LƯƠNG ĐÌNH KHOA
Nhớ lại năm 2009, giữa đại ngàn Bình Phước (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), tôi đi tìm mộ liệt sĩ Lương Đình Xê - người chú ruột sinh năm 1955 của mình. Theo lời kể của bố tôi, chú Xê nhập ngũ năm 1972 vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Sau đó gia đình nhận được tin báo đã hy sinh. Từ dạo ấy đến nay, thông tin về phần mộ chú vẫn bặt vô âm tín.
Chiếc xe máy cà tàng - món tài sản lớn nhất thời sinh viên - giờ đây rùng mình, hụt hơi rồi khuỵu hẳn xuống giữa vũng lầy. Bánh xe ngập quá nửa trong lớp bùn đỏ dẻo quánh. Cái dẻo dính ấy níu chặt lấy lốp xe, hệt như rừng già đang muốn nắn gân kẻ ngoại đạo. Quen chen chúc giữa những khối bê tông phố thị, lúc bị chôn chân giữa chốn rừng thiêng nước độc này, tôi mới thấm thế nào là sự chới với.
Rừng khộp mùa thay lá trút xuống một màu vàng cháy. Từng tán cây khẳng khiu vươn lên trời cao. Ngay tại ngã ba rừng, tôi gặp những chiến sĩ của Đội K. Trung úy đội trưởng đón tôi, gương mặt sạm đen sương gió. Anh nhìn xoáy vào tôi. Phía sau anh là mấy cậu lính trẻ măng, chừng mười chín đôi mươi. Tầm tuổi này, thanh niên ngoài phố chắc vẫn đang cắm mặt vào điện thoại trong quán cà phê máy lạnh. Ở đây, da họ cháy sạm nắng biên thùy, bắp tay cuồn cuộn sức trai căng đầy dưới lớp quân phục bạc màu. Họ vác trên vai những chiếc gậy sắt dài chuyên dùng thăm dò lòng đất, các cuộn nilon trắng muốt, cùng những bình cồn sát trùng tỏa ra thứ mùi hăng hắc nghẹn mũi. Nhìn một chiến sĩ trẻ rướn người nhấc hộ chiếc xe máy ra khỏi vũng lầy, tôi sững người. Đôi bàn tay ấy chằng chịt những vết sẹo, vết trầy xước do bới đất trần.
Giữa rừng sâu chẳng có lịch làm việc hay ca kíp. Người ta tính ngày tháng bằng từng nhát xẻng lật đất và hành trình đưa một bộ hài cốt trở về. Họ gặm lương khô, ngủ võng mắc giữa muỗi rừng vắt lợ, nói chuyện với những tọa độ mà trên bản đồ quân sự chỉ là một chấm nhỏ bé, nhưng dưới lòng đất lại là cả một cuộc đời, một gia đình, một nỗi đau chưa nguôi.
Tôi xòe tờ sơ đồ cũ đã nát bươm vì những nếp gấp - kể với Trung úy đội trưởng về hành trình của mình. Tình cờ thay, tọa độ dự đoán có chú tôi nằm lại - cũng chính là một trong những điểm nằm trong kế hoạch quy tập mùa khô năm nay của đội. Sau khi kiểm tra giấy tờ và báo cáo nhanh qua bộ đàm về đơn vị, Trung úy nhìn tôi, giọng dứt khoát: “Đường vào sâu lắm, không đi xe được. Nếu cậu chịu được cái nắng, cái gian khó của rừng khộp, thì theo anh em tôi”.
Nắng biên giới tầm này gắt như hắt lửa vào mặt, phả xuống thứ hơi nóng hầm hập ngột ngạt. Mồ hôi lính trẻ chảy ròng ròng trên ngực áo xanh. Ba lô bám chặt vai, trĩu nặng. Bên trong đó là lương thực, nước uống và cả niềm hy vọng của nhiều gia đình đang mòn mỏi ngóng chờ. Tiếng thở hì hộc quyện cùng bước chân đạp lá khô “ràn rạt, ràn rạt”. Cảm giác y như chúng tôi đang lội ngược về miền quá khứ. Đứng chôn chân trên mép hào, tôi gần như nín thở nhìn Trung úy đội trưởng. Anh đang nhìn chăm chú vào “mắt” của đất. Có những kinh nghiệm mà lính quy tập truyền tai nhau. Anh cất giọng khàn khàn: “Đất mộ liệt sĩ mấy chục năm qua đã tan vào mùn, nhưng để lại một cấu trúc khác hẳn địa tầng xung quanh”.
Tôi cúi rạp người xuống, nhìn trân trân vào một mặt cắt lòng đất sâu chừng hơn một mét. Chẳng có gì ngoài cái màu đỏ quạch đơn điệu. Nhưng dường như những người lính lại đọc được cả một cõi vắng lặng trong đó. Họ nói với tôi rằng, đất mộ thường thâm hơn một tông màu, xốp và có độ bở tơi như than tro đã nguội. Khi lưỡi xẻng chạm vào, âm thanh phát ra phầm phập, trầm đục.
Mặc cho lá và cành khô vẫn xào xạc, mười mấy con người của Đội K vẫn im phăng phắc. Khoảng không tĩnh mịch nuốt chửng cả tiếng gió đại ngàn. Họ bới đất cẩn trọng như đang hành lễ. Chỉ còn tiếng thở nghẹn lồng ngực. Và tiếng những đôi tay trần xoèn xoẹt cào vào đất.
Một chiến sĩ trẻ bỗng dừng lại. Cậu quỳ thụp xuống, áp sát mũi vào lớp đất vừa đào lên, định vị dấu vết bằng khứu giác. Đất có mùi hăng hắc của hóa chất bom đạn còn sót lại, mùi nồng nồng của rễ cây bị đứt. Nhưng lẩn khuất trong đó là một thứ mùi “lạ” - thứ mùi mà lính Đội K gọi là mùi của linh hồn, có vị ngai ngái xen lẫn chút lạnh lẽo. Một linh cảm mách bảo rằng: Họ đang ở rất gần “anh” rồi.
Vứt phăng đôi găng tay y tế vướng víu, bàn tay trần của người chiến sĩ khẽ run rẩy luồn vào những thớ đất dẻo quánh. Mỗi mẩu vật chất màu trắng hiện ra đều được nâng niu như pha lê, phủi bụi bằng những hơi thở nén nhẹ nhất có thể. Bởi chỉ cần một cái gạt tay mạnh, lớp xương cốt đã mục ruỗng qua hơn ba thập kỷ sẽ tan thành bụi cát.
Ở cái chốn thâm sơn cùng cốc này, ranh giới giữa người và đất như tan biến. Người lính lặng lẽ cúi mình hòa vào bùn đất, để rồi đất qua bàn tay họ lại thủ thỉ kể câu chuyện của những người đã nằm xuống.
Tôi nhìn vào những hố đào sâu hoắm. Lòng đất như một khuôn miệng đang mấp máy, muốn thốt lên cái tên của người đã nằm xuống. Nhưng rồi lại bị sự mênh mang của rừng xanh che lấp. Người lính hôm nay đang kiên nhẫn học cách “nghe” những lời thầm thì ấy từ thẳm sâu lòng đất.
Chiến sĩ trẻ nhất đội có tên là Bình. Cậu là một trong những lính nghĩa vụ tuyển chọn vào Đội K nhờ sức khỏe bền bỉ và cái tâm trong sáng, nhẫn nại hiếm có. Đôi tay Bình nhịp nhàng sàng từng vốc đất đỏ. Giọng cậu thủ thỉ qua tiếng gió rừng: “Hồi mới về đội, đêm nằm nghe tiếng mang tác sau đồi, thú thực với anh là em đắp chăn kín đầu. Rừng đêm nó sâu thẳm lắm anh ơi!”. Bình cười. Hàm răng trắng lóa trên gương mặt sạm bụi: “Thế mà lúc chạm tay vào cái cuống dép cao su hay mẩu nilon cũ, chỉ thấy xót! Các bác cũng bằng tuổi mình bây giờ, cũng mười chín, đôi mươi. Các bác nằm một mình giữa rừng lạnh lẽo mấy chục năm, không người thân, không một nén nhang. “Bác ơi, cháu đưa bác về với đơn vị nhé!”. Thế là ấm cái bụng ngay anh ạ, chẳng thấy sợ gì nữa!”.
Tôi nhìn nụ cười “ấm cái bụng” của Bình, lặng người đi. Lâu lâu, một tiếng “keng” lạnh buốt vang lên khi lưỡi xẻng va phải vật cứng. Cả đội sững lại. Một giây, hai giây... Tim tôi như ngừng đập, lồng ngực thắt lại vì hy vọng. Dưới cái nắng 40 độ, những đôi mắt trẻ đổ dồn vào hố đất. Nhưng tia hy vọng vừa lóe lên chợt tắt rụi. Thứ được lôi lên chỉ là một mảnh sắt gỉ sét, lạnh lẽo trêu ngươi. Các chiến sĩ khẽ thở dài, rồi lại lẳng lặng kiên trì vung xẻng.
*
Đêm rừng khộp thở những nhịp dài tĩnh mịch. Chúng tôi dựng lán bên một triền đồi thấp, nơi Đội K vừa kết thúc một ngày đào bới. Những chiếc võng dù màu xanh mắc đan cài vào nhau dưới tán rừng. Tôi nằm trên chiếc võng dù mà Bình lẳng lặng nhường cho. Cậu chiến sĩ trẻ ấy trải tấm nilon xuống nền đất ngay dưới gầm võng tôi nằm, bảo: “Anh không quen rừng, nằm đất dễ nhiễm lạnh, cứ để em”. Tôi nằm trên chiếc võng còn vương hơi ấm của Bình, nghe lòng nghẹn lại khi nhìn cậu lính trẻ co ro dưới nền đất.
Khi bóng tối ập xuống, rừng đêm mới thực sự lên tiếng. Thính giác tôi vốn dĩ đã quen với còi xe ồn ã ở phố, đêm nay tự dưng căng lên lạ thường. Có tiếng sương rơi tí tách tí tách thật khẽ, thật đều. Những giọt nước đọng lại từ hơi ẩm rừng già nặng dần rồi cũng rơi lộp bộp xuống tấm nilon che lán. Mỗi tiếng rơi như một nhịp gõ của chiếc đồng hồ cát vô hình, nhắc nhở về những khoảng lặng hun hút của đại ngàn. Tiếng côn trùng rỉ rả không ngớt. Đôi lúc là tiếng mang tác cô độc từ phía thung lũng sâu vẳng lại, nghe hoang hoải như tiếng gọi của một người bạn lạc lối từ hơn ba mươi năm trước. Gió rừng thi thoảng rú lên qua những tán lá khô, tạo thành âm điệu “u u u...” - nghe như tiếng gió lùa qua miệng hũ sành mà tôi từng mường tượng lúc ban ngày.
Trong bóng tối đặc quánh như bưng lấy mắt, khứu giác trở thành kẻ dẫn đường. Có mùi nồng nặc của dầu gió xanh - thứ “bùa hộ mệnh” của lính quy tập để chống lại lũ muỗi rừng đói khát. Mùi dầu hăng hắc quyện với mùi sáp nến cháy dở từ ban chiều, mùi bùn đất vẫn còn bám chặt trên móng tay... Tất cả tạo nên một thứ mùi đặc trưng của lính dã chiến. Một đốm lửa đỏ lập lòe hiện ra ở võng bên cạnh. Trung úy đội trưởng đang hút thuốc. Mùi thuốc lá Thăng Long thơm nồng, ấm áp len lỏi qua làn sương lạnh.
Đêm muộn, mấy cậu lính trẻ mới bắt đầu trút bầu tâm sự. Tiếng thì thầm của họ nhỏ đến mức dường như không muốn làm những người đang ngủ dưới đất thức giấc. Bình lấy từ túi áo ở ngực ra một bức ảnh nhỏ, dùng ánh sáng yếu ớt từ chiếc đèn pin đeo đầu để ngắm nhìn: “Anh Khoa này, đây là người yêu em. Cô ấy đang học đại học. Tụi em hẹn nhau hết nghĩa vụ sẽ về quê làm đám cưới...”. Tôi nhìn vào bức ảnh nhòe mờ. Một cô gái có nụ cười hiền tỏa nắng. Bình kể về ước mơ bé nhỏ của mình: một căn nhà cấp bốn bên bờ suối, một mảnh vườn nhỏ trồng tiêu. Giọng cậu bỗng chùng xuống: “Thú thật, nhiều đêm nằm đây, em hay nghĩ về các bác lính năm xưa. Hồi đó các bác ấy cũng có người yêu, cũng có những bức ảnh kẹp trong túi áo ngực như em. Ước mơ của em là có một gia đình, còn ước mơ của các bác ấy khi đó - có lẽ là được nhìn thấy đất nước không còn tiếng súng. Nghĩ đến đấy tự dưng nghẹn lại anh ạ!”.
Càng về khuya, cái lạnh của đại ngàn càng cứa buốt vào da thịt. Tôi cảm nhận được độ ẩm của đất bốc lên từ phía dưới võng, lạnh lẽo và đầy bí ẩn. Trong ánh sáng lờ mờ của vầng trăng muộn bị xẻ nhỏ bởi tán lá khộp, những thân võng chao nhẹ như một sợi dây liên kết vô hình giữa tình đồng chí, đồng đội của hai thế hệ. Tôi nghe thấy tiếng dây dù siết vào thân cây ken két, tiếng vải dù cựa quậy khi một chiến sĩ trở mình. Âm thanh ấy nhỏ thôi, nhưng trong cái tĩnh mịch của rừng đêm, chúng vang lên như những lời thầm thì. Như một cuộc đối thoại không lời giữa những người đang sống và những người đã khuất.
*
Trung úy đội trưởng dẫn tôi đến gặp già K’Măng, một cựu giao liên người Khmer, người duy nhất còn sống từng chứng kiến những trận đánh năm 1974 - 1975. Ngôi nhà sàn của già nằm chênh vênh bên bìa rừng. Già ngồi bất động như một gốc cây khô, đôi mắt đã mờ đục, cứ nhìn sâu vào cõi mông lung của đại ngàn. Tôi tiến lại gần, cảm nhận rõ hơi thở của già mang mùi khói bếp và mùi lá rừng khô. Trung úy khẽ khàng mở tờ sơ đồ cũ, giọng trầm xuống: “Bố K’Măng, bố nhớ chỗ cái sẹo bom trên cây bằng lăng đại thụ không? Chỗ bộ đội E271 rút qua dòng suối đổ?”. Già K’Măng chậm rãi đưa bàn tay gầy guộc sờ nắn mép tờ giấy: “Rừng... rừng thay da rồi. Cây bằng lăng ấy... lửa đốt lâu rồi. Suối Đắk Ơ giờ mùa mưa nó chảy khác. Mùa nắng, nó nằm im ru...”.
Cảm giác bất lực chợt thắt lấy lồng ngực tôi. Tôi nhìn già, muốn nắm lấy đôi vai gầy ấy mà lay, mà hỏi cho ra nhẽ. Nhưng ký ức của già K’Măng giờ như bếp than đã tàn, chỉ còn vài đốm lửa lóe lên. Những trang sách cuối cùng về chú tôi đang hóa thành tro bụi ngay trước mắt. Ký ức của già mờ mịt và chập chờn như sương khói rừng khộp buổi sớm. Có lúc già nhớ về một tiếng nổ lớn, có lúc lại nhầm sang một trận đánh khác ở tận Lộc Ninh. Đứng trước già - sự bào mòn của thời gian hiện ra trần trụi. Nó đang vắt kiệt những nhân chứng cuối cùng. Cái “tọa độ” mà tôi hăm hở đi tìm giờ đây hiện lên chao đảo, mong manh giữa một biển mù khơi...
Ngày thứ ba, một nguồn tin quý giá về mộ tập thể gần suối Đắk Ơ thổi bùng lên ngọn lửa hăm hở cho cả đội. Nhưng trời già như muốn thử thách lòng người. Một cơn mưa rừng bất chợt dội xuống. Đất bazan nhão ra, chảy tràn vào hố đào thành dòng đỏ quạch. Những người lính trẻ quỳ thụp dưới mưa, bàn tay trần vục nước bùn ra khỏi hố. Bùn đỏ bám sâu vào kẽ móng tay. Một chiến sĩ vừa ngất đi vì cơn sốt rét rừng tái phát, được anh em dìu ra gốc cây. Những người còn lại vẫn miệt mài bới tìm.
Ròng rã ba ngày đêm phơi mình dưới mưa nắng, kết quả thu về vẫn là con số không tê tái. Tọa độ trắng. Lòng đất rỗng không. Thú thật lúc đó tôi nản chí vô cùng, quỵ hẳn xuống bên miệng hố sũng nước. Tôi thậm chí đã bắt đầu ngờ vực cái sơ đồ cũ kỹ của bố, rồi nghi ngờ luôn cả trí nhớ của những người lính già. Rừng xưa đã thành rừng trồng. Dòng suối đã đổi dòng. Cây cổ thụ có sẹo bom năm ấy nay đã tan thành cát bụi, hoặc đã bị vùi sâu dưới hàng mét đất bồi.
Sự im lìm của rừng già lúc này thật đáng sợ. Nó lạnh lẽo như một lời khước từ. Tôi thấy mình thất bại, thấy hành trình đi tìm chú của mình sao mà vô vọng quá. Nhưng nhìn sang Bình. Cậu ấy vẫn đang lặng lẽ lau sạch bùn trên chiếc xẻng, ánh mắt không hề nản chí. Bình nói nhỏ: “Chưa tìm thấy hôm nay thì mai mình tìm tiếp anh ạ. Các bác chưa muốn về lúc này, hoặc mình tìm chưa đúng chỗ thôi”. Sự nhẫn nại ấy khiến tôi xấu hổ với chính cái tôi vội vã của mình.
Khi tiếng còi lệnh rút quân sắp sửa vang lên, Bình bất ngờ dừng lại trước một rễ cây cổ thụ đã bị đốn hạ từ lâu. Cậu không dùng xẻng nữa, mà quỳ xuống, dùng tay bới. Bình cẩn thận dùng những ngón tay gạt nhẹ từng lớp bùn bám chặt. Vật thể xám ngoét, bẹp dúm hiện ra. Một chiếc bình tông. Tôi lao đến, đôi chân run rẩy. Chiếc bình tông quân y sờn cũ mang theo hơi lạnh của lòng đất. Đội trưởng cẩn thận dùng nhíp gắp mảnh nilon đã ngả màu vàng ố ra khỏi lọ thủy tinh, run rẩy trải phẳng mảnh giấy lên lòng bàn tay. Mắt tôi dán chặt vào đó, hơi thở nghẹn lại.
Đó là một bản danh sách viết tay của một tiểu đội đã hy sinh. Nét chữ nhòe mờ bởi hơi ẩm đại ngàn, hàng nọ xọ hàng kia như những vết chân chim trên cát. Mắt tôi đảo dồn dập, căng lên giữa những dòng chữ mờ ảo, tìm kiếm một cái họ Lương, một cái tên Xê. Đến dòng cuối cùng, mặt giấy chỉ còn là một vệt mực loang lổ. Tên chú của tôi không có trong đó.
Tôi sụp xuống, hụt hẫng. Chợt bàn tay ấm nóng của Trung úy đội trưởng đặt lên vai tôi: “Cậu nhìn xem, Bình tuổi mới đôi mươi, nó đang khóc trước di vật của một người lính chưa từng quen biết. Chú của anh có thể chưa nằm ở đây, nhưng linh hồn chú đang ở trong chính cái cách mà những đứa trẻ này miệt mài tìm kiếm”. Nhìn từng gương mặt mười chín, đôi mươi xúm quanh di vật của một người lính cũng tầm tuổi ấy từ mấy chục năm trước, tự dưng lòng tôi thắt lại. Sự tận tâm của họ cho tôi cảm giác như mình đang nhìn thấy chính chú Xê qua một hình hài khác.
Ngồi bệt bên miệng hố đất đỏ, tôi học được cách lắng lại trước sự nhẫn nại, lặng thầm của lính quy tập. Giây phút Bình nâng niu kỷ vật của người lính năm xưa, tôi thấy hai thế giới ấy hòa làm một. Đó là lằn ranh mỏng manh, nơi đôi bàn tay người lính trẻ hôm nay đang thắp lên vệt sáng để xoa dịu những góc khuất đau thương của cuộc chiến năm nào. Nhìn bóng áo xanh của Đội K khuất dần vào lớp sương mù mờ ảo, tôi biết có lẽ họ chưa về doanh trại để nghỉ ngơi. Ngay ngày mai, họ sẽ lại tiếp tục cuộc chạy đua với thời gian, với địa chất - khi những nhân chứng sống cuối cùng như già K’Măng đang dần khuất bóng. Đó là tiếng gọi từ ruột gan, một công việc thầm lặng mà sức nặng của nó gánh cả lịch sử trên vai. Họ đang vá víu lại những khoảng trống mà thời gian và bom đạn đã để lại.
*
Tôi rời Bình Phước khi bóng chiều đã đổ dài trên những rặng keo lá tràm. Nhấn nút đề, tiếng động cơ xe máy xé toạc sự tĩnh lặng, đưa tôi lao đi giữa dải rừng đang sẫm lại lúc hoàng hôn. Hành trình Hưng Yên - Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Phước đành tạm khép lại. Lúc quay về Bắc, lẫn trong tiếng còi xe ồn ã, tôi tự dưng thấy bả vai mình trĩu xuống bởi một món nợ vô hình. Nợ một kiếp sống sao cho ra hồn người. Chú tôi cùng cả ngàn người khác đã để lại cả tuổi thanh xuân dưới lớp đất bùn, thì những người còn được thở như tôi chẳng có lý do gì để sống hoài sống phí. Dưới lớp đất bazan đỏ quạch kia nào đâu chỉ có sỏi đá. Ở đó vẫn luôn có những mạch ngầm ấm nóng…
L.Đ.K
(TCSH449/07-2026)