chúng rời nhau, nhưng những chiếc thuyền vẫn co cụm như nương tựa, níu giữ. Rồi cơn lốc ngưng, những cây đèn lại được thắp lên. Mâm cơm nhỏ giữa lòng đò chỉ có rau, cá vụn và khoai độn…

Mới nghe Kiên nhắc vài câu mà tôi đã rớm nước mắt.

Chúng tôi quen nhau từ mùa hè năm 1985, lúc tôi theo học lớp buổi tối ở Trường Đại học Sư phạm. Chúng tôi thường đến lớp sớm hơn vài chục phút để có dịp ra bờ sông đi dạo. Thời đó phố yên tĩnh. Ánh đèn đường chỉ vừa đủ sáng, đôi đoạn “túi thui” vì bóng đèn cháy. Đôi lứa hẹn hò có dịp đi sát nhau hơn. Một cái chạm tay, một hơi thở nhẹ qua tóc cũng làm nhịp tim run rẩy.

Nhà hai anh em Kiên ở bên tê sông. Ngôi nhà nhỏ cách mép nước một bờ cỏ và rặng tre rậm rì soi bóng. Tôi là đứa con gái đến từ phía những ngọn đồi. Tôi chỉ quen với con suối nhỏ róc rách qua bờ đá cuội. Hai anh em họ thường ba hoa đủ thứ về “tuổi thơ dữ dội” bên dòng sông Hương. Họ vớt rong, chèo đò, tập võ, chơi guitar và tập “tán gái” cũng trên cái bến nước ngó ra xóm đò. Tôi biết đến “vạn đò” cũng từ hai anh em nhà Kiên.

Mỗi lần tôi qua chơi, mấy anh em thường ra bến trước nhà. Từ bên ni ngó qua Cồn Hến, cả xóm đò đông đúc có đến cả trăm chiếc. Tôi nhớ anh bạn cười khi tôi hỏi vì sao lại gọi là “vạn đò”. Anh giải thích rằng, trong từ điển tiếng Việt, “vạn” được định nghĩa là “Làng của những người làm nghề đánh cá, thường ở trên mặt sông”. Người Huế có ai lại không biết vạn đò!

Gọi thăm tôi vào tháng trước, Kiên khoe: “Giờ em vẽ tranh. Cũng vì nhớ màu rêu trên tường thành, màu sương nơi bến nước; nhớ xóm đò, nhớ tụi bạn da đen bị ba đánh đòn mà không khóc, nhớ cả tiếng gọi đò bên phía nhà thờ Tân Thủy vọng qua, mệ Thợ lật đật trùm khăn, cuống quýt chống đò…”. “Kiên sớm về đi, bao năm qua rồi!”, tôi dịu dàng nhắc, “Em sẽ bất ngờ khi được tận mắt ngắm sông Hương hôm nay.”

Đã một thời hai chữ “vạn đò” làm người ta ngần ngại. Họ sống chen chúc trong những con đò nhỏ, giữa vùng sông nước cáu bẩn, sinh con đẻ cái không có khai sinh, loay hoay bao đời với nghèo túng, thiếu thốn, trẻ con ít được đi học. Ngày ấy, giữa người “trên bợc” và “dưới đò” thường có một khoảng cách rõ rệt. Nhưng với anh em nhà Kiên thì không. Kiên nói Kiên luôn nhớ vì mình đã từng ở đó. Từng chia với lũ trẻ trong khoang đò chật hẹp củ khoai nướng, miếng bánh tráng. Tôi từng ứa nước mắt khi nhìn gót chân hai anh em Kiên nứt nẻ, da bợt ra, đó là dấu vết của bốn mùa anh em Kiên theo lũ bạn dưới xóm đò đi vớt rong, cất te, phụ thả lưới. Có lẽ vì thế mà Kiên nghẹn lại khi đứng giữa Mahalaxmi Dhobi Ghat, nơi mặt trời thẳng đứng rọi lên những phận người sống trong khu ổ chuột. Con người vẫn mải miết kiếm tìm hạnh phúc trong tương lai nhưng có những ngày quá khứ bỗng vọng về, như một tiếng gọi đò bên bến sông mù sương ngày cũ.

Bến cũ mù sương

Từ xưa, các tập địa chí viết về thành phố Huế đã đề cập đến giá trị tự nhiên, kinh tế, cũng như yếu tố con người trên dòng sông Hương và vùng đầm phá Tam Giang. Tiếp đó là các nghiên cứu của học giả người Pháp Pierre Gourou, và gần đây là công trình Cư dân mặt nước do Tiến sĩ Lê Duy Đại chủ biên (2013). Sông Hương và vùng đầm phá Tam Giang hiện lên như một không gian sống đặc biệt của cư dân thủy diện. Không chỉ là câu chuyện địa lý hay kinh tế, đó còn là một đời sống hình thành trên mặt nước, với tập quán, sinh kế và ký ức nối dài qua nhiều thế hệ.

Huế có bờ biển dài, hệ thống sông ngòi, đầm phá phong phú, trong đó sông Hương và hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một dạng “lagoon” ven biển nhiệt đới độc đáo. Hệ thống sông đào ôm lấy kinh thành như những nhánh tay mềm hòa dòng ra biển. Theo Đại Nam nhất thống chí, vào thời Minh Mạng, Huế đã có đến 50 bến đò. Khi kinh đô đặt bên dòng Hương, thuyền đò từ khắp nơi tụ về. Dân cư tăng lên, nhịp sống trên sông cũng dần tấp nập. Đầu thế kỷ XX, những bức ảnh cũ đã ghi lại cảnh vạn đò trải dài từ Hương Hồ đến Bao Vinh. Nhà Nguyễn từng trưng dụng dân vạn chài vào việc vận chuyển, đi lại, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã lập xưởng đóng thuyền phục vụ triều đình.

Cho đến thời kỳ năm 1965, chiến sự ở các vùng duyên hải xảy ra liên miên khiến thuyền bè các nơi dồn về Huế, tạo nên những xóm đò tạm cư đông đúc. Theo số liệu trước năm 1975, riêng 11 vạn đò đã có gần 19.000 người, sống trên hơn 2.000 chiếc đò dọc khúc sông từ Kim Long đến Bao Vinh. Từ chỗ cư trú thưa thớt, càng về sau, những xóm đò quần tụ thành vạn, neo gần nhau để nương tựa, mỗi vạn là một cộng đồng nhỏ với những tên gọi riêng: An Hội, Ngư Hộ, Lành Canh, Tân Bửu, Trường Độ, Lợi Nông…1

Chiến tranh và đói nghèo dồn đuổi xuống cả mặt nước. Những khoang đò chật hẹp như căn nhà nhỏ chứa góc thờ, chỗ ngủ, bếp đun... Kiếm sống khó khăn là vậy nhưng nhà nào cũng sinh rất nhiều con. Từng nghe, có gia đình sinh cả thảy 16 đứa con. Những đứa con nít xóm đò da đen nhẻm, tóc hoe vàng, cọc còi, bụng ỏng, lớn lên giữa sông nước, không được học hành, nhiều đứa vướng vào tệ nạn mà cha mẹ không hay biết.

Tôi nhớ Kiên hay nhắc về chị Cẩm, người đàn bà gầy gò bưng trái cây thuê ở chợ Đông Ba. Từ nhỏ theo gia đình trôi dạt trên đò, lớn lên, lấy chồng cũng là dân sông nước, lại tiếp tục đời sống nổi trôi. Chị nói với Kiên giọng buồn thiu:

- Hơn trăm năm rồi, con đò ni đã có ba đời ở. Không biết mai đây sẽ trôi về mô? Tội nghiệp bọn con nít cứ bị quây lại trong lòng đò, sểnh ra là rớt xuống nước.

“Cái ranh giới ‘trên bợc’ ‘dưới đò’ biết bao giờ mới vượt qua được!”. Kiên vẫn thường nói thế khi kể về những cảnh đời đầy cơ cực. “Họ sống đã khổ nhưng tủi nhất là chết cũng không có đất chôn. Nhiều người nghèo quá không mua nổi hòm chỉ bó chiếu, rồi tìm cồn cát hoang mà vùi.”

Có lần tôi hỏi hai anh em Kiên vì răng người Huế gọi “đò” mà không gọi “thuyền” như nhiều nơi khác. Anh cười: “Chiếc đò Huế thanh thanh, mui cong mềm như chiếc lá, hợp với mặt nước hiền lành của sông Hương. Xưa chừ gọi ri quen rồi, nghe là thấy gần gũi, không đổi được nữa.” Huế vốn vậy, cái chi cũng vừa vặn, từ cái bánh, chén chè, tô bún… đến cả ngôi nhà cũng vừa đủ để còn chừa một khoảng sân trồng vài bụi rau, mấy cây bông. Chiếc đò nhỏ nhưng làm bằng thứ gỗ bền, ghép kín từng mạch, che chở qua bao mùa nước. Nó không chỉ là phương tiện, mà là một mái nhà, chở theo ấm êm và cả dông bão, âm thầm cất giữ những biến động của trời đất và những đổi thay lặng lẽ của kiếp người.

Bây giờ, đứng trước mặt sông lặng như gương, nhìn những con thuyền dập dềnh trong làn nước trong veo, mùi hoa cỏ đôi bờ, tôi nhớ đến những khuôn mặt từ khoang đò năm nào. Những ánh mắt buồn, ngơ ngác. Ký ức, đôi khi vẫn trở lại như màn sương chưa tan trên bến cũ chợt khiến người ta thấy nhói lòng.

Lên bờ - Như một giấc mơ

Từ bến đò mệ Thợ năm xưa (nay là công viên Trịnh Công Sơn) nhìn sang bên kia sông, thành phố mang dáng vẻ rất riêng của một đô thị hòa quyện nét đẹp Đông - Tây. Những ngôi biệt thự trắng thấp thoáng trong ánh sáng dịu dàng, những khối nhà cao tầng vững chãi vẽ lên đường chân trời một nhịp điệu mới. Cồn Hến xanh như một bài thơ, những bờ cây rũ bóng trên mặt nước màu lục ngọc, sóng níu mắt lưới lấp lánh ánh vàng hoàng hôn. Bao lâu rồi mới được nghe tiếng gõ gọi cá bên mạn thuyền. Sông Hương được trả lại vẻ thơ mộng vốn có với dòng chảy mềm mại đi qua đền đài, lăng tẩm, những ngôi làng bình yên cổ tích, những khu phố, bãi cỏ, vườn hoa đang mùa tươi mới. Giữa hai bờ, không chỉ là một dòng chảy, mà còn là khoảng lặng của thời gian, nơi cái cũ vẫn được gìn giữ, tôn tạo và cái mới được soi mình.

Qua Cồn Hến, tôi ghé thăm một người quen. Chiều đang xuống, nắng chiếu xiên, bóng nước chấp chới. Anh nhấp trà và kể:

- Hơn hai trăm năm trước, hai bà cố của mình vốn là hai công chúa vì theo một người thợ vôi và một thợ sắt mà bị đưa về vùng heo hút này. Rồi chính từ nơi đây, các bà lập nên làng Bồi Thành, về sau xóm trên xóm dưới hợp thành Cồn Hến.

Chuyện cũ xen mới. Giờ nước lên, những con sóng chạm thấu đám rễ si chừng vài trăm năm tuổi. Mặt sông trải ra như một tấm lụa xanh giữa hoàng hôn. Gần bảy mươi năm sống trên đất Cồn, anh chị thuộc lòng từng nếp sinh hoạt của những xóm đò từng chen chúc trước bến. Anh nhớ cho đến khi anh chị lập gia đình và sinh con thì khúc sông này vẫn là một cái xóm tối thui khi đêm về, không điện, không nước sạch. Bà con trên “bợc” thương thì chia sẻ cái ổ cắm điện, can nước máy. Đến mùa mưa bão, giữa đêm sóng to gió lớn tiếng kêu đò chìm, có người đuối nước nghe cắt ruột cắt gan…

Đến bây giờ, nói về quyết tâm di dời dân vạn đò, thế hệ chúng tôi đều nhớ tới cố Bí thư Vũ Thắng. Người ta kể, ông đã mất ăn mất ngủ với lời hứa đưa bà con lên bờ. Sự kiên trì, tâm huyết của ông cùng quyết tâm của nhiều thế hệ lãnh đạo và chính quyền thành phố đã biến giấc mơ an cư của hàng vạn người dân vạn đò thành hiện thực. Hơn 60 khu tái định cư hình thành cho khoảng 3.000 hộ dân từ phá Tam Giang, Phong Điền đến Phú Lộc. Những mái nhà cao ráo, vững chãi dần thay cho những chiếc đò mong manh giữa mùa mưa bão. Vạn đò trên sông Hương cũng vậy, họ sẽ có một mái nhà trên đất! Phải sớm ổn định cuộc sống cho bà con và bảo vệ dòng chảy của sông Hương, bảo vệ những trầm tích được xướng danh là Di sản Văn hóa của nhân loại2.

Theo ông Lương Hồ Bá, người từng có 6 năm tham gia vào Ban Quản lý Dự án tái định cư cho dân Vạn đò của tổ chức phi chính phủ Tầm nhìn Thế Giới, khối lượng công việc không nhỏ của chính quyền cùng sự chung tay của các tổ chức quốc tế đã làm nên một cuộc lên bờ lịch sử, có thể coi đây là chương trình “vĩ đại và nhân văn” nhất từ năm 1975 đến nay cho 1069 hộ dân với hơn 7.000 nhân khẩu. Họ đã rời đò lên các khu định cư mới ở Kim Long, Hương Sơ, Phú Hậu, Phú Mậu. Những mái nhà ấm áp khô ráo, con đường rợp bóng cây, tiếng nan xe đạp lạch xạch buổi sáng, những điều rất đỗi bình thường nhưng với bà con vạn đò, đó như một sự dịch chuyển của số phận. Hy vọng cho một thế hệ trẻ cũng bắt đầu, họ học cách sống mới, tự tin, vững vàng hơn, cơ hội bước ra khỏi vòng mưu sinh quẩn quanh của bao đời.

Tôi lên Kim Long vào một buổi chiều. Mới đầu hè mà ve đã râm ran khắp những con đường xanh bóng lá, hương nhựa cây phảng phất. Tiếng trẻ con đá bóng vang từ khu sinh hoạt cộng đồng. Dưới tán phượng xanh là những dãy nhà cấp bốn, nhà nào cũng có cổng rào kín đáo. Có tiếng máy nổ lẫn trong tiếng búa đập sắt. Có nhà đang xây mới, đám thợ lúi húi làm việc như chẳng để ý gì đến buổi chiều đang xuống.

Tôi gặp Hằng trước khu nhà của 50 hộ dân Bến Me lên bờ năm 1999. Em nói:

- Mười chín tuổi em theo ba mạ lên đây. Dưới đò, mở mắt là thấy sóng, quanh năm chòng chành. Mưa bão thì cực lắm, không tả nổi. Giờ có trường, có bệnh viện gần nhà, tụi nhỏ có chỗ học chỗ chơi… mừng lắm chị ạ!

Bà Nguyễn Thị Mót góp chuyện:

- Mừng chơ! Tui tám mươi tuổi rồi, bốn đời trên đò. Ngày lên bờ, mừng đến ứa nước mắt. Ở mô cũng phải làm ăn. Nhưng được nhà nước cho nhà, cho đất… hồi đầu nghe nói trả góp, bà con còn hơi lo lắng. Sau rồi nhà nước cho luôn. Giữa phố đông vui, bước ra là có trường, có trạm… Chừ thì con cháu chỉ lo học, lo làm để theo kịp người trên phố.

Không ai còn nhớ chính xác ngày đầu tiên rời đò. Như một khúc sông lặng lẽ đổi dòng, họ lên bờ với sự ngập ngừng nhưng khấp khởi. Sông Hương vẫn chảy, những đợt di dời nối tiếp nhau. Mỗi gia đình rời đi mang theo một phần ký ức, tiếng nước vỗ mạn đò buổi sớm, những đêm trăng vắng gió, những cơn bão bất ngờ, chiếc đò tơi tả không còn một chỗ khô ráo, bữa no bữa đói. Rời nơi chốn lam lũ mà sao mắt ai cũng chừng rưng rưng.

Tìm lại một tiếng đàn trên sông

Lần Kiên rời Huế, chúng tôi ngồi trên bến nhà, đợi trăng 16 lên từ phía Đập Đá. Ánh trăng như rắc bạc lên mặt sóng. Những con đò nằm sát bên nhau, trong khoang mù mù ánh đèn màu vàng quạch. Anh bạn tôi chơi bản “Giọt Lệ” (Lágrima). Đứa nào cũng lau mắt. Anh Hòa sống dưới chiếc đò nhỏ gần bến Cồn thường lên hát góp vui. Anh bị tật chân nhưng bơi giỏi như một con rái cá. Cả xóm đò ai cũng biết tiếng vì anh đã cứu được nhiều người đuối nước. Anh nói: “Khi Kiên về, xóm đò anh đã lên bờ rồi. Tụi anh sẽ có nhà trên đất, có hộ khẩu hẳn hoi. Chính quyền đã mở các chương trình tuyên truyền, tập huấn cuộc sống sinh hoạt để bà con không bỡ ngỡ.”

Mới đó mà đã hơn hai mươi năm. Tôi lấy chồng phía bờ Nam, cũng không mấy khi gặp lại bạn cũ. Năm trước gặp Kiên trên mạng, em luôn nhắc chuyện sông và đò. Kiên nhờ tôi tìm lại anh Hòa. Tôi nhận lời, như nhận lại một sợi dây nối mình với một phần đời đã trôi.

Sáng Chủ nhật, tôi về Dương Nỗ. Ủy ban phường vẫn làm việc. Chủ tịch phường nhiệt tình giới thiệu người có thể cung cấp thông tin về các khu tái định cư. Nhưng tôi nôn nóng nên tự tìm về tận nơi. Xe qua cầu Mậu Tài, cây cầu nhỏ bắc qua sông Phổ Lợi, dòng sông góp phần tạo nên mạng lưới thủy văn dày đặc của vùng ngoại ô Huế. Lúa đang thì ngậm sữa hẹn một mùa trĩu hạt. Trường học, sân bóng, trạm xá nối nhau dọc con đường vào làng - dấu hiệu giản dị của một đời sống đã từng ngày ổn định. Ghé qua trạm xăng Thanh Hương hỏi đường, nhân viên đong xăng vừa chỉ đường vừa vui vẻ khoe: “Em là người vạn đò lên đây chị ơi!”. Tôi vui quá, cậu ấy còn rất trẻ nhưng trông nhanh nhẹn tháo vát. Vừa làm việc cậu vừa tranh thủ trò chuyện:

- Em tên Mùi, trước đây sống dưới “nôôc” vạn Đông Ba. Nhà có 8 anh chị em. Ba kéo lưới, mẹ làm thuê không đủ tiền nuôi ăn chưa nói đến việc học. Ngày lên bờ tụi em mừng lắm. Ba mẹ kiếm việc làm trên cạn cũng đỡ vất vả. Các em được đi học và có việc làm. Như ri là đổi đời đó chị!

Tôi ra xe, cậu còn vói theo:

- Chị biết chỗ nào cần người, nhắn em với. Bạn em nhiều đứa muốn đi làm lắm!

Mười giờ sáng mà nắng đã bắt đầu rát mặt nhưng tôi vui khi nhớ nụ cười của em. Con đường nhựa thẳng lối, xanh xanh bờ cỏ và hoa dại. Khu định cư của bà con nằm trên vùng đất rất tiện đi lại. Nhà sát nhà, lối đi từ đường vào chỉ cách mấy mét. Ngó ra là cánh đồng xanh ngút mắt. Có tiếng chó sủa, vài con gà lục tục kiếm ăn, mấy đứa con nít giành nhau đồ hàng dưới gốc bàng. Tôi dừng lại trước một ngôi nhà có tiếng nhạc. Bên trong là phòng khách sáng sủa, đồ gỗ chạm khắc tinh tế. Trên tường treo huy chương và tấm bằng khen thủ khoa đầu vào một trường cao đẳng ở Huế. Chủ nhà là anh Dương Văn Khả sinh năm 1982, anh chia sẻ:

- Thời mới lên bờ, bà con không biết chữ, nghề nghiệp tạm bợ, sinh con đàn mà không có giấy khai sinh, hộ khẩu. Nhưng nhà nước cho mái nhà, chúng tôi chí thú làm ăn. Có đò thì ra sông đánh bắt, nuôi cá lồng, khai thác cát sạn, người thì làm thợ nề thợ mộc, phụ nữ thì bán buôn ở chợ to chợ nhỏ. Mỗi năm có đến vài chục học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng và đại học. Nhớ sông nước nhưng không ai muốn trở lại cuộc sống ngày xưa nữa.

Nếu Lại Tân - Phú Mậu là nơi dành để tái định cư cho bà con sống trên sông Hương thì Phú Hậu và Hương Sơ là nơi định cư cho số bà con sinh sống trên sông đào Đông Ba, Kẻ Vạn. Tôi ra Phú Hậu lúc sương sớm vừa tan. Bốn tòa nhà màu vàng như điểm nhấn giữa vùng ngoại ô đông đúc. Nắng sớm chiếu lên những ô cửa sổ. Đây là khu định cư đón bà con vạn đò từ những năm 2008. Tôi lên lối cầu thang khá cũ. Có mùi cafe, thức ăn bữa sáng, tiếng xe máy khởi động, một vài bác xích lô nhón chân đạp vội ra đường. Ở đây có sự lộn xộn của một khu tập thể cũ, người ta sẽ va vào rác, sẽ gặp những mảng tường tróc sơn, mạng nhện, khói và dây điện. Nhưng hơn cả đây chính là nơi trở về ấm áp của hàng trăm người trên đường mưu sinh. Dưới gốc bằng lăng, tôi gặp mấy chị em trên đường ra chợ. Hiện tại dù mức sống của bà con chưa đồng đều lắm. Nhiều người có việc làm trong công sở, mở nhà hàng, quán cafe, có người vất vả hơn thì bán hàng rong, phụ thợ hồ... Nhưng ai cũng nghĩ an cư rồi, cố thêm chút, đời sống sẽ ngày một tốt hơn.

Rồi “vạn đò” sẽ trở thành ký ức của đời người đời sông trong dòng chảy không ngừng về phía tốt đẹp. Cũng từ đó, bao người lặng lẽ với mơ ước hòa nhập và phát triển để tự tin vượt lên giữa đô thị hôm nay.

Thơm hương thạch xương bồ

Tưởng chỉ là nói chơi, vậy mà Kiên trở về đúng mùa lễ rước Thánh Mẫu. Suốt dọc bến sông, từng hàng thuyền rồng trang hoàng lộng lẫy thả neo dưới bóng mát cây xanh. Những hoa văn đắp nổi bắt nắng sớm, ánh lên như dát vàng. Từ xa đã nghe tiếng sênh phách réo rắt chen lẫn tiếng máy nổ chuẩn bị rời bến. Người vạn đò xưa nay vẫn có một đời sống văn hóa riêng. Họ thờ Thiên Y A Na của người Chăm, thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh của người Việt. Mỗi độ tháng ba, tháng bảy, những đoàn thuyền rước lại nối nhau trên sông Hương, cờ quạt rực rỡ, đưa sắc phong và án thờ từ đình làng, từ những điện thờ ven bờ, xuôi về điện Hòn Chén. Đó là những ngày bà con vạn đò bận rộn và vui nhất. Họ đưa đón khách, tham gia lễ rước và cầu nguyện. Thuyền nối thuyền, không gian thơm mùi trầm hương, một không khí linh thiêng và rộn ràng của lễ hội lan qua đôi bờ.

Chúng tôi hẹn nhau cà phê sớm bên sông, khi Kiên vừa bơi một vòng qua Cồn Hến. Chúng tôi lại nhắc đến anh Hòa. Thường sau vài chén rượu, anh trầm ngâm ngó ra mặt sông và ngâm khe khẽ:

Chàng về thiếp ở sao yên,
Chẳng tha ta trẩy một thuyền cùng nhau.

Rồi nói chắc nịch: “Những câu hát này chỉ có thể là lời của người vạn đò, sau một mùa lễ hội.”

Nghe tôi kể chuyện đã đi tìm anh Hòa ở những khu tái định cư mới mà chưa gặp, Kiên bỗng thoáng buồn. Nhưng cũng từ những chuyến đi ấy, tôi có thể trả lời cho Kiên một câu hỏi khác: Bà con vạn đò bây giờ sống ra sao.

Qua giới thiệu của một người bạn, tôi đã gặp một bếp trưởng trẻ của khu nghỉ dưỡng Bà Nà. Trong không gian bếp mở của khách sạn năm sao, anh xuất hiện chỉnh tề và điềm tĩnh. Những chiếc bánh Pháp cổ điển qua tay anh mang một vẻ kiêu hãnh kín đáo. Ít ai hình dung người đầu bếp ấy từng có tuổi thơ lênh đênh trên sông Hương. Hà D là con trai của một vạn đò, 7 tuổi, cậu được lên bờ định cư ở Phú Hậu. Giấc mơ làm những chiếc bánh thơm mùi bơ nướng đặt bên những dao nĩa và ánh sáng đèn chùm của cậu đã thành hiện thực. Từ một đứa trẻ làm kẹo thuê, được chọn theo chương trình đào tạo bánh mì Pháp Boulangerie Francaise, anh chính thức bước vào môi trường khách sạn cao cấp. Anh chia sẻ:

- Nhà tui mấy đời ở đò. Ngày lên bờ, tụi tui vui lắm. Được như ngày hôm nay, là sự nỗ lực của bản thân cùng những cơ hội mà thế hệ chúng tôi may mắn nhận được. Tôi sẽ cố gắng nhiều hơn để khẳng định hình ảnh đầu bếp Việt làm bánh Âu chuyên nghiệp trong không gian ẩm thực toàn cầu.

Về phía thượng nguồn sông Hương, tôi vẫn thường ghé thăm họa sĩ Nguyễn Văn Tuyên. Căn nhà gỗ trên một bến nhỏ ở Hương Hồ ngó sang Long Thọ, Lương Quán. Khúc sông ở đó mở rộng, nước trong vắt, mấp mé những vườn thanh trà đổ bóng. Ngồi nhìn ông vẽ, tôi có cảm giác gió sông thấm vào từng nét cọ. Năm nay ông đã ngoài 80 tuổi. Sinh ra và lớn lên trên đò, khi lên bờ ông cũng chọn ngôi nhà ở sát mép nước. Những con đò, những lớp sóng, những mảng màu trong tranh ông như giữ lại một phần đời đã trôi đi. Ông chỉ bức tranh có người đàn bà chèo đò chở củi qua bến Linh Mụ, nền trời đỏ sẫm, chiếc áo lam nhòe giữa màu sông như một vệt nước: “Tui vẽ mạ tui đó!” Bàn tay ông run run đặt lên bức họa như chạm đến ký ức cuộc đời mình.

Cà phê sáng bên sông Hương luôn là điều người ta muốn làm khi về Huế. Ở đó, sự dịch chuyển của dòng sông dường như đã xóa đi nhiều câu chuyện buồn. Chúng tôi ngồi giữa ban mai trong trẻo, nhìn nắng xiên trên mặt nước. Sông Hương như tấm lụa mới phơi, mở ra xanh trong, êm chảy giữa đôi bờ khởi sắc. Và họ, những người rời bến, từ biệt đời sống lênh đênh, đã thực sự có một cuộc tái sinh. Như nhà nghiên cứu Trần Đình Hằng từng nhận định: “Họ đã được trao cơ hội để thay đổi số phận, từ những cư dân ngoài lề đô thị trở thành một phần chính thức của đô thị.”

Chúng tôi ghé một chiếc thuyền du lịch chuẩn bị đón khách đi Thiên Mụ. Cô gái trẻ gọi với theo hai đứa nhỏ: “Học ngoan, chiều mẹ đón sớm!” Rồi quay lại chào chúng tôi, cô cười:

- Em là Lê Na. Nhà em từng bốn đời ở đò. Và bây giờ tụi em làm du lịch trên sông.

Sau khi lên bờ ở Hương Sơ, ba cô đăng ký vào đội thuyền du lịch của thành phố. Ông bà dành dụm cho con cái đi học và đóng thêm bốn chiếc thuyền kinh doanh 20 năm qua. Anh Nghĩa hướng dẫn viên đi cùng đoàn khách nói thêm: “Na nói tiếng Anh rất tốt. Cô vừa phục vụ du khách vừa kể chuyện cuộc sống trên đò. Gia đình có thu nhập ổn định, các em của Na có ba bốn người tốt nghiệp Đại học, có người làm ban đối ngoại của một khu công nghiệp lớn, có người làm bếp trưởng của khu du lịch nổi tiếng ở Phú Quốc.”

Na cúi xuống vun luống khoai bên mép nước:

- Chừ ít ai còn nói “trên bợc dưới sông” nữa. Con em vạn đò chăm chỉ học hành, nhiều em học giỏi lắm.

Cô kể về đứa cháu mang họ Tôn Nữ, rồi cười tinh nghịch:

- Lên bờ, chị gái em đến trường như bao học trò trên phố. Anh rể là một chàng trai con nhà hoàng tộc đã xin hỏi cưới nên cháu gái của em có họ Tôn Nữ là vì rứa.

Mặt sông mở rộng với những vòng sóng chấp chới ánh bạc. Khúc quanh trước bến đò mềm như một nét vẽ trên tà áo lụa qua vòng eo thiếu nữ. Mùi hương thạch xương bồ thoảng trong gió. Kiên nhớ những đêm trăng nằm trên mũi đò hóng gió, anh Hòa đã kể cho cậu nghe về giống cỏ này. Mùi thơm của cỏ làm nên truyền thuyết về dòng sông Hương, dòng sông của cỏ thơm! Anh nói, người vạn đò xưa lênh đênh trên sông nước nên tâm hồn họ cũng như lòng thuyền đón gió. Họ sống lam lũ nhưng tình nghĩa và không thiếu những ước mơ.

Nhìn lại, lần đưa dân lên bờ định cư năm ấy không chỉ là một quyết sách. Đó là một lựa chọn mang chiều sâu nhân văn. Bao phận người rời chốn bấp bênh, an cư lập nghiệp, và giấc mơ của họ là có thể trở lại với tâm thế của những người làm chủ dòng sông, có tri thức, giàu lòng tự trọng và tình yêu với nơi họ đã gắn bó bao đời.

Tiếng gọi đò trên dòng sông di sản

Tôi ngồi tựa lưng vào mạn đò, cảm giác thật gần để ôm lấy mùi hương trầm, cả vị ngai ngái của cỏ thơm và rong rêu trong hơi nước. Có những khoảnh khắc, hoàng hôn nhuộm cảnh vật đôi bờ bừng lên màu sắc nồng nàn của hội hè. Những vài sắt của cây cầu Trường Tiền như được phủ một lớp sơn mài màu lam bạc. Cắt ngang những cuộn sáng bồng bềnh của mây trên sóng, những chiếc thuyền rồng thủng thẳng ngược sông.

Chiều nay, như đã hẹn, Kiên cùng nhóm bạn từ Hà Lan về đợi tôi trên bến đò Cồn Hến. Anh Nguyễn Văn Thịnh, 40 tuổi nối nghiệp cha, là người chèo đò “cuối cùng” của bến này vì không lâu nữa, một chiếc cầu mới sẽ bắc ngang qua đây. Thịnh đẩy tay chèo, giọng nhỏ lại khi tôi hỏi thăm về anh Hòa:

- Anh ấy mất cũng đã ba năm rồi. Con anh giờ làm chủ một cơ sở khai thác cát sạn. Đôi lần đò cậu ấy vẫn ngang qua khúc sông này.

Chúng tôi ngồi lặng đi nghe tiếng nước trườn qua mạn đò. Kiên cầm chèo, ánh mắt xa xăm. Đò qua bến Thương Bạc rồi nhắm hướng Thiên Mụ. Trăng đã lên, quầng sáng vàng dịu lung linh mặt nước. Khúc sông này trước năm 1975 là nơi quần cư của vạn đò Tân Bửu, người Huế xưa còn coi Bến Me là “khu đèn đỏ” vì sự tối tăm và phức tạp ở đó. Bây giờ, bờ sông là con đường lát đá mềm mại giữa thảm hoa cỏ xanh tươi. Và bất ngờ, cây cầu bán nguyệt như một mảnh trăng soi bóng giữa mặt nước. Luca và Sem thực sự thích thú khi được tham gia chuyến đi này. Sem vừa bật máy quay cây cầu Nguyễn Hoàng vừa trầm trồ:

- Chúng tôi đã đi qua nhiều con sông, nhưng sông Hương của các bạn đẹp như chính cái tên của nó. Câu chuyện về những người con của dòng sông như chàng lái đò kia mãi là kỷ niệm khó quên.

Khúc này mặt sông trải rộng hơn. Sắc thiên thanh tươi mát của buổi chiều đã tản ra, mặt sông chuyển màu tím nhạt dưới trăng. Những chiếc thuyền rồng đậu san sát đợi khách. Có thuyền lớn trang trí sang trọng, có nhiều thuyền nhỏ trông vẻ cũ kỹ cả màu sơn lẫn nội thất. Sam xuýt xoa khi thấy một chiếc đò nhỏ đang thu lưới quay về.

- Đẹp quá! Sao các bạn không làm du lịch với những mẫu thuyền cổ xưa này?

Chúng tôi nói về những cố gắng mà người Huế đang làm với ý thức “ứng xử văn hóa, cẩn trọng, bảo vệ bằng được sự nguyên vẹn, thơ mộng và sang trọng của sông Hương”. Biết bao tao nhân, mặc khách từng vương vấn một giọng hò đêm trăng với bóng con đò dịu dàng như nét vẽ gầy nhòe trên màn lụa mỏng. Nó chở theo ký ức màu thiên thanh nơi mặt nước tĩnh tại nghiêng nghiêng qua lòng phố, một nét Huế “không nơi nào có được”, như một làn sương mỏng đợi buổi sớm mai là chực tan ra.

Tôi kể có lần được nghe hai nhà nghiên cứu văn hóa Huế trò chuyện về việc nên tổ chức một cuộc thi để chọn một mẫu thuyền du lịch cho sông Hương: “Chúng ta sẽ chọn bản thiết kế phù hợp với Quần thể Di tích Cố đô và dòng chảy mềm mại của sông Hương. Những con đò gỗ mui tròn nên trở lại với đầy đủ tiện nghi và chủ đò sẽ là “hậu duệ” của vạn đò xưa. Với kỹ năng cứu hộ cùng kiến thức về lịch sử, du lịch và cả ngoại ngữ, hơn ai hết họ sẽ kể câu chuyện của đời mình và cả lịch sử một vùng sông nước xứ kinh kỳ.”

“Cũng có thể có thuyền buồm trên sông Hương chứ?” - Kiên nói khi mở tác phẩm “Sông Hương ở xứ Huế” của Charles Ulmann, vẽ năm 1907. Bức tranh vẽ một khúc sông với làn nước xanh màu ngọc và bờ cây soi bóng. Cận cảnh là chiếc đò gỗ đợi khách. Phía ngọn núi Kim Phụng lẩn khuất trong mây là chiếc thuyền buồm màu trắng trên mặt nước êm đềm. Thế giới qua bao đổi thay nhưng sông Hương vẫn giữ dáng vẻ yên bình ngàn năm ấy.

“Du thuyền trên sông Hương ư, thật tuyệt!” Luca nói. Anh ấy là một kiến trúc sư. Anh kể về việc làm du lịch trên các con kênh bên những ngôi làng cổ, những con phố đẹp của Hà Lan nơi anh sinh ra. Họ nói về Bangkok với những chợ nổi, Paris với những chiếc du thuyền trên sông Seine biến bữa tối thành một buổi trình diễn. Anh khẳng định:

- Người Huế sẽ chọn cách tốt nhất để sông Hương kể câu chuyện của mình.

Thịnh quay mũi đò về xuôi, có tiếng cá búng sát mạn thuyền, mặt nước như vỡ ra những mảnh lấp lánh. Anh cười thật hiền:

- Đời vạn đò còn chi hơn có được ngôi nhà trên đất và ngày ngày được trở lại với sông. Cũng còn nhiều bà con lên bờ lâu rồi mà vẫn chưa ổn định được. Tụi tui luôn dặn dò con cái nếu chú tâm học hành thì sẽ có lúc đổi đời.

Đêm sông Hương dịu dàng như một hơi thở nhẹ. Đò qua cầu Trường Tiền, đôi bờ lộng lẫy ánh đèn, mặt sông như một sân khấu rộng. Có tiếng hò mái nhì cất lên giữa màn đêm xanh lam huyền hoặc. Hai chiếc thuyền lớn của anh Tân, một hộ vạn đò kinh doanh du lịch rất thành công đang cập bến.

Rời đò, tôi ngoái lại nhìn bóng Thịnh ngồi khom trước mũi thuyền. Bỗng dưng bến sông xưa dày đặc những chiếc đò giăng đầy dây phơi, phên tre rách nát, những gót chân dầm nước vớt rong của anh em Kiên… như hiện ra trước mắt. Những bàn chân bắt đầu từ cuộc di cư rời mặt nước giờ đã đặt lên bao vùng đất xa xôi trên thế giới.

Bầu trời phía Tây như sáng lên bởi một ánh sao giữa vòm nhung xanh thẳm. Kiên nói em nhớ ánh mắt của anh Hòa. Mai này khi cầu bắc ngang Cồn, tiếng gọi đò sẽ chìm vào ký ức. Nhưng những đứa trẻ vùng định cư Kim Long, Lại Tân... sẽ kể trọn vẹn câu chuyện từ kinh thành đến đời sống của người dân sông nước, từ âm nhạc đến ẩm thực bằng tiếng Anh, tiếng Pháp với giọng nói không lạc vào đâu được. Giọng của những người uống nước sông Hương.

B.D
(TCSH61SDB/06-2026)

---------------------
1 “Sinh hoạt những vạn đò trên sông Hương trước năm 1975”, tác giả Phan Hoàng Quý, Tạp chí Nghiên cứu Huế, Tập 1 (xuất bản bởi Trung tâm Nghiên cứu Huế vào năm 1999, trang 133).
2 “Thoát kiếp nổi trôi", tác giả Hữu Thu và Bảo Hân, Tạp chí Sông Hương số 273, 11/2011 (http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p5/c20/n9397/Thoat-kiep-noi-troi.html).

 

 

Các bài đã đăng
Chạm vào Huế (17/07/2026)
Chú Ba Huế (29/06/2026)
Ngọn lửa Pa Hy (20/04/2026)