Truyện dịch
Như cánh chim bằng
15:53 | 16/09/2026

H.M. Tolcher sinh tại Murray Mallee (Australia), viết truyện ngắn ngay từ khi biết đọc, đã có một số đầu sách được giải thưởng quốc gia trong đó giải Jessie Litchfield (1974). Những truyện ngắn của bà mang một hơi thở đồng quê nồng nàn, chân mộc mặc dù bà lớn lên ở thành phố. Truyện ngắn dưới đây trích trong “Tuyển tập truyện ngắn Úc” do nhà Pascol xuất bản (1984).

Như cánh chim bằng
Ảnh tư liệu (Có sử dụng AI)

H.M.TOLCHER

Con chim đại bàng ấy lại bay đến, như lệ thường, nó lướt thật êm trên đôi cánh bất động từ phía vách núi cho tới tận dải đồng bằng màu xám tro, xuyên qua khoảng không trong suốt pha lê. Emma ngừng lại, cái chậu rửa chén bát trong tay, để nhìn cánh chim lướt qua trên đầu. Những sợi lông cánh xòe ra như những ngón tay điều khiển lớp không khí, đôi mắt sắc sảo nhìn soi xuống đất để tìm mồi ẩn trong những lùm cây xám xịt bụi bặm. Càng nhìn, cô càng cảm thấy cái phấn chấn của ngọn gió phóng lướt qua mình, nâng bổng mình lên trong khoảng trời xanh vô tận thoát ly khỏi mặt đất. Con đại bàng đã mang đến cho cô cái cảm thức được giải thoát, cái nhẹ bổng của tinh thần dẫu trong thoáng chốc, mà nếu như thiếu mất cảm giác này, cô thầm nghĩ, những chuỗi ngày sống của cô hẳn đã trở nên buồn chán biết bao nhiêu.

Phía sau cô, cánh cửa bằng lưới thép kêu ken két trên những bản lề rét rỉ và gã đàn ông dừng lại bên cô, đôi mắt gã cũng hướng về phía con đại bàng.

“Đồ súc sinh”, gã làu bàu. “Lũ quạ đã chưa đủ phiền hà rồi hay sao chớ, lại còn thêm cái thứ quái quỷ này nữa. Được dịp ấy à, tao cũng cho mày đi đời luôn.”

Emma đổ nước xuống quanh cây hoa phong lữ trồng trong một cái bếp lò đã cũ.

“Ông thanh tra nông nghiệp bảo là đại bàng không có ăn thịt cừu non.”

“Cô cứ ở đó mà bảo đại bàng ăn gì với chả không ăn gì. Tôi thì tôi đã thấy cừu non trong ổ của chúng rồi đấy.”

“Hãy để nó được yên đi mà. Nó có tha một đôi con cừu ốm yếu bệnh hoạn thì cũng chẳng việc gì đến cái trại này đâu.”

“Vụ lông cừu năm nay chắc cũng không đến nỗi tệ”. Gã gật gù, chống chế.

“Vậy thì có ăn nhằm gì con đại bàng ấy chứ - tôi thích nhìn nó, hãy để cho nó yên.”

“Hừ, tôi sẽ khử nó cho mà xem. Tôi nói là làm đó.” Gã chụp cái mũ phớt lấm lem dầu mỡ lên đầu. “Hôm nay đúng kỳ người đưa thư tới đấy. Khi nào ông ấy đến thì nhớ đưa hộ tôi cái thư này.”

Chiếc xe tải ì à ì ạch chạy trên con đường mòn. Hai con chó Kelpy dáng thanh mảnh đứng trên thùng xe, nhe răng cười với gió. Emma ngẩng lên nhìn trời, nhưng con đại bàng bây giờ chỉ còn là một chấm đen ở tít đằng xa, và cuộc cãi cọ vừa rồi đã vô tình xóa tan niềm vui được nhìn thấy nó lướt bay qua. Cô trở vào nhà, cầm lấy chổi và tiếp tục công việc của mình, chốc chốc lại buông tiếng thở dài…

Thực tình chẳng phải gã là người không tử tế tốt bụng, cô nghĩ, mặc dù gã cũng chẳng bao giờ tỏ ra là người tốt bụng cả. Bao nhiêu năm đã qua rồi. Cô chẳng hề mảy may cảm thấy yêu thương gì gã, cũng như cô có yêu thương gì cái trang trại buồn tẻ này - đó chẳng qua chỉ là chốn nương thân, chẳng tốt đẹp hay tồi tệ gì hơn cái thị trấn nơi cô sinh ra và lớn lên. - cũng như gã vậy: chẳng tốt lành gì hơn, tồi tệ gì hơn chính bố mẹ cô, chẳng qua đó chỉ là một người nào đó mà cô chung sống - vậy thôi. Duy chỉ có con chim đại bàng kia là thực sự khơi động toàn vẹn cảm xúc mãnh liệt và đầy ý nghĩa nơi cõi lòng cô…

Trước đây, lúc cô mới đặt chân đến trang trại này, hãy còn nguyên vẹn hai con đại bàng - một đôi trống mái - và lần đầu tiên cô nhìn thấy chúng, chúng đang lượn vờn bên nhau thật oai nghi lẫm liệt giữa thinh không chan hòa hơi ấm ban mai. Quạ và diều hâu vốn là cảnh quen mắt lắm ở thị trấn này, nhưng đến những con chim đen mượt khổng lồ kia với đôi cánh uốn cong lên mới là cả một sự mặc khải nhiệm màu. Cô đã theo dõi, hồi hộp nín thở khi chúng bay vút lên rồi đột nhiên nhào xuống, lượn vòng, dọc ngang tung hoành giữa khoảng không vàng óng, trước khi chúng sà qua đầu, thấp đến nỗi cô tưởng chừng nghe thấy cả tiếng vút của gió trên đôi cánh ấy, và rồi biến mất ở cuối dải đồng bằng tít tắp xa xăm. Cô đã nhìn thấy chúng mỗi ngày, ngỏ lời chào hỏi thầm lặng khi chúng bay vút qua, cô hân hoan mừng rỡ trước vẻ duyên dáng hùng vĩ của chúng và lấy làm lạ vì sao đã bao năm rồi chúng vẫn đến và đi khỏi nơi đây, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, đều đặn không nghỉ. Cô không tài nào lý giải nổi những tình cảm trọn vẹn mà cô đã dành cho đôi đại bàng ấy, như là tình yêu thương, hai từ hoàn toàn xa lạ với cô, nhưng cô biết rằng một khi chúng bay tới đây, tức là chúng đã lấp đầy hố thẳm trống vắng trong lòng cô, và rằng mỗi khi chống cằm ngồi nhớ chúng đã thực sự trở thành những giây phút ấm áp diệu kỳ cho cái khoảng nội tâm vốn tiêu điều lạnh lẽo trong cô.

Cô là đứa con duy nhất của một cặp bố mẹ mà tình cảm giữa họ chẳng khi nào được bộc lộ rõ ràng ra câu ra kéo, và những ngày chung sống của họ chỉ đơn giản là một cuộc vật lộn khủng khiếp bất tận vì manh áo miếng cơm. Bố cô phụ việc ở một garage ở một khu định cư hoang dã. Mẹ cô làm việc chỉ vào các ngày lễ tại một cửa hàng tạp hóa. Hồi ấy con đường duy nhất của thị trấn bỗng nhộn nhịp và phát đạt hẳn lên nhờ số du khách đổ xô đến trong thời gian ngắn ngủi tham quan vùng núi.

Ở tuổi 17, Emma có thân hình đậm với những bắp thịt rắn chắc mạnh khỏe nhưng thiếu duyên dáng. Mái tóc đen bù rối, cắt ngắn ngang cằm ôm lấy gương mặt có nước da vàng bệch và một cái hàm rộng. Đôi mắt của các chàng trai đã bỏ qua Emma để mong tìm kiếm những gương mặt quyến rũ hơn, khả ái hơn nhiều. Và ở nơi cô từ bao giờ đã phát sinh cái tính tự thu mình lại cam chịu cảnh lẻ loi. Vì vậy đến khi người đàn ông đó vui miệng khen cách nấu ăn xoàng xĩnh và tài sử dụng chiếc rìu bửa củi của cô như là những phẩm hạnh đáng quý thì cô cảm thấy vô cùng biết ơn.

“Đây là Jim Menzel,” bố cô giới thiệu như vậy khi ông dẫn gã về nhà. “Anh ta đang chữa chiếc xe tải và bố nghĩ nên mời anh ta ở lại ăn cơm”.

Bà mẹ im lặng chỉ vào một chiếc ghế và hất hàm về phía Emma, cô hiểu đấy là mệnh lệnh bảo cô dọn thêm một suất ăn nữa. Bữa ăn diễn ra trong không khí im lặng quen thuộc. Ăn xong, gã đàn ông ợ lên một cái thoải mái rồi đẩy ghế lui.

“Thức ăn ngon đấy chứ,” gã nói. Mẹ cô liếc nhìn gã thật nhanh. “Emma nấu đấy.” Bà nói.

“Ồ, khỏi cần nói tôi cũng biết,” gã nhìn chằm chằm vào Emma khiến cô cảm thấy lúng túng mất tự nhiên, phải ngoảnh mặt đi. Không hiểu tại sao cô thấy trong người nhẹ nhõm hẳn đi mỗi khi gã rời khỏi chỗ cô. Ăn quen bén mùi, mỗi bận có dịp đến thị trấn gã lại ghé nhà cô, họ mời gã ăn cơm và gã lại chuyện trò với bố cô về những sự việc trong vùng, suốt cả buổi cứ nhìn theo Emma khi cô loanh quanh lui tới trong bếp. Cái nhìn của gã thực sự gây cho cô cảm giác bức bối, khó chịu, những lúc ấy, hở tay là cô ra khỏi nhà làm việc lặt vặt trong sân gia súc hay chẻ củi để chờ gã đi đâu cho khuất mắt.

Sáu tháng sau, một hôm gã ghé nhà cô như mọi lần. Bố cô gọi cô lại: “Menzel đang tìm người giúp việc, bố nghĩ con có thể làm được. Anh ta sẽ cho con chỗ ăn chỗ ngủ với ít tiền.” Cô biết mình không có quyền chọn lựa. Bố cô đã quyết là cô phải tới giúp việc cho Menzel, dĩ nhiên, nhưng ông buộc cô phải đồng ý rằng đấy là một ý kiến hay để lỡ sau này có chuyện gì không vừa ý thì đấy không phải là lỗi của ông. Cô nhún vai. Từ lâu cô từng nuôi ý định một ngày kia sẽ cất bước ra đi - ngày ấy là hôm nay cũng được thôi, vì biết đâu cô chẳng còn cơ hội nào khác.

“Lúc nào anh ta muốn con tới nhà?”

“Lần tới ghé lại đây, anh ta sẽ đón con. Có lẽ là cuối tháng.”

Coi như mọi chuyện như thế là an bài. Cuối tháng gã lại ghé nhà cô dùng bữa như thường lệ. Ăn xong gã đứng dậy nhìn Emma và gật đầu.

“Đồ đạc xong chưa đấy?”

Cô đi sang chái nhà dùng làm buồng ngủ của mình và buộc lại chiếc va-li, vắt chiếc áo khoác lên tay rồi cầm theo cái ví đầm đựng dăm bảy đô-la. Cô nhìn lại một lượt khoảng không gian cô từng cư trú. Chẳng có gì để cho cô phải nhớ tiếc chiếc giường hẹp, tủ đựng quần áo với lớp sơn xanh dày cộm và cái bàn phấn với chiếc gương soi đã nổ nhiều vết hoen ố. Vào lại trong nhà bếp, cô hôn lên má mẹ, gật đầu chào bố, đoạn bước nhanh ra khỏi cửa. Nghĩ sao, cô ngoái đầu nhìn lại và nói vỏn vẹn một câu:

“Hẹn gặp lại bố mẹ vậy.”

Trang trại của Menzel nằm cách phía bắc thị trấn chừng một trăm dặm. Chắp nối những đầu thừa đuôi thẹo của những trang trại rộng lớn hơn ở chung quanh, trại nuôi cừu này là quá bé nhỏ để có thể giúp người ta kiếm chác được chút đỉnh gì. Những trang trại láng giềng rộng lớn đã chiếm ngự hết những thung lũng, giành hết những dòng suối nước chảy quanh năm. Những dải đồng bằng mênh mông ở đó mọc đầy các loài cây bụi và có nhiều giếng nước ngọt thật sâu; chỉ riêng ở trên cái trang trại tồi tàn này, các bãi đất đã cạn kiệt cây cỏ vì lượng cừu nuôi quá đông và cũng vì hạn hán vào những ngày đầu dựng trại. Những cái giếng hiếm hoi chứa một thứ nước lờ lợ, còn những khe nước từ trên núi cao chảy xuống dẫu có thì nước cũng biến mất tiêu trong lớp đất cát chứ chẳng bao giờ tới được. Thậm chí cả những loại cây của vùng sa mạc - cây mulga, cây gỗ đường, cây mallee - cũng yếu ớt còi cọc trong khu trại của gã.

Riêng về đàn cừu, cũng giống như khu đất này, chỉ đáng là loại cừu đem giết thịt đối với những chủ trại nuôi cừu khác, lớp lông mỏng mà những tay thợ xén lông gọt ra với vẻ khinh bỉ không dấu giếm từ những tấm thân cừu gầy guộc, đem bán đi chỉ vừa đủ để mua lại những thứ cần thiết như dầu diesel, phụ tùng cối xay gió, bột mì, đường, trà hay bột gia vị là thay đổi chút ít mùi vị của thứ thịt cừu dai như giẻ rách. Gặp năm được mùa lông cừu, bãi đất khô cằn kia thôi thì cũng giúp đủ sống, nhược bằng phải năm thất bát, gã đành nai lưng ra làm thuê cho những chủ trại giàu có hơn: dựng hàng rào, khiêng vác, lau chùi bể chứa nước, hay thế chân cho người chăn cừu nào lỡ bị ốm đau.

Ngôi nhà của trại cừu nằm khép nép thiểu não ở đầu đồi, tường nhà có chắn tôn bên ngoài còn mái nhà thì lỗ chỗ những mảng gỉ rét, khung gỗ cửa lớn và các cửa sổ thì trơ ra lớp gỗ bạc thếch vì mưa nắng xen giữa những mảng sơn đã phồng rộp lên. Một cái hàng rào không được chăm sóc hất vẹo vào lại xiên ra bao quanh một khoảng đất có lẽ trước đây là vườn, trong đó có một khóm lê đầy gai và một bụi cây khổng lồ là duy nhất còn được màu xanh. Một khung cửa nhìn ra đồng bằng xám xịt chạy dài đến tận một cái hồ nước mặn mà không ai còn nhớ là nó từng có nước, cửa kia lại hướng về những ngọn núi vươn đỉnh nhọn xanh rì tạo thành những đường nét lởm chởm in trên nền trời phía tây, trơ ra lớp đất núi cằn cỗi ngay cả khi những cơn mưa đem lại đôi chút màu xanh ngắn ngủi cho các sườn dốc thấp hơn.

Ngôi nhà nhìn bên ngoài ra sao thì vào trong cũng như thế ấy, nền xi-măng trơ trụi với các tấm thảm tả tơi đã ngả sang màu xám bẩn thỉu, bàn ghế thì chẳng bao giờ biết đến một lớp vecni nào, một vài cái tủ ngăn làm bằng gỗ có chắn lưới thép mắt cáo, một cái bếp lò bằng gỗ tràn cả tro ra ngoài, những chiếc giường xếp bằng sắt có những cái gối mỏng và tấm nệm có sọc ngang, một đống chăn màu xám, những cái móc gắn trên tường để treo quần áo. Trên các mặt phẳng, lớp bụi phủ trông cứ y như một lớp vải nhung màu nâu đỏ.

Gã đàn ông chỉ cho Emma một cái buồng ngủ mà các góc buồng bám đầy mạng nhện xám xịt, nền nhà lạo xạo đất cát, cô để đồ đạc ở đó và rồi cúi xuống loay hoay với cái bếp lò nguội lạnh. Cuộc sống mới của cô đã bắt đầu.

Ba tháng đầu tiên, gã trả lương cho cô mỗi tuần 20 đô-la, nhưng cô đâu có cơ hội nào để mà tiêu những món tiền ấy, họ không hề rời trang trại suốt thời gian ấy. Cô đã tập làm quen với khí chất của dải bình nguyên, và với cái gã đàn ông thực dụng và ti tiện kia. Ba tháng sau, khi gã mò đến giường ngủ của cô lần đầu tiên - như cô đã biết sớm muộn rồi gì cũng thế - cô đã phản đối lấy lệ, sau đó ưng chịu, cô nằm im trong bóng tối dưới hơi thở nặng nề hổn hển và những tiếng ứ hự đầy thỏa mãn của gã, nghe tiếng đập loảng xoảng của những tấm tôn long đinh trong gió núi xa thổi về, đầu óc mải theo đuổi những ý nghĩ riêng. Từ đó gã thôi không trả tiền công cho cô nữa; cô ngờ ngợ nhận ra sự bất công trong cuộc đổi chác này.

Khi rốt cuộc gã có dịp về phố chợ, cả hai đều ngầm đồng ý là sẽ không ghé lại nhà cô nữa mà lại tới một khu định cư xa hơn về phía bắc. Emma vẫn yêu mến mẹ, nhưng họ chẳng có chuyện gì để nói với nhau, còn với bố cô, Emma nghĩ, ông đã phản bội cô. Đời cô, từ rày trở đi, đã là việc riêng của cô rồi.

Thời gian, đo bằng ánh sáng và bóng tối, ngày lạnh và tháng nóng, gối đầu lên nhau mà qua hết năm này sang năm khác. Có lần Emma thấy mình có thai, nhưng rồi bị sẩy; và mặc dù cô chẳng có ý thức phòng tránh gì, song vẫn chẳng thấy thai nghén gì thêm, cô đâm ra sợ rằng mình vô sinh. Bây giờ cô và gã chung sống được 10 năm, giữa hai người cũng chẳng đằm thắm gì hơn so với thuở ban đầu, ngoại trừ những thói quen và những bất đồng ý kiến về những con đại bàng.

Cô đã cố gắng tìm hiểu về những con chim kỳ vĩ ấy, tìm hiểu cách sống của chúng, nhưng mỗi khi cô dò hỏi, người ta ai cũng trố mắt nhìn cô. Cánh đàn ông thì đồng ý với Menzel: chúng rặt là một lũ ăn hại; cánh đàn bà thì chỉ việc lặp lại ý của chồng họ thôi. Chỉ có ông thanh tra nông nghiệp là bênh vực cho quyền tồn tại của chúng và chia sẻ cùng cô lòng ngưỡng mộ với những con chim đại bàng oai nghi ấy. Emma thấy khó mà cãi cho lại sự ngang bướng của bọn đàn ông trong khi cô chỉ có một lý lẽ biện hộ duy nhất.

Họ suýt gây gổ với nhau khi gã lại bắn hạ một trong hai con đại bàng ấy, cách đây chừng một năm. Cô đã khóc lặng lẽ bên bếp lò lúc nấu ăn, những giọt nước mắt rơi xuống cháy xèo xèo trên tấm sắt nóng bỏng. Gã cười lớn như thể không thể nào tin được nỗi đau của cô, sau đó gã trở nên giận dữ và làm thinh không trả lời khi cô lên tiếng trách móc gã. Từ đó đến nay gã không hề nhắc lại chuyện đã giết con chim, mặc dù lúc họ lên đường đi về phố chợ một tuần sau sự việc ấy, gã cho xe tải chạy chậm lại để chỉ cho cô cái chỗ trên hàng rào nơi gã đã treo xác con chim, như là một chiến tích, hoặc một lời cảnh cáo. Hẳn trên gương mặt cô lúc đó đã lộ vẻ ghê tởm, vì gã chửi thề và nhấn ga cho xe vọt nhanh, chẳng nói chẳng rằng suốt năm mươi dặm đường còn lại.

Emma thả một miếng thịt cừu muối vào nồi, gọt những củ cà rốt già đầy xơ, rồi mang đống vỏ và một ít lát bánh mì ra cho con gà mái ngờ nghệch sống trong khoảng sân nuôi tồi tàn. Khi cô bắt đầu nghiền khoai tây, cô có thể nghe tiếng xe tải nghiến ken két trên mặt đường, và khi đã hùng hục từng bước một vào nhà thì bữa ăn được dọn sẵn trên bàn và cô đang cắt bánh mì.

Gã ngồi phịch xuống ghế, đẩy ngược mũ ra sau, cầm lấy dao nĩa với một tiếng ư hự đầy thoả mãn. Họ ăn trong im lặng, chỉ nghe thấy tiếng dao nĩa lanh canh trên đĩa tráng men; chỉ có một lần gã dùng dao trỏ về hướng ổ bánh mì, thế là cô cắt cho gã một lát bánh nữa. Cuối cùng gã với tay lấy ấm nước, thận trọng tu một ngụm trà, đẩy ghế lui dựa vào tường và gác chân lên bàn. Gã chằm chằm nhìn cô hồi lâu, trề môi và gõ mấy ngón tay vào mép bàn. Đoạn gã ngồi thẳng người lại.

“Tôi nhìn thấy con đại bàng ấy chết trên xác một con cừu.” Gã nói.

Linh tính về một điềm gở đã biến ngụm thức ăn trong miệng cô thành một thứ tro vô vị khô khốc. Cô chờ đợi, nhìn chằm chằm vào đĩa thức ăn.

“Không đi kiểm tra cái cối xay gió ở phía nam trại lúc trên đường về thì cũng đã chẳng phát hiện ra nó,” gã nói. “Làm thế mà lại hay.”

Cô nhìn gã, trong lòng thầm cầu nguyện Đấng Tối Cao vô hình nào đó để sao sự thật sẽ hoá ra không phải là cái điều mà cô đang ngờ vực. Gã bắt gặp cái nhìn của cô, trong tia mắt gã như có cái gì như thủ thế, rồi gã mỉm cười lạnh lùng. “Một phát là xong ngay.” gã nói. “Tôi đã chờ cả năm nay rồi mới khử được cái giống súc sinh ấy. Biết đâu từ rày sẽ gặp may hơn”.

Nỗi ớn lạnh trong cô tăng lên, tràn ăm ắp, cô nghiến răng để cho chúng khỏi đánh vào nhau cầm cập.

“Anh không cần phải giết nó.” Cuối cùng cô nói.

“Xong hết rồi.” Gã nói. Dẹp cái chuyện này đi.

Gã bước ra khỏi phòng, cúi xuống vỗ vỗ vào con chó cái già nua rồi huýt sáo đi về phía chiếc xe tải. Cô nghe tiếng lách cách của những chiếc mỏ-lết, tiếng động cơ rú lên và gã đánh xe đi mất.

Cô ngồi im lặng hồi lâu, nhìn sững qua cửa sổ thấy cái lấp lánh mờ nhạt của hồ nước mặn ở cuối rìa bình nguyên. Cô hình dung thấy sự sống của mình đang trôi tuột dần qua các kẽ ngón tay như là đất bột, mặt đất khô cằn đã hút hết sức sống của cô, từng giọt, từng giọt một, giống như cát thấm hết nước mưa. Dần dà ngày tháng qua đi, cô thu nhỏ dần lại; nếu cô tiếp tục ở đây thì chẳng mấy chốc sẽ chẳng còn sót lại tí gì cái con-người-Emma, còn chăng chỉ là chiếc bóng đen, để rồi biến mất trong cõi bao la khốn cùng chung quanh cô. Một giờ, có lẽ rồi hai giờ trôi qua. Xa xa một đám bụi vàng bốc lên rồi lớn dần lên thành đám mây bụi cuồn cuộn đằng sau chiếc xe chở thư. Khi xe ngừng ở cổng, cô đi vào phòng ngủ lôi cái va-li từ dưới gầm giường ra và nhét vào đó chút của cải ít ỏi của mình. Cô nghe thấy tiếng những chiếc phuy xăng va vào nhau khi lăn đi và tiếng thình thịch của những cái thùng các-tông. Cô nhét tiền vào va-li, chỉ để lại một ít đô-la trong túi và bước về chiếc xe tải.

“Có chỗ cho một người về phố không?” cô hỏi.

“Nếu cô chịu khó ngồi với một người thổ dân.” người đưa thư nói, kéo va-li của cô đặt vào thùng xe.

Khi họ chạy trên đường, ngang qua chỗ con đại bàng bị treo xác như bị đóng đinh vào thập giá, trên dãy hàng rào dây thép bên cạnh di hài tả tơi của bạn nó. Cô nhìn đôi cánh đã bị căng ra, đôi cánh mà giờ đây không còn lướt bay trên gió nữa hay nâng lên tấm thân của loài chim uy nghi này về hướng mặt trời bằng một vòng bay xoắn trôn ốc. Dù rằng đường bay của nó đã bị cắt đứt, cái chết của con đại bàng đã mang lại sự sống đích thực cho cô, đã giải thoát cho cô để cô thử bay trên đôi cánh chính mình với thế giới ngoài kia.

Cô ngoái nhìn lại chặng đường đã qua, rồi ngước mắt nhìn lên hướng núi, hoài tưởng những đôi cánh đại bàng và đường bay kỳ vĩ trong đời.

PHẠM TƯỜNG HÂN dịch
(TCSH63/05-1994)

 

 

Các bài đã đăng
Nụ hôn (24/07/2026)
Champoon (08/07/2026)
Sau đám tang (09/04/2026)
Thái thú Nam Kha (20/11/2025)
Quả chanh (10/11/2025)
Vườn Kew (22/09/2025)