NGUYỄN ĐÔNG NHẬT
Buổi sáng thức dậy. Trên mặt bàn cạnh cửa sổ, gió lật những trang sách. Không biết cho ai sẽ đọc, nhưng những trang sách cứ mở ra, chờ đợi.
Không dưng, chợt nhớ lại cái logo hình một quyển sách đang mở ra, trong những quyển sách đầu tiên được thấy, thuở còn học cấp II. Nhiều năm sau mới biết, người lo việc ấn hành những quyển sách ấy, là Ông Khai Trí. Ông là người làm sách cao quý: đem tri thức nhân loại đến cho nhân quần. Cái tên Ông Khai Trí được viết hoa, là sự đánh giá đúng mức của rất nhiều người tại miền Nam, khoảng 70 năm trước. Khai trí, nói gọn, là “mở đầu óc” cho đồng bào. (Hơn 100 năm trước, Phan Châu Trinh đã khởi xướng tư tưởng này).
Ông Khai Trí “xin” lại ngôi nhà để lập một nhà sách chuẩn mực, giữa lúc mà hàng loạt nhà sách ra đời chỉ với mục đích lợi nhuận. Khi ấy, hơn 25 năm trước, tôi đã nhìn thấy tờ quyết định trả lại nhà cho ông.
Có phải, trong bất cứ công việc nào, cũng không thể thiếu tình yêu. Mà sao bây giờ, tình yêu đang… vắng xa dần!?...
*
Nhớ lại. Dường như, nhiều mối tình nam - nữ, cuối cùng đều chỉ còn để lại sự bùi ngùi, nuối tiếc, đắng cay… Nhưng cũng… dường như, có một tình yêu khá bền lâu và ít thay đổi: yêu sách.
Tình yêu ấy, bắt đầu từ quyển sách đầu tiên được đọc là Tam quốc chí diễn nghĩa, khi vừa năm tuổi. (Thật ra, không phải đọc, mà là tập… đánh vần). Thị xã có một Tủ sách bình dân, dành cho người đọc ít tiền. Trên những trang giấy nhuốm cái màu không tên vì đã qua tay nhiều người đọc, thế giới rộng lớn dần dần hiện ra, như sự chuẩn bị cho việc từng bước đi vào cuộc sống. Nếu không có sự dẫn đường của sách, có thể con người sẽ tiến bước rất chậm hoặc đi lạc… cả một đời? Dễ hiểu thôi: sách là sự thâu tóm những hiểu biết và kinh nghiệm của hàng bao thế hệ và xứ sở trên hành tinh này. Giờ đây, ở nơi này, đã có rất nhiều báo động về hiểm họa khi thiếu vắng văn hóa đọc. Thử… dẫn chứng: Hơn 50 năm trước, khi đất nước còn bị chia cắt, ở miền Bắc, mỗi tên sách đã được nhà nước cho in hàng vạn bản; ở miền Nam, những đầu sách bán được (hầu hết là của tư nhân) là vài ngàn bản; trong khi hiện nay, với dân số gần 100 triệu người, những tác phẩm thuộc loại “Nobel”, in 1.000 bản vẫn… ế!
Vì sao? Có phải, do tình yêu đang… ở xa ngoài!...
*
Trước đèn. Người xưa dùng từ này để nói về việc học. Học, cũng gần gần giống như… tu. Mất nhiều thời gian lắm, ít nhất, là phải thập niên đăng hỏa. Và rồi, dẫu có rơi vào cảnh “thập tải độc thư bần đáo cốt” (đọc sách mười năm nghèo thấu xương), dẫu không thành đạt (như quan niệm của thời ấy), thì vẫn trở thành người được luân lý quý trọng: hình ảnh những ông đồ trong xã hội cũ.
Lẽ nào, tình yêu đang… trở thành xa xôi, trên cả hành tinh này!?
*
Sách trên… lưng. Ấy là, khi gùi thùng sách nặng trĩu qua những con dốc của núi rừng Trị - Thiên, năm 1974, một ngày mùa đông cắt buốt. Bộ sách Mỹ học của triết gia người Đức G. Wilhelm Hegel, Việt dịch: Nhữ Thành, in ronéo trên khổ giấy lớn hơn khổ A4 một ít, gửi từ Hà Nội vào chiến trường. Điều này, có vẻ… lạ, mà không hề: đó là cái tầm nhìn xa về văn hóa - tư tưởng, ngay giữa hồi đạn bom gào thét. Tất nhiên, đối tượng được đọc cũng hết sức hạn chế. Và chúng tôi là những người trẻ tuổi được cái may mắn đó. Người ta vẫn nói đến những tiếng hát át tiếng bom, những vân vân… Không hề sai. Nhưng, vẫn có những sức mạnh khác, bền bỉ: tiếng im lặng của những trang sách.
Những tiếng ấy, hay là hương của những trang giấy, giờ đây còn đọng ở nơi nào? Hay đã bay đi đâu?
Dẫu sao, cũng còn có thể tin rằng, có lẽ không phải tình yêu đã trở thành nỗi… xót xa!
*
Tập sách của người bạn vong niên, nằm yên lặng, góc bàn. Trên bìa sách, ở cuối màu xanh những trùng điệp sóng, thoáng cái ánh bạc của… “Vỏ ốc”, tác phẩm ở tuổi 80 của nhà thơ - nhà viết kịch Dũng Hiệp. Có mấy câu “minh họa” cho ý chính của toàn tập: Những vỏ ốc xà cừ/ khảm nên tranh tố nữ/ ốc chết tự ngàn thu/ có hay mình bất tử? Những vỏ ốc, là… những trang giấy. Cũng chính là những ca khúc những bức tranh những pho tượng: những sản phẩm nghệ thuật. Lịch sử của con người sẽ ra sao, cuộc sống của mỗi cá nhân sẽ thế nào, nếu không có chúng?
Ví dầu, những bài thơ không nuôi nổi đàn con nheo nhóc. Ví dầu, Đỗ Phủ chết đói trên thuyền nát, Nguyễn Du ốm đau thiếu thuốc thang. Và vô vàn những phôi phai khác nữa…
Vì vậy, mà niềm tin sẽ chẳng hề vô cớ: tình yêu vẫn thấp thoáng xa-gần…
Trở về để đi đến
Những con đường ở Huế thường lặng lẽ dẫn về những hồi ức rất xa của một thời trẻ tuổi. Lần bước trên những dấu chân vô hình của bao thế hệ cha ông, nghe vọng lại bao tiếng khóc tiếng cười trên con đường Nam tiến của dân tộc; tiếng gió mưa trên những đời nông dân âm thầm góp xương máu vô danh để làm nên hồn sông núi. Hương phấn Huyền Trân đã bay cùng tiếng cười xé rách trái tim cho cương thổ mở ra vùng Thuận-Quảng. Và linh hồn của những điệu hát Chăm đã hòa trộn vào những làn điệu dân ca Trị - Thiên để chứng minh rằng, văn hóa là sự tiếp biến mãi mãi. Và dẫu chiến tranh là một quy luật bất thường của Lịch Sử thì Tình Yêu luôn là Người Bảo Hộ của Thời Gian. Để hôm nay, đi trên những con đường thẫm ánh-xanh-lá-nắng dưới bóng cổ thành, có thể hiểu rằng, những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa của Huế không chỉ đơn thuần là những hình thức lễ hội.
Nhớ lại: Gần hai mươi năm trước, Trại sáng tác điêu khắc quốc tế lần thứ V mang tên “Ấn tượng Huế - Việt Nam 2008” tổ chức tại biển Thuận An. Là dịp trao đổi kinh nghiệm sáng tác giữa giới nghệ sĩ điêu khắc trong nước với các nhà điêu khắc của 16 quốc gia như Anh, Áo, Belarus, Bỉ, Đức, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan, Trung Quốc, Italia... Một trong những điểm đặc sắc của thành phố Huế là sự có mặt của những tác phẩm điêu khắc được đặt ở các công viên hai bên bờ sông Hương và tại khu du lịch Thiên An - hồ Thủy Tiên. Tác phẩm của các nhà điêu khắc trong Trại sáng tác được đưa vào bộ sưu tập Vườn tượng điêu khắc quốc tế, làm phong phú thêm vốn liếng điêu khắc của Huế.
Cùng trong năm ấy, một kỷ niệm khác, là cuộc vận động “2008 giấc mơ cổ tích” trong Festival Huế gồm tranh vẽ, diều giấy, lồng đèn… của học sinh Việt Nam và quốc tế. Lần đầu tiên tại Festival này, thiếu nhi đã trở thành một trong những tiêu điểm của lễ hội.
Có lẽ cũng không cần phải “điểm danh” đầy đủ các chương trình, các tiết mục đa dạng trong những công việc tương tự.
Nhưng, cũng có lẽ, những ai quan tâm đến sự tồn tại - phát triển của hoạt động lễ hội và văn hóa của Huế sẽ còn đặt ra những câu hỏi. Những câu hỏi sẽ không bao giờ ngừng lại, trong ý muốn không ngừng hoàn thiện. Những tiềm năng văn hóa - du lịch đặc trưng của Huế sẽ được giữ gìn để khai thác đúng đắn và đúng mức đến đâu? Và phải chăng, câu hỏi quan trọng nhất là: Sau những hoạt động ấy, Cái-Còn-Lại cho Huế là gì, nhìn dưới góc độ văn hóa - đời sống?
Những câu hỏi không dễ trả lời. Và cũng khó có thể trả lời một cách vội vàng. Nhưng, Những-Con-Đường ở Huế là có thực. Cũng có nghĩa là, Sự Sống không bao giờ dừng lại. Lễ hội và văn hóa chính là Sự-Tìm-Lại-Để-TìmĐến những giá trị lâu bền. Những con đường, như thế, là những lối mở về hướng Tự Do, hiểu trong ý niệm về một sự vận động luôn luôn vươn tới.
N.Đ.N
(TCSH60SDB/03-2026)